BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Cao Bá Quát - cuộc đời và sự nghiệp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 14h:50' 22-04-2025
    Dung lượng: 235.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Cao Bá Quát, cuộc đời và sự
    nghiệp
    Bùi Thụy Đào Nguyên
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Phần I


    Phần II



    https://thuviensach.vn

    Bùi Thụy Đào Nguyên
    Cao Bá Quát, cuộc đời và sự nghiệp
    Phần I
    Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

     
     
    Cao Bá Quát (1809? – 1855), tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt
    hiệu là Mẫn Hiên. Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (nay thuộc thị
    xã Sơn Tây, Hà Nội), và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong văn
    học Việt Nam.

    I. Thân thế & sự nghiệp:

    Cao Bá Quát, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã

    https://thuviensach.vn

    Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Ông là con Cao Tửu Chiếu,
    tuy không đỗ đạt nhưng là một nhà nho khá nổi danh; và là em (song sinh)
    với Cao Bá Đạt (cha Cao Bá Nhạ, tác giả Tự tình khúc).

    Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ
    thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm 14 tuổi, ông trúng tuyển kỳ
    thi khảo hạch ở Bắc Ninh. Năm Tân Mão (1831) đời vua Minh Mạng, ông
    thi hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển,
    thì bị bộ Lễ kiếm cớ [1] xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người
    đỗ Cử nhân. Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào
    kinh đô Huế dự thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng.

    Năm 1841, lúc này ông đã 32 tuổi, mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử
    lên triều đình, triệu vào Huế để nhận một chức tập sự ở bộ Lễ (Hành tẩu).
    Tháng 8 năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một
    số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là
    Phan Nhạ rồi lấy son hòa muội đèn chữa giúp 24 quyển . Việc bị phát giác,
    Giám trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị
    kết vào tội chết. Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ
    tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh.

    Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, ông được triều đình tạm tha, nhưng
    phải đi xuất dương hiệu lực (để lấy công chuộc tội) trong phái bộ do Đào
    Trí Phú làm trưởng đoàn. Phái đoàn ông đi sang Batavia (Indonesia) và
    Campuchia với mục đích chính là đem đường bán cho nước ngoài để mua
    về những hàng xa xỉ cho triều đình.

    Vào tháng 8 năm 1844, đoàn thuyền của phái bộ về đến Việt Nam, và sau
    đó Cao Bá Quát được gọi về bộ Lễ. Ở đây không lâu, ông bị thải hồi về
    quê. Trước đây, ông vốn ở phố Hàng Ngang (nay gần phố Nguyễn Thái
    Học), năm 24 tuổi ông vào kinh thi Hội, thì vợ ông ở nhà đã xin phép cha
    chồng cho sửa lại một ngôi nhà gần Cửa Bắc về phía Hồ Tây và Hồ Trúc
    Bạch.

    Về Hà Nội, ông dạy học nhưng luôn sống trong cảnh nghèo và bệnh tật [2]
    Ở đây những lúc rỗi, ông thường xướng họa với các danh sĩ là Nguyễn Văn
    Siêu, Trần Văn Vi, Diệp xuân Huyên...

    https://thuviensach.vn

    Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào kinh (1847)
    làm ở Viện Hàm lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Được hơn một
    tháng, ông nhận lệnh đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về công việc cũ. Thời
    gian ở kinh lần này, ông kết thân với các văn nhân như Nguyễn Hàm Ninh,
    Đinh Nhật Thận, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Trinh...và
    ông đã gia nhập Mạc Vân Thi xã do hai vị hoàng thân này sáng lập.

    Năm 1851[3], không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát phải
    rời kinh đô Huế đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ). Một lần
    nữa, ông lại trở về quê để cùng khổ với dân, để suy nghĩ thêm về những
    chính sách hà khắc của triều đình, để thêm quyết tâm đánh đổ nó.

    Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học. Gặp lúc vùng
    Sơn Tây bị hạn nặng, lại có nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch,
    đời sống người dân hết sức đói khổ. Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân,
    khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo (tự lãnh chức Quốc
    sư) cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây), do Lê Duy Cự làm “Minh
    chủ”.

    Đang trong quá trình chuẩn bị, thì việc bị bại lộ. Trước cục diện này, Cao
    Bá Quát đành phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854. Buổi đầu cuộc
    khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Ứng Hòa, Thanh Oai...Nhưng sau
    khi quan quân triều đình tập trung đông đảo và tổ chức phản công thì nghĩa
    quân liên tiếp bị nhiều thiệt hại.

    Tháng Chạp năm Giáp Dần (tháng Chạp năm này rơi vào năm dương lịch
    1855), sau khi bổ sung lực lượng (chủ yếu là người Mường và người Thái ở
    vùng rừng núi Mỹ Lương), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên
    Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh chiến.
    Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà
    Nguyễn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận.
    Tiếp theo, thủ lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt
    sa vào tay đối phương (sau, cả hai đều bị chém chết). Ngoài những thiệt hại
    này, hơn trăm nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị
    bắt.

    Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp
    https://thuviensach.vn

    của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống
    sông.

    II. Tác phẩm:

    Ngay khi Cao Bá Quát tham gia cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây),
    các tác phẩm của ông đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ
    và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên
    soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát, đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện
    Khoa học kĩ thuật trung ương (Hà Nội), và sau khi loại trừ những bài chắc
    chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên
    ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán.

    Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể
    ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này
    về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa
    cùng (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều
    hơn, được tập hợp trong các tập:

    -Cao Bá Quát thi tập

    -Cao Chu Thần di thảo

    -Cao Chu Thần thi tập

    -Mẫn Hiên thi tập

    III. Sự nghiệp văn chương:

    Tuổi trẻ của Cao Bá Quát được ghi lại bằng hàng loạt bài thơ tràn đầy khí
    phách (Tài mai [Trồng mai], Thanh Trì phiếm châu nam hạ [Từ Thanh Trì
    buông thuyền xuôi nam], Quá Dục Thúy Sơn [Qua núi Dục Thúy]...). Trích
    hai câu trong bài Quá Dục Thúy Sơn:

    Ngã dục đăng cao

    Hạo ca ký vân thủy

    Dịch:

    Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất

    Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước...

    Nhưng rồi, mấy lần khăn gói vào Huế thi đều bị hỏng, nên mộng khoa cử
    đã tan. Năm 32 tuổi, lần đầu ông được bộ làm một chức quan nhỏ (Hành
    tẩu bộ Lễ). Ở đây, ông bắt đầu cảm thấy nhục chí và bế tắc khi nhìn thấy
    https://thuviensach.vn

    cảnh thối nát, bất công và hèn yếu của nhà Nguyễn. Đến khi bị tù, bị tra tấn
    vì chữa những quyển thi, ông càng đau khổ, uất ức và căm thù cái triều
    đình ấy (Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư [Nơi nhà giam nhân việc cảm
    xúc phóng bút viết ngay], Trường giang thiên [Một thiên vịnh cái gông
    dài], Đằng tiên ca [Bài ca cái roi song], Độc dạ cảm hoài [Ban đêm một
    mình cảm nghĩ]...). Trích mấy câu trong Trường giang thiên (dịch):

    Gông dài!

    Gông dài!

    Mày biết ta chăng?

    Ta chẳng có gì đáng hợp với mày cà!

    Mày biết thế nào được ai phải ai trái!

    Mày chẳng qua chỉ là cái máy làm nhục người đời mà thôi...

    Sau thời gian dương trình hiệu lực, Cao Bá Quát bị thảy về quê quán. Ông
    càng có nhiều dịp tiếp xúc với đời sống của nhân dân. Những cảnh người
    dân vì túng thiếu đói rét, phải đi xin ăn hay những cảnh họ bị bắt phu bắt
    lính...đều đã làm ông đau xót, day dứt (Cái tử [Người ăn xin], Phụ tương tử
    [Người vác hòm], Quan chẩn [Xem phát chẩn]...).

    Đứng trước những cảnh tình ấy, cộng thêm nỗi đau của bản thân, cuối cùng
    đã dẫn ông đến những ý nghĩ hành động:

    Ta đã không nỡ nghe mãi bài thơ Hoàng Điểu nói lên cảnh ly tán của nhân
    dân do chính sự hà khắc, thì lẽ nào chỉ chịu gửi gắm mãi tâm sự vào khúc
    ngâm của Gia Cát Lượng khi chưa ra giúp đời (trích bản dịch bài Ngẫu
    nhiên nằm mơ đến thăm ông Tuần phủ...)

    Tuy nhiên, mãi đến lần Cao Bá Quát bị đổi về làm Giáo thụ ở Quốc Oai, thì
    suy nghĩ mới trở thành quyết tâm đứng lên đánh đổ nhà Nguyễn (Đối vũ
    [Nhìn mưa], Trích Tống Nguyễn Trúc Khê xuật lỵ Thường Tín kiêm trí Lê
    Huy vĩnh lão khê [Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường
    Tín, đồng thời gửi cho ông bạn già là Lê Huy Vĩnh]...). Trích giới thiệu:

    Mặt trời đỏ lẩn đi đàng nào?

    Để dân đen than thở mãi...

    (trích Đối Vũ)

    Và:

    https://thuviensach.vn

    Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song,
    giữ vững cương thường.

    Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành,

    Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương.

    Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhục cả khí phách,

    Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết,

    Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ (Chu Văn An và Nguyễn
    Trãi),

    Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi…

    (Trích bản dịch nghĩa bài Tống Nguyễn Trúc Khê xuật lỵ Thường Tín kiêm
    trí Lê Huy vĩnh lão khê).

    Trích đánh giá trong Từ điển văn học (bộ mới):

    Cao Bá Quát là một nhà thơ rất có bản lĩnh. Từ những tác phẩm đầu tiên
    đã thấy lòng tin của nhà thơ vào ý chí và tài năng của mình. Ông sống
    nghèo, nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng uốn gối để được giàu sang, và
    tin rằng mình có thể tự thay đổi đời mình.

    Đến khi làm quan, muốn đem tài năng ra giúp đời, nhưng rồi Cao Bá Quát
    sớm nhận ra rằng vấn đề không hề đơn giản như ông tưởng.

    Có những lúc cảm thấy bất lực trong việc thay đổi, ông muốn hưởng nhàn,
    vào hưởng lạc như Nguyễn Công Trứ. Thế nhưng mỗi khi nghĩ đến những
    người cùng khổ bị áp bức, ông lại thấy cách đó là không thể, mà phải tìm
    một con đường khác. Cuối cùng, con đường mà ông chọn là đến với phong
    trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.

    Ngoài những chủ đề nêu trên, ông còn viết về vợ con, bè bạn, học trò và
    quê hương. Bài nào cũng thắm thiết, xúc động. Ông cũng có một số bài đề
    cao những anh hùng trong lịch sử, để qua đó thể hiện hoài bão của mình.
    Ông cũng có một số bài thơ viết về chuyện học, chuyện thi mà ông cho rằng
    chỉ là chuyện "nhai văn nhá chữ". Trong dịp đi sang Indonesia, ông cũng
    có những bài thơ phản ảnh cảnh bất công giữa người da trắng với người
    da đen...

    Về mặt nghệ thuật, Cao Bá Quát là một nhà thơ trữ tình với một bút pháp
    đặc sắc. Ông làm thơ nhanh, có lúc "ứng khẩu thành chương", nhưng vẫn
    https://thuviensach.vn

    thể hiện được cảm xúc vẫn dồi dào và sâu lắng. Và mặc dù hình tượng
    trong thơ ông thường bay bổng, lãng mạn, nhưng trong những bài viết về
    quê hương thì ông lại sử dụng rất nhiều chi tiết hiện thực gợi cảm. Ngoài
    ra, đối với thiên nhiên, ông cũng hay nhân cách hóa, coi đó như những
    người bạn tri kỷ tri âm...(tr.209)

    Trích thêm một số nhận xét khác:

    -GS. Dương Quảng Hàm:

    Cao Bá Quát là một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ cao kỳ.

    -GS. Thanh Lãng:

    Tư tưởng độc lập của Cao Bá Quát khác cái chí nam nhi của Nguyễn Công
    Trứ. Ông Trứ lập nghiệp là để giúp vua, để chu toàn nghĩa quân thần; còn
    ông Quát mang cả cái mộng thay đổi thời cuộc và chuyển vần số mệnh...Về
    mặt nghệ thuật, sở trường của ông là thể phú và thể ca trù. Hai thể này, với
    ông đã vươn tới một trình độ nghệ thuật tuyệt vời. Có điều ông hay lạm
    dụng chữ nho và điển tích, vì vậy có thua kém Nguyễn Công Trứ về thể loại
    ca trù.

    -Thi sĩ Xuân Diệu:

    Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và tinh thần phản
    kháng. Còn triết lý của ông chính là bền bĩ phục vụ cho đời.

    -Sách Văn học 11 và Ngữ văn 11 (nâng cao):

    Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn. Thơ ông phong phú trong nội dung cảm
    hứng: tình cảm thiết tha gắn bó với quê hương xứ sở, với người thân, sự
    đồng cảm nhân ái với những con người lao khổ; niềm tự hào với quá khứ
    lịch sử dân tộc và có thái độ phê phán mạnh mẽ đối với triều chính đương
    thời.

    Đặc biệt qua thơ văn, Cao Bá Quát còn bộc lộ một tâm hồn phóng khoáng
    và một trí tuệ sáng suốt tiếp nhận những hương vị, những màu sắc mới lạ
    khác với cái nhìn truyền thống.

    Nhờ tất cả những điều ấy mà thơ văn ông mới mẻ, phóng khoáng, chú trọng
    tình cảm riêng của con người, được người đương thời rất mến mộ. Xét về vị
    trí lịch sử, ông là nhà thơ lớn sáng tác bằng chữ Hán kế sau Nguyễn Du
    [4].

    https://thuviensach.vn

    VI. Vài vấn đề liên quan:

    4.1. Năm sinh, năm mất:

    Về năm sinh của Cao Bá Quát, sử sách triều Nguyễn không ghi ngày sinh
    của Cao Bá Quát. Khẳng định ông sinh năm 1809 là căn cứ vào bài “Thiên
    cư thuyết” của ông. Trong bài có chỗ viết: "Với cái tuổi ta mới hai kỷ mà
    núi sông thành quách cũ, đã thấy thay đổi đến ba lần”. Cuối bài ghi:
    “Tháng mạnh thu, năm Nhâm Thìn, Chu thần thị viết bài thuyết này”. Năm
    Nhâm Thìn tức là năm 1832 - nếu ông đủ hai kỷ tức 24 tuổi (tính theo âm
    lịch) thì tức là ông sinh năm Kỷ Tỵ, Gia Long thứ 8 (1809).

    Về năm mất, có một vài tác giả cho rằng Cao Bá Quát mất năm 1854.
    Nhưng theo tác giả Trần Công Nghị thì:

    Sự thực, Cao Bá Quát mất ngay tại trận tiền vào tháng Chạp năm Giáp Dần.
    Sở dĩ có sự nhầm lẫn là vì khi đổi qua dương lịch là năm 1854. Các nhà
    nghiên cứu ấy quên rằng tháng Chạp năm Giáp Dần chuyển qua dương lịch
    như sau: Ngày 01 tháng Chạp, năm Giáp Dần nhằm ngày 18 tháng 01 năm
    1855. Ngày 30 tháng Chạp, năm Giáp Dần nhằm ngày 16 tháng 02 năm
    1855. Như vậy nguyên tháng Chạp năm này đều rơi vào năm 1855. Cho
    nên, năm qua đời của Cao Bá Quát phải ghi là năm 1855 mới đúng.

    4.2. Những giai thoại:

    Hiện vẫn còn tồn tại nhiều giai thoại liên quan đến nhân cách và tài thơ của
    Cao Bá Quát (như Bịa thơ tài hơn vua, Chữa câu đối của vua, Cá nuốt
    người- người trói người, Trên dưới đều chó, Câu thơ thi xã v.v…). Tuy
    nhiên, theo GS. Vũ Khiêu thì đa phần chúng đều thiếu căn cứ và chưa được
    xác minh. Bởi vậy theo ông chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng
    tư tưởng cùng hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội,
    diễn biến trong cuộc đời và trong thơ văn của ông mà thôi. Ở một đoạn
    khác, giáo sư lại viết:

    Khác với một số giai thoại có ý nói Cao Bá Quát là một con người kiêu
    căng, ngỗ ngược; và qua số một bài thơ cùng bài hát nói được gán cho ông,
    có người còn muốn coi ông là kẻ thích hưởng lạc, chè rượu, trai gái… Trái
    lại, qua cuộc đời và thơ văn ông, chỉ thấy ông là một người biết giữ gìn
    phẩm hạnh, đối xử đúng mực với cha mẹ, anh em, vợ con, hàng xóm và
    https://thuviensach.vn

    biết yêu quí đất nước, quê hương.

    Đề cập đến Trần tình văn [5] của Cao Bá Nhạ, theo giáo sư thì rất có thể
    người cháu này đã đỗ lỗi cho chú để minh oan cho mình.

    V. Thơ liên quan:

    Không chỉ tác phẩm của Cao Bá Quát bị thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành;
    mà những bài thơ của các tác giả khác có nói đến ông đều không được in ấn
    hay phổ biến. Sau đây là hai bài thơ còn sót lại:

    Nghe tin Cao Bá Quát bị bắt đi hiệu lực, buồn rầu Thương Sơn công (tức
    Tùng Thiện Vương) đã làm bài thơ như sau:

    Giữa đất trời một tấm thân khốn khổ

    Nơi chân trời chỉ có hình và bóng tự thân thiết với nhau.

    Vườn cũ, ba lối cúc tùng hoang lấp

    Đêm tàn, trong sương gió nhớ hai người.

    (Nghĩ đến chuyện) sừng ngựa không mọc, luống rơi nước mắt

    Muốn bói ngày về lại chẳng có nguyên do

    Tình bạn bè vì ông, ngoảnh nhìn về phương Nam lo lắng

    Ngày này bao lần trông được ân xá.

    (Dịch nghĩa bài Tặng Cao Bá Quát) [6]

    Nghe tin ông mất, bạn ông là danh sĩ Nguyễn Văn Siêu có bài thơ truy
    điệu, được dịch ra rằng:

    Đàn còn bên vách, sách bên màn

    Một giấc nghìn thu bặt tiếng vang,

    Điên đảo non sông nhòa lối cũ,

    Âm thầm đất nước ngấm bi thương.

    Duyên văn đã kết đây cùng đó,

    Nghĩa cũ dù ai nhớ chẳng buồn!

    Đạo học tỏ mờ chưa dễ biết,

    Cửa người khép nép mãi sao đương [7].

    Sau này, khi đọc tập thơ Cao Bá Quát, nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã cảm
    khái làm ba bài thơ đề hậu, trích một:

    Ừ, thế non sông mới thấy tài,

    https://thuviensach.vn

    Tài cao há lẽ núp như ai.

    Xung lên, trời muốn hai tay đấm,

    Hứng tới, vời toan một cẳng bơi.

    Mây gió xoay tròn đầu ngọn bút,

    Càn khôn chốt lỏng nửa tròng ngươi.

    Khí thiêng đất nước còn nguyên đó,

    Chín suối ai ơi đứng dậy cười! [8]

    Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn

    Chú thích:

    [1] GS. Phạm Thế Ngũ giải thích: Vì ông không chịu khuôn phép trường
    quy. Như có lần, ông viết quyển thi bằng bốn kiểu chữ: chân, thảo, triện, lệ.
    Ngoài ra, văn ông rất có khí phách ngang tàng. Bởi vậy, mà các khảo quan
    đâm ra ghét và tìm cách đánh hỏng (sách đã dẫn, tr. 438).

    [2] Nhà ông có lúc không có gạo thổi cơm chiều (Bữa chiều không cơm,
    viết đùa ghi việc). Ông bị bệnh đái ra máu, chạy chữa cả năm mới khỏi.
    (Chi tiết chép theo Thơ văn Cao Bá Quát, tr. 235).

    [3] Năm Cao Bá Quát rời kinh nhận chức Giáo thụ ghi theo Xuân Diệu (tr.
    13). Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học ghi năm 1852 (bộ mới, tr. 209).
    Phạm Thế Ngũ ghi 1854 (tr. 445). Thái Vũ (tr. 142) và Nguyễn Anh (tr.
    272) đều ghi năm 1950.

    [4] Văn học lớp 11 (tập 1. Nxb Giáo Dục, 2003, tr. 19) và Ngữ văn 11 (tập
    I, lớp nâng cao. Nxb Giáo dục, 2007, tr. 45.

    [5] Trích Trần tình văn:

    Chú tôi (tức Cao Bá Quát) cậy tài càn rỡ, vốn tính ngông cuồng, thường bè
    bạn với bọn rượu chè, kết giao với con buôn, tiếng là ở nhà nuôi mẹ, nhưng
    thật ra đạo thần tôn vẫn còn thiếu sót. Vả lại túng thiếu đâm ra liều, xoay ra
    lối kinh doanh trục lợi. Bạn bè khuyên răn thì cãi lại, anh (tức Cao Bá Đạt)
    ngăn bảo thì xé cả thư. Cho nên bạn bè vì thế mà tuyệt giao, gia đình vì thế
    mà sinh bất mục...

    [6] Sừng ngựa không mọc (Mã giác bất sinh): Theo Sử ký, Thái tử Đan
    nước Yên phải sang Tần làm con tin. Vua Tần bảo: Chỉ khi nào quạ trắng
    https://thuviensach.vn

    đầu, ngựa mọc sừng mới cho về. Xem nguyên tác bằng chữ Hán trong Thơ
    Tùng Thiện Vương (sách đã dẫn, tr. 51). Cũng theo sách này thì bài thơ
    không được in trong Thương Sơn thi tập. Sở dĩ tồn tại là vì trước đó nó đã
    được đưa vào tập Phong nhã thống biên do vua Tự Đức sai soạn để tặng
    cho sứ bộ nhà Thanh.

    [7] Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) và Cao Bá Quát đã được vua Tự Đức
    khen ngợi qua câu thơ: Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, có nghĩa văn như
    ông Siêu và ông Quát, thì đến văn đời Tiền Hán cũng không có giá trị gì.
    Xem nguyên văn bài thơ chữ Hán trong sách Từ điển nhân vật Việt Nam do
    Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn (Nxb KHXH, Hà Nội,
    1992, tr. 68).

    [8] Chép theo Thơ văn Phan Bội Châu. Nxb Văn học (do Chương Thâu
    biên soạn & giới thiệu), 1985, tr. 285.

    Sách tham khảo chính:

    -Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất
    bản, Sài Gòn, 1968.

    -Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học giản ước tân biên (quyển trung). Quốc
    học tùng thư, Sài Gòn, 1963.

    -Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển thượng). Nxb Trình
    bày, không ghi năm xuất bản.

    -Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới, mục từ do Nguyễn Lộc
    soạn). NXb Thế giới, 2004.

    -Nhiều người soạn, Thơ văn Cao Bá Quát. Nxb Văn học, 1984.

    -Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập 2). Nxb Văn học, 1987.

    https://thuviensach.vn

    Bùi Thụy Đào Nguyên
    Cao Bá Quát, cuộc đời và sự nghiệp
    Phần II
    Khởi nghĩa Cao Bá Quát
    Khởi nghĩa Cao Bá Quát hay Khởi nghĩa Mỹ Lương (sử cũ gọi là Giặc
    Châu Chấu [1]) là tên gọi một cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Cự làm Minh
    chủ, Cao Bá Quát (1809-1855) làm Quốc sư, đã nổ ra tại Mỹ Lương thuộc
    Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội, Việt Nam).
    Theo GS. Nguyễn Phan Quang, tuy cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại trong
    khoảng hai năm (1854-1856), nhưng chứng tỏ rằng cho đến giữa thế kỷ 19,
    phong trào chống triều Nguyễn không hề lắng dịu và sẽ còn tiếp tục trong
    những năm sau đó với khởi nghĩa Cai Tổng Vàng, khởi nghĩa Chày Vôi....
    I.Bối cảnh:
    Đến giữa thế kỷ 19, nền kinh tế Việt Nam hết sức suy đốn trì trệ. Thêm vào
    đó, là các nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, sự tham
    nhũng của nhiều quan lại, chế độ tô thuế và lao dịch khắc nghiệt; là các nạn
    bão lụt, hạn hán, ôn dịch và vỡ đê xảy ra luôn. Tất cả đã đẩy người dân lao
    động xuống tận đáy khốn cùng. Một bài vè lưu hành ở thời vua Tự Đức có
    đoạn mô tả cảnh đói khổ, lưu vong của dân như sau (trích):

    Cơm thì chẳng có

    Rau cháu cũng không

    Đất trắng ngoài đồng

    Nhà giàu niêm kín cổng

    Còn một bộ xương sống

    Vơ vất đi ăn mày

    Ngồi xó chợ lùm cây

    Qua kêu vang bốn phía

    Xác đầy nghĩa địa

    Thây thối bên cầu

    https://thuviensach.vn

    Trời ảm đạm u sầu

    Cảnh hoang tàn đói rét

    Dân nghèo cùng kiệt

    Kẻ lưu lạc tha phương

    Người chết chợ chết đường...

    ...Là cái thời Tự Đức.

    Cuối cùng những nỗi hờn căm vì bị bốc lột, bị áp bức...biến thành những
    làn sóng đấu tranh quyết liệt của nhân dân lao động ở nhiều miền trên đất
    nước, chống lại chế độ thống trị của nhà Nguyễn. Chỉ tính riêng khoảng
    thời gian từ 1847 đến 1862, tức trước khi vua Tự Đức ký hòa ước nhường
    cho Pháp 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, đã có hơn 40 cuộc nổi dậy, trong đó có
    cuộc khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854-1856) ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) là
    tiêu biểu nhất.

    II. Nguyên nhân trực tiếp:

    Năm 1851[2], không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát phải
    rời kinh đô Huế đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Một lần nữa,
    ông lại trở về quê để cùng khổ với dân, để suy nghĩ thêm về những chính
    sách hà khắc của triều đình và thêm quyết tâm đánh đổ triều đình.

    Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học. Vào tháng 6,
    tháng 7 năm ấy tại miền Bắc, châu chấu bay mù trời, lúa má bị chúng cắn
    sạch, nạn đói hoành hành, mọi người đều ta thán.

    Theo một số nhà nghiên cứu thì nhân lúc ấy, Cao Bá Quát đã đứng lên tụ
    tập nhân dân (hoặc tham gia lãnh đạo) bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa
    chống Nguyễn tại Hà Nội. Đề cập đến vấn đề này, GS. Nguyễn Phan Quang
    viết:

    Thực ra, cũng như bao sĩ phu khác, Cao Bá Quát vào đời bằng con đường
    khoa cử và muốn giúp đời bằng con đường làm quan, nhưng càng ngày ông
    càng cảm thấy bế tắc. Hàng ngày, ông nhìn thấy bao cảnh đói khổ của
    nông dân và bất công của xã hội. Tuy có lúc ông tỏ ra bi quan chán nản,
    nhưng vốn tính kiên cường, ông không thể tìm lối thoát nào khác ngoài con
    đường vùng dậy đấu tranh. Và cuộc khởi nghĩa do chính ông vận động và
    tổ chức là một hệ quả tất yếu.

    https://thuviensach.vn

    .
    III. Diễn biến:

    3.1 Chuẩn bị:

    Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân như vừa nêu sơ lược ở phần trên,
    Cao Bá Quát bí mật liên hệ với những thổ mục người dân tộc ở Tây Bắc là
    Vũ Kim Thanh, Đinh Công Mỹ, Bạch Công Chân... Rồi dựa vào lòng
    người còn tưởng nhớ tới nhà Lê, ông suy tôn một người thuộc dòng dõi ấy
    làm minh chủ đó là Lê Duy Cự, còn tự mình lãnh chức Quốc sư.

    Để nêu rõ ý nghĩa của cuộc nổi dậy, ông cho thêu hai dòng chữ lớn trên lá
    cờ, đó là:

    Bình Dương, Đồ Bản vô Nghiêu Thuấn;

    Mục Dã, Minh điều hữu Võ Thang.

    Tạm dịch:

    Ở Bình Dương và Đồ Bản không có những ông vua tốt như vua Nghiêu,
    vua Thuấn;

    Thì ở Mục Dã, Minh Điều phải có những người như Võ Vương, Thành
    Thang nổi dậy.

    Chẳng bao lâu sau, ông tập hợp được một lực lượng đông đảo, chủ yếu là
    những nông dân nghèo khổ ở miền xuôi và trung du. Ngoài ra, còn có mặt
    của giới trí thức, giới võ quan và lang đạo Mường, như: Tiến sĩ (năm 1838)
    Đinh Nhật Thận (người Nghệ An, nguyên là Hàn lâm biên tu), Vũ Văn
    Đống, Vũ Văn Úc (cả hai đều là người Hưng Yên, học trò của Cao Bá
    Quát), Nguyễn Kim Thanh (hào mục), Đinh Công Mỹ (Lang đạo Mường),
    Nguyễn Hữu Vân (Suất đội thủy vệ Hà Nội), Bạch Công Trân (Suất đội cơ
    Sơn Dũng tỉnh Sơn Tây)...

    Công cuộc còn đang trong giai đoạn chuẩn bị, thì bị người tố giác. Vua Tự
    Đức liền lệnh cho Tổng đốc Hà Ninh Lâm Duy Hiệp (GS. Vũ Khiêu ghi
    Lâm Duy Thiết), Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi, hiệp cùng
    Tổng đốc Bắc Ninh là Nguyễn Quốc Hoan đi truy bắt "đảng nghịch".

    Để nhanh chóng đánh dẹp, nhà vua còn phái Vệ úy Hoàng thành Huế đem
    ngay một vệ lính tuyển phong, 15 võ sinh cùng 20 súng thần cơ ra ngay Hà
    Nội để hỗ trợ việc tiễu phạt.

    https://thuviensach.vn

    3. 2 Đối đầu:

    Trước cục diện này, Cao Bá Quát đang ở Bắc Ninh vội trở về Sơn Tây bàn
    ngày khởi sự. Do lực lượng ở các tỉnh chưa được chuẩn bị chu đáo, nên khi
    lệnh khởi nghĩa được phát ra thì chỉ có nghĩa quân ở Mỹ Lương (huyện Mỹ
    Lương tỉnh Sơn Tây, nay là phần đất phía Tây huyện Chương Mỹ Hà Nội
    và đất huyện Kim Bôi Hòa Bình) do Cao Bá Quát và Đinh Công Mỹ trực
    tiếp chỉ huy là kịp nổi lên.

    Trận mở đầu xảy ra vào tháng 11 âm lịch (1854) tại Ứng Hòa. Sau khi đánh
    chiếm được phủ thành này, Cao Bá Quát cho quân tiến lên hướng Bắc đánh
    chiếm luôn huyện lỵ Thanh Oai (cả hai đều thuộc Hà Nội). Nhưng chiếm
    giữ hai lỵ sở trên chỉ trong mấy ngày, sau đó ông cho chuyển hướng tấn
    công nơi khác.

    Tháng 12 âm lịch (1854), cánh trung quân do Đô thống Nguyễn Văn Tuân
    chỉ huy từ Thanh Oai tiến đến Hà Nội, thì gặp quân triều đón đánh ở khu
    vực xã Đồng Dương và Thạch Bích (cả hai đều thuộc huyện Thanh Oai
    thời nhà Nguyễn, nay là Đồng Mai Hà Đông và Bích Hòa Thanh Oai).
    Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân của đôi bên đều bị chết nhiều. Nhưng vì
    yếu kém hơn về người và vũ khí, nên sau đó cả đoàn nghĩa quân bị đánh
    tan, các thủ lĩnh là Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Huấn, Hoàng Đình
    Nho, Lê Văn Trường…đều lần lượt bị bắt.

    Cũng khoảng thời gian này, một cánh nghĩa quân khác đang trên đường tiến
    đánh huyện lỵ Kim Bảng (nay thuộc tỉnh Hà Nam), thì bị đoàn quân của
    Lãnh binh Lê Tố đón đánh tan ở chân núi Quyển Sơn bên bờ sông Đáy,
    cách huyện lỵ trên khoảng 4 km.

    Còn Cao Bá Quát sau khi cho quân rút khỏi Ứng Hòa và Thanh Oai, liền
    tiến đánh huyện Yên Sơn (Yên Sơn thời nhà Nguyễn) và vây phủ thành
    Quốc Oai. Đốt phá phủ thành xong, nghĩa quân đón đánh quân triều do
    Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi chỉ huy. Cuộc giao tranh nổ ra ác liệt tại làng
    Sài Sơn, cách phủ thành 4 km. Rồi cũng vì không cân sức, quân khởi nghĩa
    https://thuviensach.vn

    buộc phải rút lui về huyện Phúc Thọ thuộc phủ Quảng Oai. Bị truy đuổi,
    Cao Bá Quát lại cho quân vượt sông Hồng sang phủ Vĩnh Tường (tỉnh Sơn
    Tây thời nhà Nguyễn, nay thuộc Vĩnh Phúc).

    Tiếp theo, sau một lần tấn công đốt phá phủ thành Tam Dương ở địa phận
    xã Tích Sơn (ngoại vi thị xã Vĩnh Yên ngày nay), cánh quân chủ lực do họ
    Cao chỉ huy đã giảm sút nhiều, nên phải quay về Mỹ Lương hội quân với
    thủ lĩnh Bạch Công Trân, rồi cùng lo chấn chỉnh đội ngũ, lấy nghĩa binh
    miền núi bổ sung lực lượng.

    Trong khi đó, nhà vua điều thêm 500 lính từ Thanh Hóa đến Sơn Tây hỗ
    trợ, lại cử thêm Đô đốc Nguyễn Trọng Thao đang làm nhiệm vụ phòng giữ
    kinh thành Huế, ra Hà Nội trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp, và còn xuống dụ
    treo thưởng rằng: Không kể quan, quân, dân, dõng hoặc người theo bọn
    giặc; người nào bắt sống được Cao Bá Quát đem giải quan thì thưởng cho
    500 lạng bạc, giết chết thì thưởng 300 lạng, lại còn thưởng thụ chức hàm để
    khuyến khích.

    3.3 Tàn cuộc:
    Sau khi bổ sung lực lượng (chủ yếu là người Mường và người Thái ở vùng
    rừng núi Mỹ Lương), vào tháng Chạp năm Giáp Dần (tháng Chạp năm này
    rơi vào năm dương lịch 1855[9]), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ
    Yên Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh
    chiến. Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà
    Nguyễn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận.
    Tiếp theo, thủ lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt
    sa vào tay đối phương (sau, cả hai đều bị chém chết). Ngoài những thiệt hại
    này, hơn trăm nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị
    bắt. Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ
    cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng
    xuống sông.

    Mặc dù mất Quốc sư và nhiều thủ lĩnh, nhưng nghĩa quân vẫn cố hoạt động
    thêm một vài năm nữa. Trần Trọng Kim viết: Cao Bá Quát chết đi rồi, Lê
    Duy Cự còn quấy rối đến mấy năm sau mới dẹp yên được. Từ đó trở đi,
    không năm nào là năm không có giặc....

    https://thuviensach.vn

    Và sau lần tiến đánh không thành công ở huyện lỵ Phù Cừ (thuộc Hưng
    Yên), đến năm 1856, đội ngũ nghĩa quân đã gần như tan rã hẳn.

    Nhìn lại, cuộc khởi nghĩa chỉ mạnh mẽ ở cuối năm 1854 đến đầu năm
    1855. Sau những thắng lợi ban đầu ở Ứng Hòa, Thanh Oai, thì nghĩa quân
    bị đàn áp và khủng bố dữ dội, nên liên tiếp chịu nhiều thiệt hại. Sau trận
    thua ở Yên Sơn, Cao Bá Quát bị giết chết, sức chiến đấu của nghĩa quân kể
    như không còn gì. Trận Phù Cừ chỉ phản ánh những cố gắng cuối cùng của
    nghĩa quân mà thôi.

    IV. Lý do thất bại:

    Ở nửa đầu thế kỷ 19, cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, là một trong vài cuộc nổi
    dậy lớn, tuy ngắn ngủi nhưng có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Tuy nhiên, như
    nhiều cuộc nổi dậy trước và sau nó, mặc dù quyết liệt, nhưng vẫn đi đến
    thất bại.

    Theo nghiên cứu chưa đầy đủ, thì đây cũng chỉ là một cuộc nổi dậy mang
    đậm tính địa phương riêng rẽ, tổ chức chưa được chu đáo, chiêu bài phò Lê
    đã mất tính chất hấp dẫn, thiếu một phương thức chiến đấu, thế lực hào
    mục yếu ớt, vũ khí hãy còn thô sơ,...Vì lẽ ấy, cuộc khởi nghĩa sớm bị đập
    tan bởi sự trấn áp mạnh mẽ bằng quân sự của triều Nguyễn.

    V. Vài vấn đề liên quan:

    Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương và cái chết của Cao Bá
    Quát cũng đã gây được một tiếng vang lớn, và đã làm xúc động nhiều
    người. Vì vậy, có nhiều giả thuyết và giai thoại liên quan đến cuộc đời ông.

    5.1 Về vai trò Cao Bá Quát trong cuộc khởi nghĩa Minh Lương, hiện
    tồn tại hai ý kiến:

    •Một, ông chính là người khởi xướng. Theo ý này có Vũ Khiêu, Nguyễn
    Phan Quang,...

    •Hai, ông chỉ là người đi theo (hoặc được mời) rồi cùng tham gia lãnh đạo.
    Theo ý này có Trần Trọng Kim, Nguyễn Lộc, Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn
    Bá Thế, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Anh,...

    https://thuviensach.vn

    Một vấn đề nữa, đó là:

    Có người cho rằng Cao Bá Quát nổi dậy không phải vì thương dân mà chỉ
    vì bất mãn cá nhân, trong số này có sử gia Trần Trọng Kim. Ông viết:

    Cao Bá Quát có tiếng là người văn học giỏi ở Bắc Kỳ, mà cứ bị quan trên
    đè nén, cho nên bức chí, bỏ quan về đi dạy học, rồi theo bọn ấy (Lê Duy
    Cự) xưng là Quốc sư để dấy loạn ở vùng Sơn Tây và Hà Nội.

    Có người lại cho rằng ông làm loạn là do bất mãn vì địa vị (quan điểm của
    Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện), là do ông có tính tình ngỗ ngược, hay
    chửi đời, bị nhiều người ghét (quan điểm của Cao Bá Nhạ trong Trần tình
    văn [3]), của nhà văn Trúc Khê (trong Cao Bá Quát danh nhân truyện ký),
    là do ông bị ám ảnh “cái mộng đế vương” (không rõ tác giả, tập san Bách
    Khoa số 142, ra ngày 15 tháng 12 1962 tại Sài Gòn).

    Có người lại cho rằng Cao Bá Quát không có ý "làm phản"...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !