BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Chiếc Áo Xường Xám Màu Hoa Đào - Tuyển tập truyện ngắn Tô Hoài

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 10h:04' 11-05-2024
    Dung lượng: 669.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    ... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh diệu…
    Đồng chí Hùng Vương
    Tào Lường
    Du kích huyện
    Đi dân công
    Xuống làng
    Cứu đất cứu mường
    Vợ chồng A Phủ
    Vượt Tây Côn Lĩnh
    Mùa hái bông
    Thào Mỵ kể chuyện đời mình
    Sầm Sơn
    Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    ... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh
    diệu…
    (Thay lời giới thiệu)
    Trong tập tùy bút Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài được tác giả
    giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác tuyệt. Trong thăm thẳm bóng người có bóng ta. Có
    thăm thẳm bóng Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn đấy, “ đứng
    chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng ”, bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng
    Tô Hoài trong những tác phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút lực của hai ông, Đỗ
    Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
    Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
    in trong tập truyện ngắn này. Sau Giăng thề, đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. ( Dế mèn phiêu
    lưu ký đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang một chiếu khác). Trong
    Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ, hơi thở hùng tráng của lịch sử vừa kín đáo, vừa mãnh liệt chạm
    vào tình cảm sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta gặp lại đam mê của Tô Hoài
    quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường những tập quán ngành nghề, sinh
    hoạt mà tác giả miêu tả.
    Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
    “ Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa đám hội, vừa bay vừa cong
    cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi lên. Hai mươi
    bốn trai kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt voi rồi từ từ bò qua gò,
    vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng. ” (tr. 146)
    Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
    “ Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một Chạp đến tháng Giêng là “đầu giao”.
    Một Chạp hay “đầu giao”, áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất công phơi nhiều
    nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại phải lặn lội sang rừng khác, đã vào vụ
    dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại chính tuyết. ” (tr. 163)
    Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
    Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước sừng sững một tòa ngôn
    ngữ chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc” nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu văn thuộc
    loại “văn xuôi thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu văn tả tình
    cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi lấy chồng giầu mạn ngược:
    “Những lời hò vui mà thảm thiết:
    Ra khoang… em bước… qua cầu…
    Bến vui em đến…

    Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao cũng đi qua một trời sao ấy. Dù cho
    con người có cạn nước mắt rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền mong đến bến…
    Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề lặng ngắt. Những ngôi sao long
    lanh nhỏ lã chã những giọt nước mắt xuống thế gian…” (tr. 162)
    Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài lên phát biểu ý kiến, cả hội
    trường im phăng phắc. Trái với sự chờ đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn đàn chỉ
    để nói với các nhà văn trẻ một câu: “… chừng nào chưa phân biệt được “ mồm ” và “ miệng ” thì
    đừng có cầm bút… ”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo hức viết văn nên tìm đọc Chuyện đầm sen
    Đền Đồng Cổ , đọc xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà nó nghèo nàn, thảm
    hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự thức nhận hết sức có ích.
    Thăm thẳm bóng người trong tập truyện ngắn này:
    Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được nhà văn Tô Hoài trao cho bản
    thảo cuốn tiểu thuyết Đêm mưa “ một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu niệm
    “tiêu điều, ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu khắc nổi tiếng
    Điềm Phùng Thị),... “trong những tủ kính trang nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự họa của nhà điêu
    khắc”. (Hồi ký Tiểu thuyết đêm mưa)
    Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì chồng đi “đất đỏ Sài Goòng”
    mãi không trở về. ( Cô đào Thương)
    Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm xưa mới yên tâm nhắm mắt.
    ( Tình buồn)
    Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí tưởng tượng kỳ thú và hóm
    hỉnh của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký : Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột bạch, Một cuộc
    bể dâu, Mụ ngan…
    Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là truyện Vợ chồng A Phủ, còn gì
    giản dị và sâu sắc hơn tinh thần cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn với cuộc
    đời của các nhân vật.
    “ … Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn muốn khóc.
    Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục phường săn. Nhấn không khóc được.
    Nhưng từ đấy, trong đời chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu rừng nào
    có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng đuổi theo Nhấn .” ( Cứu đất cứu
    mường)
    Tập Chuyện để quên có những truyện rất “quý”, làm sống lại không khí hồ hởi hồn nhiên của
    những năm đầu kháng chiến, những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
    Truyện - ký Khiêng máy là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là cảnh đám công nhân nhà in
    báo “ Cứu quốc Việt Bắc” khiêng máy nghỉ lại ở lán.
    “… Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại bằng ống vầu tươi, người nằm
    người ngồi ngổn ngang. Một ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối… Tưởng như

    mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê ình oàng vào sương đêm, không
    biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào
    kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn
    uống cái gì ngon nhất, rồi lấy quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn,
    như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu. Lúc thì tranh nhau giá cả,
    bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng,
    gẩy đàn mồm, mãi khuya mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
    Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong vùng bị chiếm đóng.
    “Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang bụng. Cái cánh tay cụt giơ lên,
    cóng rét, bị nếp thừng kéo thít xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy thấm xuống tận nách
    áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này
    biết bao nhiêu người bì bõm cầy bừa, cấy hái quanh năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh gầm gừ
    tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường sắp xua nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn,
    thì những người làm đồng kiệt sức mới lục đục về làng.” (Người mất trí)
    Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học do
    anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi chậm, anh
    Tô Hoài quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ ba không biết còn
    chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia mới hết buổi. Nhưng không phải như vậy. Tô
    Hoài là một kho chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết chuyện, không
    riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì anh cũng biết, chuyện nào anh cũng nhớ
    vài ba chi tiết đặc sắc, rất quan trọng. Không riêng gì những thời kỳ gần đây, mà những chuyện
    thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và Văn hóa cứu quốc, những năm đầu
    kháng chiến... anh Tô Hoài vẫn nhớ và nhớ tường tận. Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại
    bao giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự chính xác: tên người, địa danh, niên đại, những
    sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai,
    không chính xác trong các bài báo, bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc nhưng tôi chưa
    thấy ai nêu những điều không chính xác trong những trang viết của anh. Duy có một lần
    Nguyễn Nguyên, một ký giả lão thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô
    Hoài có những chi tiết thần tình, phải là một người sành ăn thì miếng thịt chó ngon mới gọi là
    “đặm và phải chăng cái miếng thịt”. Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên Kiến
    thức ngày nay hồi năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là Tô Hoài chưa từng bước
    chân vào sòng xóc đĩa.”
    Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và cuộc đời”, tôi hình dung một
    lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không giống như những điều được trình bày trong những bộ sử
    đã công bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra thảm hơn, mà cũng
    lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần một lần không phải là nhiều vì đề tài nghiên cứu
    của chúng tôi có liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những chuyện anh Tô Hoài hồi tưởng
    và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người thật, việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là
    một nhân tố tiến bộ trong văn hóa, nhất là khi người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn
    những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và lịch sử xem ra cũng nể ngòi bút hồi ký của
    ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu thuyết phong tục có hạng, tác giả Cát bụi chân ai còn là

    một tác gia hồi ký bậc thày, vả chăng những truyện hay của Tô Hoài thường là mang tính chất
    hồi ký: Giăng thề (1943), Mười năm (1957 ), Tự truyện (1978), Ba người khác ... Anh Tô Hoài
    không thích nói chuyện sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên cứu
    thì thấy anh có đọc và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ công đọc sách là một biểu hiện
    đáng tin cậy của sự khiêm tốn, có thể giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không
    giả vờ được. Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương về Tiên Điền,
    Nghi Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội
    đồng giáo dục Trường Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi nhà
    văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu lên mồ rồi ông rót rượu vào
    cái chén ông cầm trên tay và uống cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước mặt mọi
    người. Tôi nghe tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống rượu”, “Tô Hoài
    cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ chữ Hán trong bài thơ Đối tửu của Nguyễn Du:
    Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
    Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
    Diễn nghĩa:
    Lúc sống không uống cạn hồ rượu
    Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
    Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh Tô Hoài cũng có chủ kiến riêng. Về
    vấn đề tranh luận: làm thơ bằng ý hay bằng chữ ? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ bằng chữ nhưng
    vấn đề là người làm thơ sống những chữ của mình như thế nào? Tôi thấy nói như vậy cũng là rõ
    và đủ. Đề tài của chúng tôi được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết mỗi vấn đề, trong nhóm
    đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết bài, sau đó anh Tô Hoài tổng kết.
    Tôi nghiệm thấy trong bài tổng kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ trình bày những chủ kiến riêng
    của anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định đưa ra những ý kiến hướng dẫn, dù là
    dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng tôi thấy cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có
    một buổi sinh hoạt nhóm tôi trình bày những ý kiến của tôi về văn hóa làng. Sang buổi sau anh
    Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn Hồng Phong về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc
    cuốn này chưa?”. Quả nhiên tôi chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề tài của
    tôi, không có nó nội dung bài viết của tôi sẽ kém phần “chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại
    ân nhân rất đáng quý nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc cuốn
    sách gì và đưa cho ta một cách hồn nhiên đúng cuốn sách ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở
    trong nước, loại ân nhân này rất hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ
    gặp hơn những người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có những cuốn sách mà
    Dan Duffy, Neil Jameison, François Jullien, Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)...
    cho tôi, những công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
    Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong một cuộc hội thảo, có một
    diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến phổ biến
    và tôi cũng nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến trí thức là nhấn
    mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những người trí thức tôi biết đều hết sức khiêm tốn,
    không khiêm tốn làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý. Thiện cảm và ác cảm ở

    anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô Hoài quen đã hơn bốn chục năm
    nhưng chưa lần nào anh đến chơi nhà, anh giải thích: “Giả dụ hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y
    như rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại ngay, những người như vậy tôi thấy rất
    khó giao thiệp”.
    Hoàng Ngọc Hiến

    Đồng chí Hùng Vương
    Tư hấp tấp chạy sang nhà chủ nhiệm Việt Minh Nông Văn Pảo. Vào một xóm lưa thưa mấy
    búi mai. Đồng chí Tư qua dưới nhà đồng chí Hùng Vương [1] , nghe tiếng trang thóc rào rào
    trên sân sàn, Tư ngẩng đầu gọi to:
    - Kìa Hùng Vương!
    Hùng Vương ngừng tay trang thóc, nhìn xuống. Hùng Vương, người nhễ nhại mồ hôi dưới
    ánh nắng hanh. Đôi vai trần và tảng ngực gồ lên trong múi thịt tròn, đỏ bóng. Hùng Vương lặng
    lẽ nhìn xuống, như nghĩ ngợi mà chưa tìm ra được một câu gì để nói. Đó là một cái thói quen
    trầm lặng chậm chạp vốn có.
    Tư rửa chân, lên nhà. Hùng Vương ngồi xuống sân và hỏi:
    - Mới ở đâu về đấy?
    Tư sốt ruột, hỏi lại:
    - Đồng chí biết Pháp tấn công lên chợ Phủ chưa?
    - Biết.
    - Chợ Phủ có kịp phá hoại không?
    - Phá hết rồi.
    - Bấy giờ từ chợ Phủ lên và trong toàn châu chuẩn bị như thế nào?
    - Đương chuẩn bị cả.
    Hùng Vương vòng tay lên đầu gối, ngước mắt lên nghe cán bộ Tư hỏi từng việc: Phá châu, phá
    đường cái chưa? Canh gác làm sao? Còn quân dân? Kế hoạch đối phó với tình thế mới cho các
    ban Việt Minh xã? Châu bộ khai hội chưa? Mỗi câu Tư hỏi, Hùng Vương lại huơ một tay qua
    đầu, trả lời:
    - Không sợ. Chúng nó không thể làm gì được ta đâu.
    - Đồng chí phải về châu ngay, triệu tập châu bộ thảo luận mấy ý kiến tôi đã đưa ra. Nhất là
    công tác phá hoại, phá đường, phá ngay không có không kịp.
    - Thế thì tốt đấy. Tôi đi ngay được.
    Hùng Vương gọi con đến. Thằng bé mắt đen láy, mới độ mười hai, mười ba tuổi. Cũng cởi
    trần và ngực cũng dô ra như bố. Hùng Vương dặn nó đổ nốt thóc ra sân phơi. Hùng Vương lấy
    cái áo sơ mi trắng cộc tay, mặc quần soóc vàng. Hùng Vương đội mũ trắng. Cái xắc cốt da bò
    quàng vào sườn bên vai trái. Con dao găm cắm trong bao da đeo sườn bên phải, cạnh túi quần
    sau. Hùng Vương bước xuống cầu thang thong thả, chắc chắn.
    Hùng Vương rẽ sang đường cái lớn đi lên châu.
    Năm năm trước, cán bộ Đức Xuân về khai hội bí mật, đặt bí danh cho các tiểu tổ nông dân,

    cũng bắt đầu từ ấy, Hứa Văn Nảo có tên bí mật là đồng chí Hùng Vương do Đức Xuân đặt cho.
    Đức Xuân nói: “Hùng Vương là tên ông tổ sinh ra các họ nước ta. Đặt bí danh thế cho suốt đời
    ta nhớ được tên ông tổ”. Đức Xuân ở đấy rồi về sau trúng kế của thằng phản động cai Mói, bị
    giết ở Hạ Vị, sau đó thì tiếng đồn cách mệnh đã về ở núi Cứu Quốc [2] nhiều lắm, thôi thì bọn
    châu Hồ, châu Quận, cai Mói ra sức lục lọi khắp các triền núi. Người ở các bản xung quanh bỏ
    hết rãy ruộng, ngày đêm phải khốn khổ đi tuần phòng, mò thám. Các làng Mán bị dồn xuống ở
    cả dưới chân núi. Chúng sợ các làng Mán nuôi cách mệnh ở trên núi. Nhưng cách mệnh vẫn ở
    trên núi được. Cho đến một hôm giữa năm 1941, có cuộc khủng bố to, tất cả dân các bản phía
    núi Tây Bắc, từ trẻ con, đàn bà đến người già mắt còn sáng, mỗi người phải đem dao đi mò các
    hang, các khe, các hốc đá từ dưới chân thung lũng lên tới đỉnh ngọn Píc Cáy. Hùng Vương và
    đồng chí Lâm Tuấn đã tìm cách vượt vây, từ đấy Hùng Vương bỏ vùng quê, bỏ nhà, thoát ly đi
    công tác bí mật. Đến khi đảo chính Nhật, bộ đội về giải phóng xã, làm chủ nhiệm Việt Minh xã.
    Sau tổng khởi nghĩa, Hùng Vương lên làm cán bộ Mặt Trận của châu.
    Pháp đã lên tới chợ Phủ rồi. Các xóm bắt đầu làm vườn không nhà trống, lại như những năm
    chạy Nhật trước. Bà già, trẻ con đeo túi quần áo, chăn, màn, xanh, khiêng nồi, chảo tốt vào ở
    kín trong ngọn suối. Từng bu gà, bu vịt, gánh lợn cũng kĩu kịt. Làng xóm đi lặng lẽ, lạnh lẽo và bí
    mật. Nhưng ngoài đồng, tiếng đập lúa thình thịch vẫn đều đều. Những đệp thóc gặt rồi phơi
    vàng rượi trên các mỏm đá dọc bờ suối.
    Tư ra ruộng tìm, thấy Pảo đương gặt. Tư bàn với Pảo: “Ta bàn với Việt Minh xã, với Ủy Ban về
    khai hội. Tình hình nóng lắm rồi”.
    Pảo lên bờ ruộng nói:
    - Việt Minh cả xã, chúng nó cũng sẽ thất bại thôi, đồng chí ạ.
    - Thất bại là thế nào?
    - Anh em bận gặt, phải gặt nhanh.
    - Thế thì tối nay khai hội ban làng vậy.
    Pảo gật đầu, lại bước xuống ruộng. Xung quanh cánh đồng người lặng lẽ, bình thản khuân
    từng bu gà, bu vịt, dồn lợn vào lán. Người vẫn tấp nập đập lúa, thản nhiên như chưa biết Pháp
    đã tới chợ Phủ.
    Cuộc khai hội ban làng tối hôm ấy lại có cả chủ tịch kháng chiến và nhiều tổ trưởng các giới
    cứu quốc đến tham gia. Mười hai người ngồi vòng trước bếp lửa trước nhà. Chủ nhiệm Việt
    Minh Nông Văn Pảo kê một mảnh giấy bên cạnh đống củi bập bùng cháy, viết chương trình
    khai hội. Anh ngẫm nghĩ, đôi lông mày díu lại. Anh cúi xuống viết, rồi giơ giấy lên đọc: “Thưa
    các đồng chí, chương trình khai hội hôm nay có: lý do, bầu chủ tịch, thư ký, thảo luận công tác
    canh gác, giao thông, du kích, tiếp tế, công tác phá hoại, làm mít tinh giải thích cho xóm biết
    cách đề phòng Tây.”
    Bắt đầu, bàn việc canh gác… Họp đến khuya mới xong. Mọi người chuyền nhau cái điếu cày,
    bàn tán về thuốc lào mấy hôm nay đắt giá. Tám mươi đồng một bánh mà không có người bán.
    Chuyện khuya rồi mọi người ngủ ngay trên mặt sàn bếp lửa.

    Hôm sau, Tư ra hỏi kết quả khai hội. Hai dân quân đã vác súng kíp ngồi giữa đỉnh rồi. Buổi
    tối, Tư lại đến nhà Pảo. Bỗng nghe có tiếng súng xa ầm ì. Trời tối, Tư, Pảo và Eng, em trai Pảo,
    ra đứng ngoài sàn ngẩng đầu lên. Tiếng ầm ì từ ngoài chợ Phủ đưa lại. Thấy xa xa phía ngoài
    đường lằn lên một vạch sáng. Cách một quãng lại nổi từng hàng ánh sáng trắng như một sải vải
    mới. Pảo vào nhà, rít hơi thuốc, lại ra đứng, vừa thở khói, vừa hỏi:
    - Ô tô của ta hay của nó, đồng chí Tư?
    Tư khẽ đáp:
    - Ta không có ô tô. Mà nhiều thế kia. Ô tô của nó rồi.
    - Một cái, hai cái, ba cái, bốn cái, năm cái…
    Đoàn xe ấy chạy, lằn sáng cứ tuôn mãi ra. Sáu cái, bảy cái, tám cái… Sương lạnh phả vào mặt
    Tư đương nóng bừng.
    Tiếng Pảo nói:
    - Ngày trước ô tô của Nhật nó cũng đi cả đêm thế này. Nó còn chạy bộ từng mấy trăm thằng
    nữa. Lúc nào bị ta phục kích thì nó nằm im hết. Thằng Nhật gan lắm. Nó ném một quả lựu đạn
    khói, mả mẹ nó, nó đã đứng vào khói và lưỡi lê trước mặt ta rồi.
    - Mười bốn cái, mười lăm cái…
    - Thằng Pháp này chắc là dát lắm. Cái năm mà Việt Minh xuống lập ban châu, quân cách mạng
    ta bảo nó cùng bắn thằng Việt gian châu quận, nó không dám bắn. Đến lúc ta bắn thì cả lũ lính,
    cả thằng đồn Tây Đờ-đông, Tây chủ mỏ cũng tái mét mặt. Pháp, thì như con cua. Thế là Tây
    hàng cách mạng hết rồi.
    Câu nói ấy của Pảo làm cho Tư vừa bực mình, vừa buồn cười. Nhưng sự ung dung lạ lùng ấy
    thực tình khi cướp chính quyền tỉnh cũng làm cho Tư bình tĩnh trở lại từ lúc nhìn đoàn xe Pháp
    chạy qua núi.
    *
    * *
    Từ sau hôm đấy, ngày nào cũng có ô tô Pháp vù vù chạy ngoài đường cái. Dân làng đã vào các
    lán. Trâu bò đuổi hết lên rừng rồi. Có một lần mười lính Pháp mò vào làng. Nhưng không lấy
    được gì. Chúng nó đốt hai cái nhà.
    Thế rồi một tháng qua. Pháp không thể xuyên chéo qua được tỉnh Bắc Cạn, chúng phải kéo về
    chợ Phủ, bỏ vị trí huyện Chợ Rã.
    Ở Pá Pầu về, Tư đương lội suối, nom xa thấy đồng chí Hùng Vương. Xắc cốt da vẫn quàng
    cạnh sườn. Bao dao găm thò một tí đầu mẩu dưới thân áo sau lưng.
    Hùng Vương đến bắt tay Tư, rồi nói:
    - Tôi xin báo tin: Pháp đã rút khỏi châu Chợ Rã. Đồng chí đã biết chưa?
    - Biết rồi.

    - Mời đồng chí về nhà tôi. Tôi có vấn đề muốn thảo luận.
    Cái máng nước nhà Hùng Vương lại lách rách chảy xuống chiếc bồn gỗ đầu thang. Trong nhà,
    bếp chưa đặt kiềng, bên buồng còn ngổn ngang ba, bốn túi đựng quần áo mới mang ở lán về.
    Thằng bé con Hùng Vương cởi trần, đắp chăn, đương ngủ ngon.
    - Ta chưa nên cho người già, trẻ con và đem quần áo về nhà vội.
    Hùng Vương cười, tìm chổi quét sàn, nói: “Tôi cũng chủ quan một tí đấy”.
    Tư hỏi:
    - Có việc gì thảo luận với tôi?
    - Tôi có nhiều danh từ muốn hỏi đồng chí (Hùng Vương lấy sổ tay, bút máy trong xắc cốt),
    nhiều chữ mới lắm. “Lễ Nô-en”, “Nhân dân giải phóng quân Trung Hoa”, “tài phiệt Mỹ”, “kế
    hoạch Cờ-lô Cờ-lô”, “hội tề”. Từ hôm chị Bắc đi về khu, tôi có nhiều danh từ lắm mà không hỏi
    được ai.
    Tiếng đại bác phía chợ Phủ vẫn dội lại. Nhưng, như không nghe tiếng, hai người vẫn ngồi,
    người nói, người ghi cắm cúi.
    *
    * *
    Rồi có đến mấy tháng, lâu không gặp Hùng Vương. Nhưng thỉnh thoảng Tư vẫn nhận được
    thư của Hùng Vương gửi về hỏi chữ. Biết Hùng Vương bận công tác ở xã mà vẫn chịu khó đọc
    chữ. Tư đọc thư, lần nào cũng trả lời ngay.
    Thỉnh thoảng, đi qua nhà Hùng Vương, gặp thằng bé con, Tư hỏi:
    - Cá (bố) có về không?
    Nó đáp:
    - Cá không về.
    Một hôm, em bé đến tìm Tư, bảo:
    - Cá đã về đấy. Cá bảo đồng chí ra chơi ăn cơm ngay.
    Nhưng Tư bảo nó về trước. Tư đã thuộc cái tính rềnh ràng của mọi người ở đây. Quả nhiên,
    một lúc sau, Tư ra thấy mới chỉ có một mình bố Hùng Vương ở nhà. Ông ké nói:
    - Hùng Vương còn đi đắp bờ ruộng.
    Ngồi đợi một lúc mới thấy Hùng Vương lững thững về, quần xoe lên tận bẹn. Vai vác cái mai
    đắp bờ. Chiếc xắc cốt đựng tài liệu vẫn quàng bên trái sườn. Con dao găm cắm trong bao da
    đeo bên phải. Vợ Hùng Vương cũng vác mai, tay xách thêm giỏ ốc. Tư ra cầu thang, vừa cười
    vừa nói:
    - Đi làm ruộng mà cũng đeo xắc cốt à?
    - Quân sự hóa, đồng chí ạ. Bao nhiêu năm nay thế, nó thành tính rồi.

    Vợ Hùng Vương nấu nồi canh ốc cả vỏ. Con bé chạy vào lán trong rừng lấy thêm bát. Trong
    khi ấy Hùng Vương cầm cái kéo ra sân sàn cạo đầu cho thằng con giai. Tiếng kéo kêu tách tách,
    Hùng Vương nói:
    - Sang năm nay thằng này nó nhớn một tý, tôi cho nó đi theo đồng chí. Cho nó học tập, nó
    tiến bộ, về sau hơn tôi nhiều.
    Một lát sau, vào mâm cơm, Hùng Vương mới thong thả nói:
    - Đoàn thể vừa đổi tôi lên công tác trên Ngân Sơn, đồng chí ạ.
    - Đi Ngân Sơn à? Bao giờ đi?
    - Mai tôi cùng đi với Pảo. Pảo cũng công tác trên Ngân Sơn.
    Ngân Sơn. Hai tháng nay Pháp chiếm Ngân Sơn, phá châu Ngân Sơn rất dữ, rất hại. Châu
    Ngân Sơn, toàn rừng thưa, núi đá, đồi trọc san sát liền nhau như bát úp, người đi đêm lúc nào
    cũng trông thấy bóng. Tây lên, làng không có chỗ làm lán bí mật, phải chạy sang các châu khác.
    Cán bộ thì cứ ngày nằm trong rừng, đêm về gặp dân. Ngân Sơn, đất bị khủng bố, đất đau
    thương. Cán bộ Hoàng, người Mán năm trước đã chết ở đấy. Cả cán bộ thượng cấp, đồng chí Mã
    Gầy [3] , cũng đã ngã xuống hy sinh ở Ngân Sơn. Trong vòng hai tháng nay, nhiều cán bộ đã hy
    sinh ở Ngân Sơn.
    Hùng Vương nói:
    - Tôi lên công tác Ngân Sơn, không gặp được anh Tư cũng là thiệt cho tôi, không học thêm
    được chữ mới.
    Ăn xong, ông ké say rượu vào nằm trong phản nói mê một lúc rồi ngủ. Ba bố con Hùng Vương
    và Tư ngồi chơi trước sân sàn.
    Hùng Vương dạy các con học hát. Hai đứa bé ngồi xếp bằng trước mặt bố.
    Trăng mùng mười đã lên đứng trên đầu núi trong leo lẻo. Tiếng hai đứa trẻ thánh thót hát
    theo bố.
    - Mai Hùng Vương đi lúc nào?
    - Hùng Vương bừa sáng xong rồi mới đi. Lên Ngân Sơn phải đi đêm mà.
    Sáng hôm sau, từ sớm, Hùng Vương với vợ và thằng bé đã ra ruộng. Ba con trâu, ba cái bừa
    răng gỗ, ba người đi bừa lại, quần vòng vèo trên mảnh ruộng nước hẹp, như trẻ con chơi rồng
    rắn đuổi nhau.
    Rồi mỗi lần, nghe tin giặc khủng bố Ngân Sơn, Tư lại nhớ Hùng Vương và Pảo. Nghĩ đến
    những khi cùng nhau còn công tác ở dưới này. Không biết Hùng Vương đã trở lại Ngân Sơn
    chưa. Khuôn mặt vuông, chắc của Hùng Vương. Lặng lẽ, chậm nhưng bình tĩnh, bây giờ nghĩ lại,
    mới càng hiểu, càng nhớ.

    [1] Trong kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc, cán bộ cơ sở hoạt động bí mật thường dùng bí danh lịch sử và cách mạng như:
    Hùng Vương, Trần Hưng Đạo, Hồng Quân, Liên Bang...
    [2] Vùng núi kháng chiến huyện Chợ Rã bí danh là núi Cứu Quốc.
    [3] Đồng chí Phùng Chí Kiên.

    Tào Lường
    I.
    Từ Nà Lộc đến Bản Hậu lên Pá Pầu nửa ngày leo núi. Lối đi xoai xoải dưới chân dốc lên càng
    cao càng dựng đứng. Qua rãy sắn của bản Nà Lộc đến dốc rừng hạt dẻ, rừng tre rồi rừng gianh,
    rồi lại dốc, lại rừng tre. Bỗng Tư trông thấy một rãy lúa chín vàng nuột bên sườn núi. Tư hơi
    ngạc nhiên vì đột ngột gặp được công cuộc làm ăn cấy hái ở một nơi cheo leo thế này. Rừng núi
    mênh mang mà chỗ nào cũng có lối đi, lối đi chằng chịt như mạch máu trên thân người.
    Những cây hạt dẻ cao vút, quả khô, gai lủa tủa. Quả trám trắng lẹt đẹt rơi. Con hươu gộ dưới
    gốc, tiếng hươu khô như một cành củi gẫy. Dưới xa, trong lòng thung lũng tiếng suối phảng
    phất thở dài. Trông sang phía Cao Bằng trước mặt, núi xanh, núi trắng loang lổ dán lên nhau.
    Tư hỏi chú giao thông:
    - Sắp đến chưa?
    - Còn một dốc thêm.
    Rồi qua bụi sa nhân, bụi nát, mấy cây chanh, cây mận và lưa thưa cây mần tang. Lộ ra mấy cái
    nhà bạc phếch, lớp thanh tre như ống máng. Nhà làm theo bậc núi, mỗi cái hai gian nhỏ, cái nọ
    gối sau cái kia. Có ba túp nhà cả thảy, mấy con lợn thò đầu ra ngoài vách, rồi thụt vào trong. Đó
    là làng Pá Pầu.
    Anh giao thông trèo lên cái nhà trên cùng.
    Tư bước vào. Một người cởi trần nằm trên một mảnh ván cạnh bếp, giữa mặt có một vết
    thương đương lên da non, đỏ hon hỏn gần suốt hai má. Vai, cổ, cái đùi, bụng, sườn, bắp chân,
    cánh tay, loét từng vết thương dài như vết quào, chém. Người ấy nói tiếng Thổ:
    - Đồng chí Chẩn đi rãy, muốn gọi tôi gọi về cho.
    Rồi anh nói ra ngoài cửa mấy tiếng Mán. Một bà già thấp, sau lưng ngặt nghẽo địu một đứa
    bé, cung cúc chạy xuống dốc. Và một người mà đồng chí Tư không đoán được là đàn bà hay đàn
    ông, vì trên đầu có một túm tóc hoa roi rủ dài xuống gáy, người ấy lặng lẽ thò đầu vào, Tư hỏi:
    “Chẩn đấy à?”. Anh thanh niên ốm ngồi trên tấm ván trả lời: “Không phải, đấy là Bàn Văn Minh
    ở nhà dưới”. Lát sau, một người mặt vuông, da mai mái, gò má hơi nhô, cằm nở bạnh nét. Cái
    áo chàm đã xạm xỉn, hai ống quần bợt hết gấu. Người vác ngang trên vai khẩu súng kíp, lưng
    đeo túi đạn bằng da con nhông vàng xọng.
    - Đồng chí Chẩn đấy à?
    Một giọng nói tiếng xuôi lơ lớ:
    - Phải... tôi... đồng chí Chẩn.
    Tư nói thế để Chẩn biết là Tư lên đây họp với làng Mán để tổ chức báo tin truyền làng. Nhưng
    Tư muốn sang núi Píc Cáy trước vì bên Píc Cáy gần đồn Tây ở chợ Phủ hơn. Nghe Tư nói, Chẩn

    gật gật đầu, đáp chuyện nhịp một tiếng... “thế... thế...”
    Đêm ấy, Tư ở lại Pá Pầu. Đêm trên núi cao, gió thổi rét buốt. Chẩn lấy thịt gấu khô treo trên
    bếp nấu cho Tư ăn. Thịt con gấu chó, anh em Chẩn mới bắn được hồi tháng Tám. Chính con gấu
    ấy đã quào nát mặt Pảo, bôi thuốc đến bây giờ chưa khỏi. Pảo chống gậy nhảy đến bàn cơm.
    Một người con gái gầy gùa, chít khăn thêu đỏ, ngồi ăn cơm với mẹ trên bếp. Ăn xong, bà mẹ
    buộc chặt lại địu đứa bé, bước ra cửa với cô con gái. Hai người ở dưới nhà lên, vác súng lừ đừ đi
    sau hai người. Tư hỏi đi đâu, Chẩn bảo: “Nó lên ngủ”. Người nhà đi ngủ rừng, nhường chỗ nằm
    cho khách mà bàn việc vừa ăn cơm lại ngủ nữa. Đêm trên núi cao, gió thổi càng khuya càng rét.
    Bấy giờ vào khoảng cuối tháng Mười. Buổi sáng, từ trong hốc núi cuối thung, mây trắng trôi
    cuồn cuộn bập bềnh như sóng trên làng mạc và cánh đồng. Các chỏm núi trên miền Cứu Quốc
    xanh rì và nhô lên như những cù lao chơi vơi giữa bể tuyết. Chẩn đã thổi cơm xong, vùi nồi
    xuống gio rồi xách cái nỏ lên rừng. Bà già địu cháu, cô gái gầy gùa và Minh ở trên rừng về ngồi
    quanh bếp. Một thoáng, Chẩn đã về, xách một con chuột đuôi xù dài. Thịt chuột nướng lên bếp,
    rồi bỏ vào chảo.
    Cơm xong, cô em gái xuống nhà dưới, cùng mọi người đi làm rãy. Bà già địu cháu vào rừng
    vác củi. Pảo lấy mật gấu bôi khắp mặt các vết đau rồi ngồi lên vót tên bắn chuột. Tư và Chẩn
    cùng nhau leo sang Píc Cáy. Trong nhà vắng tanh. Cả gà, lợn cũng đã bắt đem vào “cơ quan”
    trong rừng cả. Thỉnh thoảng, một đứa bé nhà dưới ra đứng cửa cất tiếng eo éo: “Tăm lơ lơ...
    Tăm lơ lơ...” Nó gọi con chó...
    Đến khi Tư và Chẩn trở về thì đã chiều lắm, sương đã xuống lạnh hai bàn tay. Trong nhà có
    tiếng gõ cành cạch và tiếng rì rầm lè nhè. Đó là ông tào - thày cúng - đương cúng ma cho cô
    Liễu, cô em gái gầy gùa, em gái Chẩn, độ này hay ốm.
    Cúng xong, Chẩn ôm vào nhà một đống củi, đốt cháy lên ngùn ngụt. Cả làng đến chơi. Ông
    thày cúng cũng ở lại đấy. Tất cả quây quanh lửa. Cả làng được chừng mười người. Họ đến để
    nghe Tư nói về công việc báo tin truyền làng, phòng giặc Tây thình lình tới. Bây giờ làng nào
    cũng phải canh gác đề phòng Tây và Việt gian hay đi mò thám. Nếu không cẩn thận mà như
    ngày trước hồi còn bí mật, để cho thằng giặc Nhật lên vây tận trên núi Píc Cáy thì hại cách
    mạng nhiều lắm, các đồng chí nhớ không? Nhiều người nói:
    - Nhớ lắm! Nhớ lắm.
    - Lần ấy thằng Nhật làm đau cách mạng đấy!
    Người nói câu ấy là thày cúng Triệu Văn Hương. Tư hỏi:
    - Đồng chí Hương bấy giờ ở đâu?
    - Tôi ở Nà Lường.
    - Nà Lường có bao nhiêu nhà?
    - Có một nhà.
    - Chỉ có một nhà?
    - Trước ở Nà Lường còn có nhà tào Lường. Ông tào Lường dạy người ta biết cúng đấy. Nhà

    tào Lường đã nuôi nhiều cách mạng lắm. Pháp lên tìm bắt được tào Lường, đem cắt lấy đầu, đã
    từ bốn năm nay rồi, lại có thày cúng lại tên là tào Lường làm thày cúng. Húi dà, khổ lắm, đau
    lắm, lúc trước thằng Nhật, thằng Pháp làm người ta khổ lắm, đau lắm.
    - Lúc trước cách mạng ở Nà Lường có nhiều không?
    - Lúc thì nhiều, lúc thì ít. Đồng chí Liên Bang, đồng chí Tiền Phong, đồng chí Thanh Quang,
    đồng chí Tư có biết các đồng chí ấy không? Vàng Kheo, Píc Cáy, Khuổi Slám đều có du kích.
    Cách mạng vui lắm, làm hát, dạy cho biết chữ khắp mọi người ta. Tôi đã đánh Nhật ở Phiêng
    Phường.
    Rồi ông thày cúng Hương thở dài:
    - Ba hôm, năm hôm, Pháp đi tuần một lần, khám nhà một lần. Người ta đi đâu nó cũng bảo đi
    với cách mạng, nó bắt. Đem nắm cơm to đi làm rãy, nó bảo đi đem cho cách mạn...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !