Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Chiến tranh Đông Dương 3

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 14h:57' 22-04-2025
Dung lượng: 768.1 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 14h:57' 22-04-2025
Dung lượng: 768.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Chiến tranh Đông dương 3
Hoàng Dung
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Thay lời tựa
P1
P2
P3
P4
P5
P6
P7
P8
P9
P10
P11
P12
P13
P14
Phần Kết
https://thuviensach.vn
Hoàng Dung
Chiến tranh Đông dương 3
Thay lời tựa
Tôi không biết phải gọi Hoàng Dung, tác giả cuốn sách này bằng danh hiệu
gì. Về nghề nghiệp ông là bác sĩ, nhưng chức vị bác sĩ sẽ không làm cho
giá trị cuốn sách này tăng lên một chút nào. Ông không phải là nhà văn,
mặc dù thỉnh thoảng có viết đôi bài đăng báo. Ngay cả ông là tác giả thiên
khảo cứu này, ông cũng không nhận là nhà biên khảo Có một điều chắc
chắn: ông là một người ưa đọc sách, có thói quen ghi lại những gì ông rút
tỉa được nơi những trang sách ông đã đọc.
Tôi biết Hoàng Dung từ khi chúng tôi còn thơ ấu. Trong sân trường trung
học Nguyễn Trãi, lúc trường này chưa có trụ sở riêng, còn học nhờ tại
trường Tiểu học Lê Văn Duyệt. Năm đó là năm 1957, tôi học Đệ Ngũ,
Hoàng Dung dưới tôi một lớp. Chúng tôi là bạn chơi banh trong trường.
Hai năm sau tôi rời Nguyễn Trãi lên Chu Văn An, một năm sau chúng tôi
gặp lại nơi trường Chu Văn An cũ, sau lưng trường Petrus Ký.
Khi lên Chu Văn An, là học sinh Trung học đệ nhị cấp, chúng tôi ít giao
https://thuviensach.vn
thiệp vì không còn đá banh, đá cầu trong sân trường nữa.
Hơn mười năm sau gặp lại Hoàng Dung tại Pleiku. Ông đã là một bác sĩ
quân y. Tuy là bạn thiếu thời, nhưng không phải đồng nghiệp nên thỉnh
thoảng chúng tôi mới gặp nhau trong Câu lạc bộ sĩ quan quân đoàn, và đôi
khi tệ hơn nữa là gặp nhau nơi bàn mạt chược. Dù gặp nhau ở nơi nào, ông
cũng cho người khác thấy ông là người ít nói, lặng lẽ. Nhưng không một ai
chối cãi được ông là một người tử tế. Ông tử tế với bạn là chuyện đương
nhiên, ông tử tế với binh sĩ dưới quyền. Ông là một y sĩ tận tình săn sóc
thương binh của ta và của dịch.
Thế rồi chúng tôi tan tác trong cuối mùa trận chiến. Đầu thập niên 80, gặp
lại nhau trên xứ người. Hoàng Dung đang đi học lại. Ông mới tới Mỹ một
thời gian ngắn, lại lao vào việc sách đèn để có thể đì hết con đường ông đã
chọn, để tiếp tục tuân thủ lời thề Hyppocrate. Nơi xứ người thỉnh thoảng
chúng tôi mới có cơ hội gặp nhau, khi thì tôi sang miền Đông, khi thì
Hoàng Dung sang Cai cho đỡ nhớ không khí nước Việt.
Cách đây gần một năm, Hoàng Dung gọi điện thoại đến tôi, ông muốn tôi
đọc hộ một tập bản thảo. Ông dứt khoát không hé lộ một chút gì về nội
dung cuốn sách, chỉ vắn tắt một câu: “ông đọc hộ tôi coi nó có ra cái giống
gì không” Buông điện thoại xuống tôi nghĩ tới Hoàng Dung, những đồng
nghiệp của ông, và thế hệ di dân đầu tiên, mà trong đó có Hoàng Dung và
cả tôi.
Rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta, sau khi đã an tâm về vật chất,
con người ta cần một món ăn tinh thần. Mỗi người đến với món ăn tinh
thần này một kiểu. Có người thành nhà văn, nhà thơ. Có người thành nhạc
sĩ, hoạ sĩ. Cũng không thiếu gì người trở thành ca sĩ trình diễn trong vòng
thân hữu, trong những party mừng sinh nhật, kỷ niệm thành hôn hay trong
các tiệc cưới. Có người trở thành những chuyên viên tranh đấu, có mặt
trong năm bẩy đoàn thể, tổ chức. Có người không làm gì cả, chỉ ngơ ngơ
ngác ngác nơi xứ người. Hoàng Dung không rơi vào những thông lệ trên.
Dù nghĩ gì thì nghĩ tôi không bao giờ tưởng tượng được Hoàng Dung,
người bạn thiếu thời, một quân y sĩ nhiều lương tâm, sống giản dị cho tới
năm ngoài 40 mới lập gia đình, lại có thể rơi vào cái vòng lợi, danh luẩn
https://thuviensach.vn
quẩn. Suốt mấy ngày liền, tôi bị cuốn sách của Hoàng Dung ám ảnh. Đã có
lúc tôi nghĩ là bạn tôi chắc là đang cơn quẫn trí, một mình lủi thủi một xó,
thành ra viết văn làm thơ cho nó bớt buồn. Dù sao chăng nữa ở nhà viết bất
cứ cái gì, cũng còn hơn mải mê trong những canh mạt chược, đắm đuối
trong chỗ ánh sáng mờ ảo của vũ trường.
Cầm cuốn bản thảo trong tay, một lần nữa những suy nghĩ về bạn cũ lộn
tùng phèo. Đó không phải là một tập truyện ngắn, không phải một tập thơ,
tập nhạc. Đó là tất cả những gì Hoàng Dung đọc trong những khi nhàn rỗi,
bởi vì ông làm việc cho một bệnh viện của một tỉnh nhỏ, thưa người. Tập
bản thảo là kết quả của một thời gian dài cặm cụi, nghiền ngẫm, ghi chép.
Hoàng Dung đặt tên cho cuốn sách của ông là: Trận chiến Đông dương hồi
III. Bên dưới tên của cuốn sách có chua một hàng chữ: Chiến tranh biên
giới Hoa Việt, Miên Việt 1979.
Ông đã từng là một nạn nhân của cộng sản, đã từng ở tù vài năm. Vừa mới
thoát khỏi hàng rào trại tù, là ông nhắm hướng biển Đông xông tới. May thì
đến được một bến bờ, không may thì thêm một mạng người chui vào bụng
cá. Nào có xá kể gì, vì sinh mạng con người trong thời khoảng vừa tàn cuộc
chiến, thật không khác gì sinh mạng một con kiến. Vài năm đầu tại Mỹ
Hoàng Dung chúi đầu vào việc học. Ông chỉ thật sự đọc sách sau khi đã tốt
nghiệp, đã thực tập và đã trở thành một y sĩ góp mặt với đời.
Sau giờ làm việc tại bệnh viện ông rảnh rỗi, mượn sách thư viện về nhà,
xúc tìm nơi những trang sách, về một đề tài ông rất quan tâm: Đó là những
trận đánh trong chiến tranh Đông dương hồi III. Hồi I là chiến tranh Việt
Pháp cho tới 1954, hồi II là chiến tranh Nam Bắc Việt nam cho tới 1975, và
hồi III là chiến tranh tại vùng biên giới, giữa các nước đã từng có thời là
đồng minh trong những trận chiến Đông dương cũ.
Để có thể liên kết nhiều tài liệu, nhiều tác giả với nhau, ông nẩy ra ý định
ghi chép lại. Ông ghi chú tất cả những điều gì cần ghi chú, sắp xếp cho
thành từng chương sách, liên hệ cách nhìn của các tác giả, và rút ra cách
nhìn của riêng ông. Nội dung tập bản thảo dầy hơn 200 trang, viết về các
trận đánh biên giới xẩy ra năm 1979, giữa ba quốc gia đã từng có một thời
là anh em, môi hở răng lạnh, đã từng là hậu phương lớn với tiền tuyến lớn:
https://thuviensach.vn
Campuchia-Việt nam-Trung hoa.
Chỉ mới ngốn được hai trang đầu, tôi biết là tôi đã bất gặp một cuốn sách
đặt đúng vấn đề.
Tôi nhớ lại, trong khi trận chiến giữa Việt nam và Trung hoa đang xẩy ra
khốc liệt, cũng như chiến tranh Việt nam và Campuchia tới giai đoạn một
mất một còn. Không biết người Việt trong nước nghĩ gì, nhưng tại hải ngoại
trong lòng người Việt ly hương là một mớ suy nghĩ hỗn độn. Chẳng lẽ lại
ca tụng Trung quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt từ phương Bắc. Lại
càng không thể cổ võ bạo quyền cộng sản trong nước, khi mà hàng trăm
ngàn sĩ quan, công chức của miền Nam còn đang lê những tấm thân tàn
trong các xó núi, góc rừng.
Thành thử trong khi cả nước từ Bắc chí Nam, bất kể đảng viên cộng sản
hay là dân chúng, đang oằn người chịu đựng một cuộc chiến tranh khác, thì
ngoài nước không một cá nhân nào, một tổ chức nào có một cái nhìn tương
đối dứt khoát, đối với một tai hoạ mới đang diễn ra với anh em, ruột thịt
đồng bào.
Hoàng Dung có mặt trong nước khi chiến tranh biên giới xẩy ra, nhưng
người cộng sản có bao giờ thông tin cho dân chúng một cách trung thực.
Cái mà ông đọc ở báo chí trong nước, chỉ là những mớ bùi nhùi chữ nghĩa,
chỉ là những khẩu hiệu ca tụng chiến thắng rất kêu, hệt như những tiếng
phèng la của những tay Sơn Đông mãi võ.
Ông muốn tìm hiểu việc gì đã đích thực xẩy ra. Do đó ngay khi điều kiện
sinh sống cho phép, ông vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà sử học,
của các ký giả ngoại quốc đã viết về trận chiến tranh này. Nhân tiện ông ghi
lại cho những bạn đồng tù của ông, hay bất cứ ai muốn tìm hiểu trận chiến
này. Ông vẽ tại các cuộc chuyển quân của cả ba nước cộng sản tham chiến:
Hoa, Việt, Miên. Ông cũng ghi lại những biến chuyển nhân sự, những con
người trồi lên tụt xuống trong Chính trị Bộ Bắc Việt, hay trong Trung Nam
Hải Bắc kinh, cũng như trong rừng già nhiệt đới Campuchia, để những
người đọc ông, có thể hên kết những biến chuyển chính trị, xạ chiếu trên
mặt trận quân sự như thế nào.
Cách ông viết giống như ông đã trình bầy luận án, do đó cuốn sách có một
https://thuviensach.vn
cái nhìn nhất quán, trình bầy sáng sủa mạch lạc, tài liệu tra cứu dồi dào, với
những phụ bản cần thiết. Chỉ cần đọc chương chót cuốn sách, chương ghi
chú sơ lược về các nhân vật cuốn sách nói tới, người đọc sẽ thấy cái cần cù
của tác giả. Mỗi một nhân vật đều có một vài dòng tiểu sừ, ghi năm sinh,
năm chết, giữ chức vụ gì, tại sao bị thanh trừng... Bảng danh sách này gồm
có 166 nhân vật Việt, Hoa, Miên, Lào, Nga, Mỹ, Pháp. Tôi chọn thử một
nhân vật:
Đinh Bá Thi: Tên thật là Ung Văn Chương, được Lê Duẩn nâng đỡ, nhờ
bầy kế để Duẩn lấy người vợ thứ ba. Đại diện Việt nam tại Liên hiệp quốc
sau 1975, bị triệu hồi năm 1978 sau một vụ án gián điệp. Có tin bị công an
đặc biệt của Việt nam giết vì đã móc nối với Trung hoa”.
Một thí dụ khác: “Kayxon Phomvihan (AL): Tổng bí thư Đảng cộng sản
Lào, sau 1975 làm Thủ tướng Lào. Tên thật không rõ, con của Nguyễn Trí
Loan, một công chức người Việt tại Lào”.
Ông cũng thiết lập một danh sách 37 đại đơn vị của Việt nam, từ cấp Sư
Đoàn trở lên, được thành lập trong thời điểm nào, và vùng hoạt động trong
các trận đánh cùng với Trung quốc và Miên Cộng.
Đánh giá lại trận chiến này là một việc làm cần thiết cho người Việt lưu
vong, bởi vì khi khối cộng sản tan thành mảnh nhỏ tại Đông Âu, và cả nước
Nga, đã khai sinh lại nhiều quốc gia trên bản đồ thế giới. Trong việc khai
sinh những quốc gia này, máu đã đổ không ít giữa những người có thời là
đồng chủng, tại Nam Tư, cũng như tại Liên xô, huống hồ giữa hai sắc dân
hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ cũng như chủng tộc giữa nòi Việt và nòi
Hán, hay những oán thù chủng tộc giữa người Việt và người Khmer. Những
tranh chấp lãnh hải trong vùng biển Đông, nơi lưu trữ một nguồn hơi đốt và
dầu hoả, có thể không thua lượng dầu thô dự trữ tại bán đảo ả Rập. Số
lượng tài nguyên này chưa biết có đủ tốt để khai thác kỹ nghệ không.
Nhưng có thể nó sẽ là một liều thuốc nổ, khơi ngòi chiến tranh trong một
vài năm tới.
Một cuộc chiến nữa có thể xẩy ra giữa các nước trong vùng Đông Nam Á
là một điều khả tín.
Vì thế ước vọng khiêm nhường của Hoàng Dung, tác giả của cuốn sách này
https://thuviensach.vn
chỉ mong mỏi: Cuốn sách sẽ là bước đầu tìm hiểu các cỗi rễ, những căn
nguyên, cũng như những yếu tố đã đưa tới chiến tranh giữa Việt nam và hai
nước lân bang. Để nếu không giải quyết được thì cũng làm giảm đi sự nghi
kỵ và lòng thù hận, hoặc tăng thêm sự cảnh giác về mối đe doạ thường trực
của đất nước.
Hoàng Dung là một ngạc nhiên trong đời sống tôi. Biết nhau suốt 40 năm
tôi chưa bao giờ có dịp nhìn ông thật kỹ. Cuốn sách cho tôi biết một điều:
Có những con người bình thường mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày, tưởng
như đã hiểu, đã biết rõ về họ. Kịp cho tới khi có một việc không bình
thường xẩy ra, mới là dịp để chúng ta biết con người đó đích thật nghĩ gì,
làm gì?
Nếu như ông gửi tới tôi bản thảo một tập truyện ngắn, một tập thơ thì có
thể ông sẽ là một “nhà văn y sĩ”, như một số cây bút, hay chua thêm chữ
MD dưới tên tác giả mỗi khi viết bài. Nếu ông viết một tài liệu y khoa tôi
đã không ngạc nhiên, mà tài liệu y khoa thì chắc chắn người nhận là các
đồng nghiệp của ông. Tôi biết gì về thuốc men, về bệnh trạng, về cơ thể
con người?
Đọc xong tập bản thảo, tôi biết ông là người như thế nào ông là một người
học thức khoa bảng với cấp bằng ông hiện có, với nghề nghiệp ông đang
làm, nhưng đồng thời ông cũng là trí thức. Chữ trí thức với nghĩa giản dị,
khiêm tốn và đúng nghĩa nhất của danh từ này.
Xin thành thật cám ơn người bạn thuở thiếu thời, mà mãi tới 40 năm sau tôi
mới có dịp nhận biết con người thực sự, ẩn sâu trong những công việc ông
đã làm cho chính ông, cho bằng hữu, cho bệnh nhân. Bất kể bệnh nhân ấy
là ai, làm gì, từ đâu tới
Xin cám ơn cuốn sách Chiến Tranh Đông dương III, tác phẩm đã soi tỏ cho
tôi những điều tù mù tăm tối của hơn mười lăm năm trước.
Hoàng Khởi Phong
Ghi nhận của Hoàng Dung, bìa Khánh Trường, trình bày Cao Xuân Huy,
Văn Nghệ xuất bản Califomia USA ISBN 1-886566-85-2
Copyright 2000 by Văn Nghệ
https://thuviensach.vn
Hoàng Dung
Chiến tranh Đông dương 3
P1
Sơ lược lịch sứ Cam pu chia từ lập quốc đến thời cận đại
https://thuviensach.vn
Lịch sử Việt nam từ khi lập quốc
đã luôn luôn có những quan hệ
thăng trầm với Trung hoa. Văn
minh Trung hoa đã ảnh hường
nhiều đến dân tộc Việt nam trong
cả thời kỳ bị đô hộ hay thời kỳ độc
lập. Do đó, người Việt nam đã biết
nhiều về văn hoá cũng như lịch sử
của Trung hoa, nhưng đã rất mù
mờ về hai quốc gia lân bang khác ở
phía tây là Lào và Campuchia, chỉ
vì hai quốc gia này đã không gây
nhiều ảnh hưởng đến an ninh lãnh
thổ cũng như nếp sống văn hoá xã
hội của Việt nam.
https://thuviensach.vn
Một trong những nguyên nhân sâu xa đưa đến cuộc chiến tranh Đông
dương thứ ba hay cuộc chiến tranh hậu chiến là mối thù hận lâu đời của
người Campuchia đối với người Việt Mối thù hận này, ít có người Việt nào
để ý đến nhiều, mặc dù đã kéo dài suất trong lịch sử mấy trăm năm nay, kể
từ khi Việt nam đã thôn tính xong nước Chiêm Thành, và trở nên một lân
quốc của Campuchia.
Cũng như lịch sử Việt nam, nguồn gốc lập quốc của Campuchia rất mơ hồ.
Người ta chỉ biết tại vùng đất trước kia từng thuộc Campuchia đã có người
sinh sống từ hai ngàn năm trước Tây lịch. Quốc gia đầu tiên được biết đến
ở phần đất này là Phù Nam, khi thứ sử Giao Châu là Sĩ Nhiếp năm 220 báo
cáo về triều đình Đông Hán là đất Giao Châu (Việt nam hồi đó) bị quân
Lâm ấp (sau là Chiêm Thành) và Phù Nam quấy nhiễu. Năm 245, vua Tàu
nhà Hán có gửi một sứ bộ đến Phù Nam. Một trong những sứ giả là Khang
Thái, khi về nước đã viết về quốc gia này. Theo ông, người sáng lập ra
vương quốc là vua Kaundinya. Ông đến từ Ấn độ, đánh bại nữ hoàng Liệu
Yeh rồi kết hôn với bà này. Tuy nhiên, cũng như người Việt từng tự hào là
con rồng cháu tiên, người Khmer cũng huyền thoại hoá lịch sử của họ. Trên
một bia dá tìm thấy ở Phú Yên, có khắc một chuyện thần tiên, trong đó kể
lại vua Kaundinya có một cây thương thần và đã kết hôn với con gái của
thần rắn Nga. Do đó mà về sau, thần rắn trở nên một biểu tượng cho nguồn
gốc thần thánh của dân tộc Campuchia.
Đế quốc Phù Nam, cũng như tất cả những đế quốc khác, sau một thời gian
hưng thịnh, rồi cũng bị sụp đổ vào thế kỷ thứ sáu do cuộc nổi loạn của một
quốc gia chư hầu là Chân Lạp. Theo sử nhà Tuỳ, Chân Lạp là một nước
nhỏ ở phía tây nam Lâm ấp (vùng rừng núi Ratakini ở phía tây của Kontum
và Pleiku) và dân tộc Chân Lạp cũng thuộc giống dân Khmer. Sau khi tiêu
diệt triều đình Phù Nam, vương quốc Chân Lạp luôn luôn có nội chiến, và
https://thuviensach.vn
đến năm 706 thì lãnh thổ bị chia làm hai nước: Thượng hay Thổ Chân Lạp,
và Hạ hay Thuỷ Chân Lạp.
Năm 802, vua Jayavarman II, một vị vua sáng suốt của Thổ Chân Lạp lên
ngôi. Ông thống nhất hai nước, củng cố hành chánh, đổi tên nước là
Kambuja, tên nguyên thuỷ của Campuchia, dời đô về Angkor, mở đầu một
kỷ nguyên vàng son. Những vị vua kế nghiệp ông đã xây thêm nhiều đền
đài lăng tẩm, nhất là cha con vua Indravarman (877- 900) đã phát triển hệ
thống dẫn thuỷ nhập điền, đào những con kinh rộng hơn cây số, những hồ
chứa nước, mở ra một cuộc “cách mạng xanh” khiến cho đất đai
Campuchia có thể sản xuất lương thực dồi dào cho suốt mấy trăm năm.
Một vị vua nổi tiếng khác, vua Suryavarman II (1113- 1150) đã bành
trướng đất đai đến bán đảo Malaysia, đánh phá Chiêm Thành, và xây dựng
ngôi đền Đế thích Angkor Wat, một công trình kiến trúc nổi tiếng nhất
Đông Nam Á. Sau khi vua Suryavarman II băng hà, thành Angkor bị người
Chiêm Thành tấn công, và vua Jayavarman VII sau đó lên ngôi. Ông có lẽ
là vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Campuchia. Ông hưng binh phục hận
và chinh phục Chiêm Thành, biến nước này thành chư hầu, mở rộng lãnh
thổ. Đồng thời ông đào thêm kinh rạch, xây dựng Đế Thiên Angkor Thom
và đền Bayon, cùng hơn một trăm ngôi nhà nghỉ mát. Nhưng những chiến
công của ông và những công trình vĩ đại đó đã phải trả một giá rất đắt. Dân
chúng phải làm việc như nô lệ để xây dựng và trùng tu cung điện, đền đài.
Trai tráng bị cưỡng bách tòng quân chinh chiến liên miên. Tài nguyên quốc
gia bị kiệt quệ, và ngay sau khi vua Jayavarman VII qua đời, những gì ông
thực hiện được hoàn toàn tan rã.Tuy nhiên, những công trình xây dựng và
những chiến công hiển hách của ông đã trở nên niềm hứng khởi cũng như
mối ám ảnh cho đường lối cai trị cuồng điên của những lãnh tụ Khmer Đỏ
sau này.
Sau khi vua Jayavarman VII qua đời (năm 1228), triều đại Angkor bắt đầu
suy tàn, khởi đầu là nước Chiêm Thành thâu hồi độc lập. Từ đó, người
https://thuviensach.vn
Chiêm Thành và người Thái liên tiếp tấn công thủ đô, triều đình phải di
chuyển về Phnom Penh (1434), rồi Lovek (15161. Đế Thiên Đế Thích bị bỏ
hoang. Năm 1594, quân đội Thái tấn công chiếm được kinh thành Lovek.
Họ đô hộ cả quốc gia, tịch thu và cướp bóc của cải, bắt đem về Thái lan
hàng chục ngàn thợ giỏi, trí thức, nghệ sĩ, tăng sĩ. Dù cho về sau, dân
Campuchia đã nổi dậy đánh đuổi được quân Thái lan, nhưng cũng kể từ lúc
đó, người Campuchia không còn năng lực sản xuất được những công trình
mỹ thuật và kiến trúc vĩ đại như xưa, Quốc gia Campuchia không bao giờ
hồi phục lại phong độ cũ
Cũng trong giai đoạn suy tàn đó, vào thế kỷ thứ mười bảy, Việt nam đã
thôn tính xong quốc gia Chiêm Thành và trở nên một lân quốc trực tiếp của
Campuchia.Bị nằm kẹt giữa hai quốc gia hùng mạnh đang phát triển,
Campuchia chỉ có một cách duy nhất để sống còn là hoặc thần phục Thái
lan, hoặc thần phục Việt nam, có khi đồng thời thần phục cả hai nước.
Nhưng vì nhu cầu bành trướng lãnh thổ của Việt nam, và vì nội bộ triều
đình Campuchia luôn luôn lủng củng, lãnh thổ quốc gia Campuchia dần
dần bị thu hẹp. Tới thế kỷ thứ mười chín thì Việt nam đã chiếm hết lãnh thổ
Thuỷ Chân Lạp cũ, và nếu người Pháp không can thiệp vào Đông dương,
có lẽ quốc gia Campuchia đã biến mất.
Người Pháp bắt đầu can thiệp vào nội tình Đông dương vào thế kỷ thứ
mười chín. Lúc đó người Anh đã chiếm được Ấn độ, Malaysia và người
Pháp đang cần một đầu cầu để đi vào thị trường rộng lớn Nam Trung hoa.
Trong thời gian đó, Nhật bản có Minh Trị Thiên Hoàng, Thái lan có vua
Mongkut có đầu óc canh tân, thì những vị vua triều Nguyễn đã vụng về thi
hành chính sách bế quan toả cảng và đàn áp đạo Thiên Chúa, khiến cho
người Pháp có cớ để tấn công Việt nam. Từ năm 1851, sau khi vua Tự Đức
ký dụ cấm đạo, các tướng Pháp Grenouilly, Charner liên tiếp bắn phá Đà
Nẵng và rồi Bonard, De Lagrandière lần lượt chiếm hết sáu tỉnh Nam Kỳ
làm thuộc địa. Tiếp theo, người Pháp bắt đầu dòm ngó Campuchia. Tháng
https://thuviensach.vn
9.1862, Bonard đích thân sang thăm vua Norodom (Nặc Ông Chân), yêu
cầu nhà vua nhận cho Pháp bảo hộ. Nhà vua còn trù trừ thì năm sau,
Lagrandière sợ nếu để trì hoãn lâu thì Thái lan sẽ nhảy vào tranh giành ảnh
hưởng nên đã đích thân lên Phnom Penh gặp Norodom, ép nhà vua ký hiệp
ước bảo hộ vào tháng 7-1863.
Mới đầu, người Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và Campuchia với mục đích
tìm đường đi đến Nam Trung hoa. Một phái đoàn thám hiểm ngược dòng
sông Cửu Long được thành lập, do De Lagrée làm trưởng phái đoàn,
Francis Garnier phụ tá. De Lagrée bị chết trong chuyến thám hiểm, còn
Garnier đến được Vân Nam. Phái đoàn nhận thấy không thể dùng tàu bè
ngược sông Cửu Long để lên Vân Nam, nhưng tại Vân Nam, Garnier gặp
Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa), một thương gia, Jean Dupuis xúi Garnier yêu
cầu Thống Đốc Nam Kỳ Duprée can thiệp để Dupuis có thể dùng sông
Hồng Hà để sang Vân Nam buôn bán. Garnier được cử đem quân ra Hà nội
dàn xếp, và sau mấy ngày thương thuyết không xong, Garnier tấn công và
lấy được thành Hà nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử, Garnier sau đó cũng bị
quân Cờ Đen phục kích giết chết.
Thấy không sử dụng được sông Cửu Long, người Pháp tìm cách khai thác
những mối lợi khác. Năm 1884, họ đòi vua Norodom phải ký thoả ước để
người Pháp được nắm toàn quyền về hành chánh, tư pháp, tài chánh,
thương mại và thu tất cả mọi thứ thuế. Vua Norodom từ chối, Lagrandière
tự đem tàu chiến lên Phnom Penh, vào tận hoàng cung, ép vua Norodom
phải ký.
Tự ái dân tộc bị tổn thương, nhân dân Campuchia nổi loạn dưới sự lãnh đạo
của hoàng thân Si Vatha. Người Pháp phải đánh dẹp hai năm mới yên. Vua
Norodom chết năm 1904, em của ông là Sisowath nối ngôi, trị vì đến năm
1927 thì con là Monivong nối nghiệp. Nhưng khi Monivong mất năm 1941
thì toàn quyền Decoux lại chọn Sihanouk là chắt của vua Norodom lên ngôi
https://thuviensach.vn
vua, chỉ vì lúc đó ông ta còn trẻ và người Pháp nghĩ là ham chơi, thiếu kinh
nghiệm.
Nước Campuchia, dưới sự bảo hộ của Pháp, có được một thời kỳ tương đối
yên tĩnh, và họ cũng may mắn không bị liên quan nhiều đến thế chiến thứ
hai. Tuy rằng mối quan tâm chính của người Pháp là bóc lột tài nguyên và
nhân lực của dân bản xứ, nhưng họ đã bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của
Campuchia và đã làm được vài công trình có lợi ích. Trước hết là sự phát
hiện và trùng tu những lăng tẩm Đế Thiên Đế Thích, làm sống lại một thời
đại vàng son rực rỡ của quốc gia Campuchia khơi dậy niềm tự hào dân tộc.
thứ hai là họ đã canh tân hệ thống giáo dục, mở mang dân trí, trong đó có
sự thành lập hai cơ sở chính là Viện nghiên cứu Phật học và trường trung
học Sisowath. Hai cơ sở này đã là nơi đào tạo ra những lãnh tụ tương lai
của Campuchia.
Viện nghiên cứu Phật học Phnom Penh được thành lập năm 1930, với sư
giúp đỡ của một học giả người Tháp bà Suzanne Karpelès, một nhân viên
thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà nội. Viện chủ trương phát huy những
tinh tuý của Phật Giáo tiểu thừa gạt bỏ những lễ nghi mê tín, đồng thời làm
sống lại niềm kiêu hãnh và khát vọng của nhân dân Campuchia. Trong một
xứ không có giai cấp sĩ phu hay quan lại và Phật Giáo được coi gần như là
quốc giáo, tầng lớp sư sãi đã có một uy tín và ảnh hưởng rất lớn. Họ sống
khổ hạnh, đạo đức. Họ nuôi cô nhi, làm việc thiện, dạy dỗ trẻ con. Người
Campuchia khắp nơi đổ về học, nhất là những người Khmer Hạ từ vùng
đồng bằng Cửu long trước kia là Thuỷ Chân Lạp nay đã thuộc Việt nam.
Trong công cuộc phục hưng văn hoá cổ truyền, Viện Phật học đã gián tiếp
phát huy tinh thần quốc gia chóng thực dân và bài Việt nam.
Một cơ sở giáo dục khác, trường trung học Sisowath, được coi như nơi tập
trung những tinh hoa của giới học sinh. Qua hội ái hữu cựu học sinh, họ đã
qui tụ được một nhóm trí thức sau này trở nên những lãnh tụ chính trị, mà
https://thuviensach.vn
tư tưởng cũng như khuynh hướng chính trị dù rất khác nhau của họ đã có
ảnh hưởng quan trọng đến vận mạng của dân tộc Campuchia suốt mấy chục
năm qua.
Người lãnh tụ quốc gia đầu tiên của Campuchia trong giai đoạn này là ông
Sơn Ngọc Thành. Theo ông hoàng Sihanouk, ông Sơn Ngọc Thành là anh
em của Sơn Ngọc Minh, lãnh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản
Campuchia, và Sơn Thái Nguyên, cựu nghị sĩ Quốc hội Việt nam cộng hoà
- nhưng chi tiết này có lẽ không xác thực, vì ông hoàng Sihanouk đã rất
ganh ghét Sơn Ngọc Thành - Sơn Ngọc Thành là một người Khmer Hạ,
sinh trưởng ở vùng đồng bằng Cửu Long, học hết trung học ở Việt nam, sau
đó sang Pháp học Luật, và mấy năm sau, dù chưa tốt nghiệp, ông trở về
Phnom Penh. Với trình độ học vấn của ông lúc đó, ông trở nên một nhân
vật quan trọng trong Viện Phật Học và là một gạch nối quan trọng giữa tầng
lớp sư sãi và nhóm tri thức cựu học sinh Sisowath. Nhóm trí thức này phần
lớn có địa vị, có khả năng tài chánh, có kiến thức chính trị, trong khi tầng
lớp sư sãi lại có uy tín và tổ chức sâu rộng trong quần chúng. Năm 1936,
Sơn Ngọc Thành xuất bản tờ báo Nagaravatta. Dưới danh nghĩa truyền bá
Phật Giáo và bảo tồn văn hoá, tờ báo kêu gọi đấu tranh giành độc lập. Tờ
báo cũng cực lực công kích sự ưu đãi của người Pháp dành cho người Việt
khi họ dùng người Việt trong những chức vụ hành chánh ở Campuchia.
Mấy năm sau, thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Nhật tiến vào Campuchia,
nhưng vẫn để người Pháp duy trì bộ máy hành chánh. Lo sợ trước cao trào
đấu tranh của dân bản xứ, năm 1942, người Pháp đóng cửa tờ báo
Nagaravatta, bắt giữ lãnh tụ Phật Giáo Hem Cheav. Nhà sư này sau đó chết
trong tù tại Côn Đảo.
Việc bắt giữ cao tăng Hem Cheav đã gây phẫn nộ trong dân chúng
Campuchia. Ngày 20-7-1942, Sơn Ngọc Thành tổ chức một cuộc biểu tình
lớn đòi Pháp phải thả hết tù chính trị và trao trả quyền tự quyết cho dân tộc
https://thuviensach.vn
Campuchia.Cuộc biểu tình bị người Pháp dẹp tan và người Nhật không can
thiệp. Sơn Ngọc Thành phải trốn sang Nhật. Mấy năm sau, quân Nhật đảo
chánh quân Pháp, ép ông hoàng Sihanouk thành lập một chính phủ thân
Nhật, ra tuyên ngôn độc lập trong khối Thịnh vượng Đại Đông Á. Sơn
Ngọc Thành về nước làm Bộ trưởng ngoại giao. Mấy tháng sau, Nhật đầu
hàng Đồng Minh, và ngày 9-8-1945, Sơn Ngọc Thành đảo chánh tự đứng
lên làm Thủ tướng.
Lúc đó, tại châu Âu, Đức Quốc Xã đã đầu hàng chính phủ De Gaulle không
che giấu ý định trở lại Đông dương. Để cứu vãn tình thế, Sơn Ngọc Thành
mới thoả hiệp với Việt Minh để thành lập một mặt trận chung chống Pháp,
nhưng viên Bộ trưởng quốc phòng của ông đã phản bội, trốn xuống Sài
gòn, báo cho Pháp biết kế hoạch. Ngày 10-10-1945, liên quân Anh Pháp
Ấn tiến vào Phnom Penh bắt giam Sơn Ngọc Thành, tái lập chế độ thuộc
địa và cho Sihanouk trở lại làm vua. Sơn Ngọc Thành bị kết án hai mươi
năm khổ sai, đầy sang Vence rồi Poitiers. Ông được thả năm 1950, nhưng
uy tín ông cũng lu mờ dần. Sau giai đoạn hỗn loạn đó, hai phong trào giải
phóng quốc gia được thành lập. Ở phía tây, là phong trào Khmer Issarak,
được chính quyền Thái lan dung túng và giúp đỡ. Đây là phong trào gồm
nhiều thành phần, bảo hoàng có, phe Sơn Ngọc Thành có, tả phái có, kết
hợp lại cùng chung mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp. Ở phía đông, một
lãnh tụ Phật Giáo, nhà sư Achar Man, đã gia nhập đảng cộng sản Đông
dương khi bị tù ở Côn Đảo cùng với các tù nhân cộng sản Việt nam, trở nên
lãnh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản Campuchia với bí danh Sơn Ngọc
Minh (kết hợp hai tên Hồ Chí Minh và Sơn Ngọc Thành). Tuy thế, hai
phong trào này vẫn còn yếu ớt, cho nên trong chiến tranh Đông dương thứ
nhất, tình hình chiến sự Campuchia tương đối yên tĩnh. Khi chiến tranh
chấm dứt, hai phong trào này gần như tan rã.
Tại hội nghị Genève năm 1954, các lãnh tụ cộng sản Việt nam, Trung hoa,
Liên xô đã không đếm xỉa gì tới cộng sản Campuchia. Việt nam được nửa
https://thuviensach.vn
quốc gia phía bắc, cộng sản Lào được hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Saly.
Riêng cộng sản Campuchia một số phải lui vào bóng tối, một số khác giả
làm bộ đội Việt nam theo tàu Ba lan đi Hà nội. Một mình ông hoàng
Sihanouk là có quyền tuyên bố đã giành được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ
một cách hoà bình. Đối với đa số dân Campuchia, ông trở nên một anh
hùng giải phóng dân tộc. Nhưng dù khôn khéo đến đâu, ông cũng không
thể giữ cho quốc gia Campuchia đứng ngoài vòng tranh chấp của cuộc
chiến tranh Đông dương thứ hai và vận mạng không may của dân tộc
Campuchia đã phải trải qua từ thảm trạng này sang đến thảm trạng khác,
đúng như lời tiên đoán của ông nội ông:
Sẽ có ngày dân Campuchia sẽ phải
chọn lựa, hoặc bị tiêu diệt bởi con cọp, hay bị nuốt bởi con cá sấu. Xét bề
ngoài, Campuchia có một thời gian hoà bình từ 1954 đến 1970. Trong khi
trận chiến Đông dương thứ hai diễn ra ở Việt nam kéo dài gần hai mươi
năm, thì nội chiến Campuchia chỉ thực sự bùng nổ dữ dội từ 1970 đến
1975. Nhưng trong khoảng thời gian này, những diễn biến chính trị nội bộ
cùng nhưng biến chuyển ở Việt nam đã đưa đến sự phát triển của phong
trào cộng sản Campuchia, lần này được lãnh đạo bởi những tay lãnh đạo
mới, có khả năng hơn (tương đối có học nhất trong những lãnh tụ cộng sản
châu Á), và cuồng tín hơn. Vì thế, dù cuộc nội chiến chỉ xảy ra trong năm
năm nó đã gây ra những tổn hại nhân mạng, kinh tế và xã hội nghiêm trọng.
Nhân vật chính trị nổi bật nhất trong giai đoạn này vẫn là ông hoàng
Sihanouk. Ông là một người đa dạng. Tuỳ theo cách nhìn của mỗi người
ông ta có thể là một ông vua bình dân, một nhà độc tài, một chính trị gia
khôn khéo, một kẻ cơ hội, một nhà soạn nhạc dở hay một diễn viên điện
ảnh tồi, ông đã từng cộng tác với Pháp, với Nhật nhưng vẫn tự nhận là anh
hùng dân tộc. Khi thấy cộng sản mạnh, ông đi đôi với Trung quốc rồi Việt
cộng. Sau 1968, Việt cộng bị yếu đi, ông tìm cách trở lại kết thân với Mỹ.
Sau khi bị đảo chánh, ông theo Khmer Đỏ. Thoát được ra ngoài, ông đả
kích họ kịch liệt. Tuy ông không phải là một nhà lãnh đạo nhìn xa trông
rộng, nhưng trong cái hoàn cảnh chênh vênh của nước ông ở bên cạnh một
https://thuviensach.vn
quốc gia mà tình hình luôn luôn sôi động như Việt nam, sự khôn khéo và
đường lối chính trị đu dây của ông đã giúp ông lúc nào cũng là một trong
những nhân vật chính trong mọi hoàn cảnh.
Sau năm 1954, theo hiến pháp, Campuchia phải bầu cử quốc hội. Sợ rằng
các đảng đối lập có thể thắng cử và lập chính phủ, Sihanouk đang làm vua
tự ý thoái vị, nhường ngôi cho cha, rồi dùng uy tín cá nhân của mình kết
hợp những đảng phái ôn hoà và hữu phái lại thành một đảng, lấy tên là
Cộng đồng nhân dân xã hội (Sangkum Reasts Niyum). Cùng ra tranh cử
trong thời gian đó là những đảng viên của đảng Độc lập (phe Sơn Ngọc
Thành), đảng Nhân dân (của Keo Meas, cộng sản trá hình), đảng Dân chủ
(Thioun Mumm, cũng cộng sản). Nhờ uy tín cá nhân của Sihanouk, cũng
như nhờ gian lận và đàn áp, đảng Sangkum của Sihanouk chiếm được tất cả
các ghế trong quốc hội, nhưng ông ta vẫn không nương tay với các chính
khách đối lập, nhất là các cán bộ cộng sản. Chủ bút tờ báo cộng sản Cờ
Giải Phóng Pracheachon bị đánh đập, hành hung rồi chết vì vết thương hai
ngày sau đó. Thioun Mumm phải trốn về Pháp, Keo Meas trốn sang Bắc
Việt. Phong trào cộng sản Campuchia càng suy đồi hơn vào năm 1959, khi
lãnh tụ cộng sản số hai phụ trách nông thôn là Siêu Hung về hồi chánh, chỉ
điểm cho mật vụ của Sihanouk bắt bớ, phá hoại hết những cơ sở cộng sản ở
nông thôn.
Thời gian đó, các trí thức tả phái Khieu Samphan, Hou Youn đã tốt nghiệp
bên Pháp trở về dạy đại học và hoạt động cộng sản nằm vùng. Trong khi
đàn áp và tiêu diệt những tên cộng sản “xấu” ở trong nước, thì Sihanouk lại
kết thân với những chính quyền cộng sản “tốt” ở ngoài. Ông tuyên bố theo
đường lối trung lập không liên kết và gia nhập khối Á Phi. Đường lối này
rất phù hợp với Trung hoa, không muốn thấy Hoa kỳ có căn cứ hay ảnh
hưởng ở biên giới phía nam, và với Bắc Việt, vì Sihanouk đã làm ngơ để
cho Việt nam dùng đất Campuch...
Chiến tranh Đông dương 3
Hoàng Dung
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Thay lời tựa
P1
P2
P3
P4
P5
P6
P7
P8
P9
P10
P11
P12
P13
P14
Phần Kết
https://thuviensach.vn
Hoàng Dung
Chiến tranh Đông dương 3
Thay lời tựa
Tôi không biết phải gọi Hoàng Dung, tác giả cuốn sách này bằng danh hiệu
gì. Về nghề nghiệp ông là bác sĩ, nhưng chức vị bác sĩ sẽ không làm cho
giá trị cuốn sách này tăng lên một chút nào. Ông không phải là nhà văn,
mặc dù thỉnh thoảng có viết đôi bài đăng báo. Ngay cả ông là tác giả thiên
khảo cứu này, ông cũng không nhận là nhà biên khảo Có một điều chắc
chắn: ông là một người ưa đọc sách, có thói quen ghi lại những gì ông rút
tỉa được nơi những trang sách ông đã đọc.
Tôi biết Hoàng Dung từ khi chúng tôi còn thơ ấu. Trong sân trường trung
học Nguyễn Trãi, lúc trường này chưa có trụ sở riêng, còn học nhờ tại
trường Tiểu học Lê Văn Duyệt. Năm đó là năm 1957, tôi học Đệ Ngũ,
Hoàng Dung dưới tôi một lớp. Chúng tôi là bạn chơi banh trong trường.
Hai năm sau tôi rời Nguyễn Trãi lên Chu Văn An, một năm sau chúng tôi
gặp lại nơi trường Chu Văn An cũ, sau lưng trường Petrus Ký.
Khi lên Chu Văn An, là học sinh Trung học đệ nhị cấp, chúng tôi ít giao
https://thuviensach.vn
thiệp vì không còn đá banh, đá cầu trong sân trường nữa.
Hơn mười năm sau gặp lại Hoàng Dung tại Pleiku. Ông đã là một bác sĩ
quân y. Tuy là bạn thiếu thời, nhưng không phải đồng nghiệp nên thỉnh
thoảng chúng tôi mới gặp nhau trong Câu lạc bộ sĩ quan quân đoàn, và đôi
khi tệ hơn nữa là gặp nhau nơi bàn mạt chược. Dù gặp nhau ở nơi nào, ông
cũng cho người khác thấy ông là người ít nói, lặng lẽ. Nhưng không một ai
chối cãi được ông là một người tử tế. Ông tử tế với bạn là chuyện đương
nhiên, ông tử tế với binh sĩ dưới quyền. Ông là một y sĩ tận tình săn sóc
thương binh của ta và của dịch.
Thế rồi chúng tôi tan tác trong cuối mùa trận chiến. Đầu thập niên 80, gặp
lại nhau trên xứ người. Hoàng Dung đang đi học lại. Ông mới tới Mỹ một
thời gian ngắn, lại lao vào việc sách đèn để có thể đì hết con đường ông đã
chọn, để tiếp tục tuân thủ lời thề Hyppocrate. Nơi xứ người thỉnh thoảng
chúng tôi mới có cơ hội gặp nhau, khi thì tôi sang miền Đông, khi thì
Hoàng Dung sang Cai cho đỡ nhớ không khí nước Việt.
Cách đây gần một năm, Hoàng Dung gọi điện thoại đến tôi, ông muốn tôi
đọc hộ một tập bản thảo. Ông dứt khoát không hé lộ một chút gì về nội
dung cuốn sách, chỉ vắn tắt một câu: “ông đọc hộ tôi coi nó có ra cái giống
gì không” Buông điện thoại xuống tôi nghĩ tới Hoàng Dung, những đồng
nghiệp của ông, và thế hệ di dân đầu tiên, mà trong đó có Hoàng Dung và
cả tôi.
Rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta, sau khi đã an tâm về vật chất,
con người ta cần một món ăn tinh thần. Mỗi người đến với món ăn tinh
thần này một kiểu. Có người thành nhà văn, nhà thơ. Có người thành nhạc
sĩ, hoạ sĩ. Cũng không thiếu gì người trở thành ca sĩ trình diễn trong vòng
thân hữu, trong những party mừng sinh nhật, kỷ niệm thành hôn hay trong
các tiệc cưới. Có người trở thành những chuyên viên tranh đấu, có mặt
trong năm bẩy đoàn thể, tổ chức. Có người không làm gì cả, chỉ ngơ ngơ
ngác ngác nơi xứ người. Hoàng Dung không rơi vào những thông lệ trên.
Dù nghĩ gì thì nghĩ tôi không bao giờ tưởng tượng được Hoàng Dung,
người bạn thiếu thời, một quân y sĩ nhiều lương tâm, sống giản dị cho tới
năm ngoài 40 mới lập gia đình, lại có thể rơi vào cái vòng lợi, danh luẩn
https://thuviensach.vn
quẩn. Suốt mấy ngày liền, tôi bị cuốn sách của Hoàng Dung ám ảnh. Đã có
lúc tôi nghĩ là bạn tôi chắc là đang cơn quẫn trí, một mình lủi thủi một xó,
thành ra viết văn làm thơ cho nó bớt buồn. Dù sao chăng nữa ở nhà viết bất
cứ cái gì, cũng còn hơn mải mê trong những canh mạt chược, đắm đuối
trong chỗ ánh sáng mờ ảo của vũ trường.
Cầm cuốn bản thảo trong tay, một lần nữa những suy nghĩ về bạn cũ lộn
tùng phèo. Đó không phải là một tập truyện ngắn, không phải một tập thơ,
tập nhạc. Đó là tất cả những gì Hoàng Dung đọc trong những khi nhàn rỗi,
bởi vì ông làm việc cho một bệnh viện của một tỉnh nhỏ, thưa người. Tập
bản thảo là kết quả của một thời gian dài cặm cụi, nghiền ngẫm, ghi chép.
Hoàng Dung đặt tên cho cuốn sách của ông là: Trận chiến Đông dương hồi
III. Bên dưới tên của cuốn sách có chua một hàng chữ: Chiến tranh biên
giới Hoa Việt, Miên Việt 1979.
Ông đã từng là một nạn nhân của cộng sản, đã từng ở tù vài năm. Vừa mới
thoát khỏi hàng rào trại tù, là ông nhắm hướng biển Đông xông tới. May thì
đến được một bến bờ, không may thì thêm một mạng người chui vào bụng
cá. Nào có xá kể gì, vì sinh mạng con người trong thời khoảng vừa tàn cuộc
chiến, thật không khác gì sinh mạng một con kiến. Vài năm đầu tại Mỹ
Hoàng Dung chúi đầu vào việc học. Ông chỉ thật sự đọc sách sau khi đã tốt
nghiệp, đã thực tập và đã trở thành một y sĩ góp mặt với đời.
Sau giờ làm việc tại bệnh viện ông rảnh rỗi, mượn sách thư viện về nhà,
xúc tìm nơi những trang sách, về một đề tài ông rất quan tâm: Đó là những
trận đánh trong chiến tranh Đông dương hồi III. Hồi I là chiến tranh Việt
Pháp cho tới 1954, hồi II là chiến tranh Nam Bắc Việt nam cho tới 1975, và
hồi III là chiến tranh tại vùng biên giới, giữa các nước đã từng có thời là
đồng minh trong những trận chiến Đông dương cũ.
Để có thể liên kết nhiều tài liệu, nhiều tác giả với nhau, ông nẩy ra ý định
ghi chép lại. Ông ghi chú tất cả những điều gì cần ghi chú, sắp xếp cho
thành từng chương sách, liên hệ cách nhìn của các tác giả, và rút ra cách
nhìn của riêng ông. Nội dung tập bản thảo dầy hơn 200 trang, viết về các
trận đánh biên giới xẩy ra năm 1979, giữa ba quốc gia đã từng có một thời
là anh em, môi hở răng lạnh, đã từng là hậu phương lớn với tiền tuyến lớn:
https://thuviensach.vn
Campuchia-Việt nam-Trung hoa.
Chỉ mới ngốn được hai trang đầu, tôi biết là tôi đã bất gặp một cuốn sách
đặt đúng vấn đề.
Tôi nhớ lại, trong khi trận chiến giữa Việt nam và Trung hoa đang xẩy ra
khốc liệt, cũng như chiến tranh Việt nam và Campuchia tới giai đoạn một
mất một còn. Không biết người Việt trong nước nghĩ gì, nhưng tại hải ngoại
trong lòng người Việt ly hương là một mớ suy nghĩ hỗn độn. Chẳng lẽ lại
ca tụng Trung quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt từ phương Bắc. Lại
càng không thể cổ võ bạo quyền cộng sản trong nước, khi mà hàng trăm
ngàn sĩ quan, công chức của miền Nam còn đang lê những tấm thân tàn
trong các xó núi, góc rừng.
Thành thử trong khi cả nước từ Bắc chí Nam, bất kể đảng viên cộng sản
hay là dân chúng, đang oằn người chịu đựng một cuộc chiến tranh khác, thì
ngoài nước không một cá nhân nào, một tổ chức nào có một cái nhìn tương
đối dứt khoát, đối với một tai hoạ mới đang diễn ra với anh em, ruột thịt
đồng bào.
Hoàng Dung có mặt trong nước khi chiến tranh biên giới xẩy ra, nhưng
người cộng sản có bao giờ thông tin cho dân chúng một cách trung thực.
Cái mà ông đọc ở báo chí trong nước, chỉ là những mớ bùi nhùi chữ nghĩa,
chỉ là những khẩu hiệu ca tụng chiến thắng rất kêu, hệt như những tiếng
phèng la của những tay Sơn Đông mãi võ.
Ông muốn tìm hiểu việc gì đã đích thực xẩy ra. Do đó ngay khi điều kiện
sinh sống cho phép, ông vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà sử học,
của các ký giả ngoại quốc đã viết về trận chiến tranh này. Nhân tiện ông ghi
lại cho những bạn đồng tù của ông, hay bất cứ ai muốn tìm hiểu trận chiến
này. Ông vẽ tại các cuộc chuyển quân của cả ba nước cộng sản tham chiến:
Hoa, Việt, Miên. Ông cũng ghi lại những biến chuyển nhân sự, những con
người trồi lên tụt xuống trong Chính trị Bộ Bắc Việt, hay trong Trung Nam
Hải Bắc kinh, cũng như trong rừng già nhiệt đới Campuchia, để những
người đọc ông, có thể hên kết những biến chuyển chính trị, xạ chiếu trên
mặt trận quân sự như thế nào.
Cách ông viết giống như ông đã trình bầy luận án, do đó cuốn sách có một
https://thuviensach.vn
cái nhìn nhất quán, trình bầy sáng sủa mạch lạc, tài liệu tra cứu dồi dào, với
những phụ bản cần thiết. Chỉ cần đọc chương chót cuốn sách, chương ghi
chú sơ lược về các nhân vật cuốn sách nói tới, người đọc sẽ thấy cái cần cù
của tác giả. Mỗi một nhân vật đều có một vài dòng tiểu sừ, ghi năm sinh,
năm chết, giữ chức vụ gì, tại sao bị thanh trừng... Bảng danh sách này gồm
có 166 nhân vật Việt, Hoa, Miên, Lào, Nga, Mỹ, Pháp. Tôi chọn thử một
nhân vật:
Đinh Bá Thi: Tên thật là Ung Văn Chương, được Lê Duẩn nâng đỡ, nhờ
bầy kế để Duẩn lấy người vợ thứ ba. Đại diện Việt nam tại Liên hiệp quốc
sau 1975, bị triệu hồi năm 1978 sau một vụ án gián điệp. Có tin bị công an
đặc biệt của Việt nam giết vì đã móc nối với Trung hoa”.
Một thí dụ khác: “Kayxon Phomvihan (AL): Tổng bí thư Đảng cộng sản
Lào, sau 1975 làm Thủ tướng Lào. Tên thật không rõ, con của Nguyễn Trí
Loan, một công chức người Việt tại Lào”.
Ông cũng thiết lập một danh sách 37 đại đơn vị của Việt nam, từ cấp Sư
Đoàn trở lên, được thành lập trong thời điểm nào, và vùng hoạt động trong
các trận đánh cùng với Trung quốc và Miên Cộng.
Đánh giá lại trận chiến này là một việc làm cần thiết cho người Việt lưu
vong, bởi vì khi khối cộng sản tan thành mảnh nhỏ tại Đông Âu, và cả nước
Nga, đã khai sinh lại nhiều quốc gia trên bản đồ thế giới. Trong việc khai
sinh những quốc gia này, máu đã đổ không ít giữa những người có thời là
đồng chủng, tại Nam Tư, cũng như tại Liên xô, huống hồ giữa hai sắc dân
hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ cũng như chủng tộc giữa nòi Việt và nòi
Hán, hay những oán thù chủng tộc giữa người Việt và người Khmer. Những
tranh chấp lãnh hải trong vùng biển Đông, nơi lưu trữ một nguồn hơi đốt và
dầu hoả, có thể không thua lượng dầu thô dự trữ tại bán đảo ả Rập. Số
lượng tài nguyên này chưa biết có đủ tốt để khai thác kỹ nghệ không.
Nhưng có thể nó sẽ là một liều thuốc nổ, khơi ngòi chiến tranh trong một
vài năm tới.
Một cuộc chiến nữa có thể xẩy ra giữa các nước trong vùng Đông Nam Á
là một điều khả tín.
Vì thế ước vọng khiêm nhường của Hoàng Dung, tác giả của cuốn sách này
https://thuviensach.vn
chỉ mong mỏi: Cuốn sách sẽ là bước đầu tìm hiểu các cỗi rễ, những căn
nguyên, cũng như những yếu tố đã đưa tới chiến tranh giữa Việt nam và hai
nước lân bang. Để nếu không giải quyết được thì cũng làm giảm đi sự nghi
kỵ và lòng thù hận, hoặc tăng thêm sự cảnh giác về mối đe doạ thường trực
của đất nước.
Hoàng Dung là một ngạc nhiên trong đời sống tôi. Biết nhau suốt 40 năm
tôi chưa bao giờ có dịp nhìn ông thật kỹ. Cuốn sách cho tôi biết một điều:
Có những con người bình thường mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày, tưởng
như đã hiểu, đã biết rõ về họ. Kịp cho tới khi có một việc không bình
thường xẩy ra, mới là dịp để chúng ta biết con người đó đích thật nghĩ gì,
làm gì?
Nếu như ông gửi tới tôi bản thảo một tập truyện ngắn, một tập thơ thì có
thể ông sẽ là một “nhà văn y sĩ”, như một số cây bút, hay chua thêm chữ
MD dưới tên tác giả mỗi khi viết bài. Nếu ông viết một tài liệu y khoa tôi
đã không ngạc nhiên, mà tài liệu y khoa thì chắc chắn người nhận là các
đồng nghiệp của ông. Tôi biết gì về thuốc men, về bệnh trạng, về cơ thể
con người?
Đọc xong tập bản thảo, tôi biết ông là người như thế nào ông là một người
học thức khoa bảng với cấp bằng ông hiện có, với nghề nghiệp ông đang
làm, nhưng đồng thời ông cũng là trí thức. Chữ trí thức với nghĩa giản dị,
khiêm tốn và đúng nghĩa nhất của danh từ này.
Xin thành thật cám ơn người bạn thuở thiếu thời, mà mãi tới 40 năm sau tôi
mới có dịp nhận biết con người thực sự, ẩn sâu trong những công việc ông
đã làm cho chính ông, cho bằng hữu, cho bệnh nhân. Bất kể bệnh nhân ấy
là ai, làm gì, từ đâu tới
Xin cám ơn cuốn sách Chiến Tranh Đông dương III, tác phẩm đã soi tỏ cho
tôi những điều tù mù tăm tối của hơn mười lăm năm trước.
Hoàng Khởi Phong
Ghi nhận của Hoàng Dung, bìa Khánh Trường, trình bày Cao Xuân Huy,
Văn Nghệ xuất bản Califomia USA ISBN 1-886566-85-2
Copyright 2000 by Văn Nghệ
https://thuviensach.vn
Hoàng Dung
Chiến tranh Đông dương 3
P1
Sơ lược lịch sứ Cam pu chia từ lập quốc đến thời cận đại
https://thuviensach.vn
Lịch sử Việt nam từ khi lập quốc
đã luôn luôn có những quan hệ
thăng trầm với Trung hoa. Văn
minh Trung hoa đã ảnh hường
nhiều đến dân tộc Việt nam trong
cả thời kỳ bị đô hộ hay thời kỳ độc
lập. Do đó, người Việt nam đã biết
nhiều về văn hoá cũng như lịch sử
của Trung hoa, nhưng đã rất mù
mờ về hai quốc gia lân bang khác ở
phía tây là Lào và Campuchia, chỉ
vì hai quốc gia này đã không gây
nhiều ảnh hưởng đến an ninh lãnh
thổ cũng như nếp sống văn hoá xã
hội của Việt nam.
https://thuviensach.vn
Một trong những nguyên nhân sâu xa đưa đến cuộc chiến tranh Đông
dương thứ ba hay cuộc chiến tranh hậu chiến là mối thù hận lâu đời của
người Campuchia đối với người Việt Mối thù hận này, ít có người Việt nào
để ý đến nhiều, mặc dù đã kéo dài suất trong lịch sử mấy trăm năm nay, kể
từ khi Việt nam đã thôn tính xong nước Chiêm Thành, và trở nên một lân
quốc của Campuchia.
Cũng như lịch sử Việt nam, nguồn gốc lập quốc của Campuchia rất mơ hồ.
Người ta chỉ biết tại vùng đất trước kia từng thuộc Campuchia đã có người
sinh sống từ hai ngàn năm trước Tây lịch. Quốc gia đầu tiên được biết đến
ở phần đất này là Phù Nam, khi thứ sử Giao Châu là Sĩ Nhiếp năm 220 báo
cáo về triều đình Đông Hán là đất Giao Châu (Việt nam hồi đó) bị quân
Lâm ấp (sau là Chiêm Thành) và Phù Nam quấy nhiễu. Năm 245, vua Tàu
nhà Hán có gửi một sứ bộ đến Phù Nam. Một trong những sứ giả là Khang
Thái, khi về nước đã viết về quốc gia này. Theo ông, người sáng lập ra
vương quốc là vua Kaundinya. Ông đến từ Ấn độ, đánh bại nữ hoàng Liệu
Yeh rồi kết hôn với bà này. Tuy nhiên, cũng như người Việt từng tự hào là
con rồng cháu tiên, người Khmer cũng huyền thoại hoá lịch sử của họ. Trên
một bia dá tìm thấy ở Phú Yên, có khắc một chuyện thần tiên, trong đó kể
lại vua Kaundinya có một cây thương thần và đã kết hôn với con gái của
thần rắn Nga. Do đó mà về sau, thần rắn trở nên một biểu tượng cho nguồn
gốc thần thánh của dân tộc Campuchia.
Đế quốc Phù Nam, cũng như tất cả những đế quốc khác, sau một thời gian
hưng thịnh, rồi cũng bị sụp đổ vào thế kỷ thứ sáu do cuộc nổi loạn của một
quốc gia chư hầu là Chân Lạp. Theo sử nhà Tuỳ, Chân Lạp là một nước
nhỏ ở phía tây nam Lâm ấp (vùng rừng núi Ratakini ở phía tây của Kontum
và Pleiku) và dân tộc Chân Lạp cũng thuộc giống dân Khmer. Sau khi tiêu
diệt triều đình Phù Nam, vương quốc Chân Lạp luôn luôn có nội chiến, và
https://thuviensach.vn
đến năm 706 thì lãnh thổ bị chia làm hai nước: Thượng hay Thổ Chân Lạp,
và Hạ hay Thuỷ Chân Lạp.
Năm 802, vua Jayavarman II, một vị vua sáng suốt của Thổ Chân Lạp lên
ngôi. Ông thống nhất hai nước, củng cố hành chánh, đổi tên nước là
Kambuja, tên nguyên thuỷ của Campuchia, dời đô về Angkor, mở đầu một
kỷ nguyên vàng son. Những vị vua kế nghiệp ông đã xây thêm nhiều đền
đài lăng tẩm, nhất là cha con vua Indravarman (877- 900) đã phát triển hệ
thống dẫn thuỷ nhập điền, đào những con kinh rộng hơn cây số, những hồ
chứa nước, mở ra một cuộc “cách mạng xanh” khiến cho đất đai
Campuchia có thể sản xuất lương thực dồi dào cho suốt mấy trăm năm.
Một vị vua nổi tiếng khác, vua Suryavarman II (1113- 1150) đã bành
trướng đất đai đến bán đảo Malaysia, đánh phá Chiêm Thành, và xây dựng
ngôi đền Đế thích Angkor Wat, một công trình kiến trúc nổi tiếng nhất
Đông Nam Á. Sau khi vua Suryavarman II băng hà, thành Angkor bị người
Chiêm Thành tấn công, và vua Jayavarman VII sau đó lên ngôi. Ông có lẽ
là vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Campuchia. Ông hưng binh phục hận
và chinh phục Chiêm Thành, biến nước này thành chư hầu, mở rộng lãnh
thổ. Đồng thời ông đào thêm kinh rạch, xây dựng Đế Thiên Angkor Thom
và đền Bayon, cùng hơn một trăm ngôi nhà nghỉ mát. Nhưng những chiến
công của ông và những công trình vĩ đại đó đã phải trả một giá rất đắt. Dân
chúng phải làm việc như nô lệ để xây dựng và trùng tu cung điện, đền đài.
Trai tráng bị cưỡng bách tòng quân chinh chiến liên miên. Tài nguyên quốc
gia bị kiệt quệ, và ngay sau khi vua Jayavarman VII qua đời, những gì ông
thực hiện được hoàn toàn tan rã.Tuy nhiên, những công trình xây dựng và
những chiến công hiển hách của ông đã trở nên niềm hứng khởi cũng như
mối ám ảnh cho đường lối cai trị cuồng điên của những lãnh tụ Khmer Đỏ
sau này.
Sau khi vua Jayavarman VII qua đời (năm 1228), triều đại Angkor bắt đầu
suy tàn, khởi đầu là nước Chiêm Thành thâu hồi độc lập. Từ đó, người
https://thuviensach.vn
Chiêm Thành và người Thái liên tiếp tấn công thủ đô, triều đình phải di
chuyển về Phnom Penh (1434), rồi Lovek (15161. Đế Thiên Đế Thích bị bỏ
hoang. Năm 1594, quân đội Thái tấn công chiếm được kinh thành Lovek.
Họ đô hộ cả quốc gia, tịch thu và cướp bóc của cải, bắt đem về Thái lan
hàng chục ngàn thợ giỏi, trí thức, nghệ sĩ, tăng sĩ. Dù cho về sau, dân
Campuchia đã nổi dậy đánh đuổi được quân Thái lan, nhưng cũng kể từ lúc
đó, người Campuchia không còn năng lực sản xuất được những công trình
mỹ thuật và kiến trúc vĩ đại như xưa, Quốc gia Campuchia không bao giờ
hồi phục lại phong độ cũ
Cũng trong giai đoạn suy tàn đó, vào thế kỷ thứ mười bảy, Việt nam đã
thôn tính xong quốc gia Chiêm Thành và trở nên một lân quốc trực tiếp của
Campuchia.Bị nằm kẹt giữa hai quốc gia hùng mạnh đang phát triển,
Campuchia chỉ có một cách duy nhất để sống còn là hoặc thần phục Thái
lan, hoặc thần phục Việt nam, có khi đồng thời thần phục cả hai nước.
Nhưng vì nhu cầu bành trướng lãnh thổ của Việt nam, và vì nội bộ triều
đình Campuchia luôn luôn lủng củng, lãnh thổ quốc gia Campuchia dần
dần bị thu hẹp. Tới thế kỷ thứ mười chín thì Việt nam đã chiếm hết lãnh thổ
Thuỷ Chân Lạp cũ, và nếu người Pháp không can thiệp vào Đông dương,
có lẽ quốc gia Campuchia đã biến mất.
Người Pháp bắt đầu can thiệp vào nội tình Đông dương vào thế kỷ thứ
mười chín. Lúc đó người Anh đã chiếm được Ấn độ, Malaysia và người
Pháp đang cần một đầu cầu để đi vào thị trường rộng lớn Nam Trung hoa.
Trong thời gian đó, Nhật bản có Minh Trị Thiên Hoàng, Thái lan có vua
Mongkut có đầu óc canh tân, thì những vị vua triều Nguyễn đã vụng về thi
hành chính sách bế quan toả cảng và đàn áp đạo Thiên Chúa, khiến cho
người Pháp có cớ để tấn công Việt nam. Từ năm 1851, sau khi vua Tự Đức
ký dụ cấm đạo, các tướng Pháp Grenouilly, Charner liên tiếp bắn phá Đà
Nẵng và rồi Bonard, De Lagrandière lần lượt chiếm hết sáu tỉnh Nam Kỳ
làm thuộc địa. Tiếp theo, người Pháp bắt đầu dòm ngó Campuchia. Tháng
https://thuviensach.vn
9.1862, Bonard đích thân sang thăm vua Norodom (Nặc Ông Chân), yêu
cầu nhà vua nhận cho Pháp bảo hộ. Nhà vua còn trù trừ thì năm sau,
Lagrandière sợ nếu để trì hoãn lâu thì Thái lan sẽ nhảy vào tranh giành ảnh
hưởng nên đã đích thân lên Phnom Penh gặp Norodom, ép nhà vua ký hiệp
ước bảo hộ vào tháng 7-1863.
Mới đầu, người Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và Campuchia với mục đích
tìm đường đi đến Nam Trung hoa. Một phái đoàn thám hiểm ngược dòng
sông Cửu Long được thành lập, do De Lagrée làm trưởng phái đoàn,
Francis Garnier phụ tá. De Lagrée bị chết trong chuyến thám hiểm, còn
Garnier đến được Vân Nam. Phái đoàn nhận thấy không thể dùng tàu bè
ngược sông Cửu Long để lên Vân Nam, nhưng tại Vân Nam, Garnier gặp
Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa), một thương gia, Jean Dupuis xúi Garnier yêu
cầu Thống Đốc Nam Kỳ Duprée can thiệp để Dupuis có thể dùng sông
Hồng Hà để sang Vân Nam buôn bán. Garnier được cử đem quân ra Hà nội
dàn xếp, và sau mấy ngày thương thuyết không xong, Garnier tấn công và
lấy được thành Hà nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử, Garnier sau đó cũng bị
quân Cờ Đen phục kích giết chết.
Thấy không sử dụng được sông Cửu Long, người Pháp tìm cách khai thác
những mối lợi khác. Năm 1884, họ đòi vua Norodom phải ký thoả ước để
người Pháp được nắm toàn quyền về hành chánh, tư pháp, tài chánh,
thương mại và thu tất cả mọi thứ thuế. Vua Norodom từ chối, Lagrandière
tự đem tàu chiến lên Phnom Penh, vào tận hoàng cung, ép vua Norodom
phải ký.
Tự ái dân tộc bị tổn thương, nhân dân Campuchia nổi loạn dưới sự lãnh đạo
của hoàng thân Si Vatha. Người Pháp phải đánh dẹp hai năm mới yên. Vua
Norodom chết năm 1904, em của ông là Sisowath nối ngôi, trị vì đến năm
1927 thì con là Monivong nối nghiệp. Nhưng khi Monivong mất năm 1941
thì toàn quyền Decoux lại chọn Sihanouk là chắt của vua Norodom lên ngôi
https://thuviensach.vn
vua, chỉ vì lúc đó ông ta còn trẻ và người Pháp nghĩ là ham chơi, thiếu kinh
nghiệm.
Nước Campuchia, dưới sự bảo hộ của Pháp, có được một thời kỳ tương đối
yên tĩnh, và họ cũng may mắn không bị liên quan nhiều đến thế chiến thứ
hai. Tuy rằng mối quan tâm chính của người Pháp là bóc lột tài nguyên và
nhân lực của dân bản xứ, nhưng họ đã bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của
Campuchia và đã làm được vài công trình có lợi ích. Trước hết là sự phát
hiện và trùng tu những lăng tẩm Đế Thiên Đế Thích, làm sống lại một thời
đại vàng son rực rỡ của quốc gia Campuchia khơi dậy niềm tự hào dân tộc.
thứ hai là họ đã canh tân hệ thống giáo dục, mở mang dân trí, trong đó có
sự thành lập hai cơ sở chính là Viện nghiên cứu Phật học và trường trung
học Sisowath. Hai cơ sở này đã là nơi đào tạo ra những lãnh tụ tương lai
của Campuchia.
Viện nghiên cứu Phật học Phnom Penh được thành lập năm 1930, với sư
giúp đỡ của một học giả người Tháp bà Suzanne Karpelès, một nhân viên
thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà nội. Viện chủ trương phát huy những
tinh tuý của Phật Giáo tiểu thừa gạt bỏ những lễ nghi mê tín, đồng thời làm
sống lại niềm kiêu hãnh và khát vọng của nhân dân Campuchia. Trong một
xứ không có giai cấp sĩ phu hay quan lại và Phật Giáo được coi gần như là
quốc giáo, tầng lớp sư sãi đã có một uy tín và ảnh hưởng rất lớn. Họ sống
khổ hạnh, đạo đức. Họ nuôi cô nhi, làm việc thiện, dạy dỗ trẻ con. Người
Campuchia khắp nơi đổ về học, nhất là những người Khmer Hạ từ vùng
đồng bằng Cửu long trước kia là Thuỷ Chân Lạp nay đã thuộc Việt nam.
Trong công cuộc phục hưng văn hoá cổ truyền, Viện Phật học đã gián tiếp
phát huy tinh thần quốc gia chóng thực dân và bài Việt nam.
Một cơ sở giáo dục khác, trường trung học Sisowath, được coi như nơi tập
trung những tinh hoa của giới học sinh. Qua hội ái hữu cựu học sinh, họ đã
qui tụ được một nhóm trí thức sau này trở nên những lãnh tụ chính trị, mà
https://thuviensach.vn
tư tưởng cũng như khuynh hướng chính trị dù rất khác nhau của họ đã có
ảnh hưởng quan trọng đến vận mạng của dân tộc Campuchia suốt mấy chục
năm qua.
Người lãnh tụ quốc gia đầu tiên của Campuchia trong giai đoạn này là ông
Sơn Ngọc Thành. Theo ông hoàng Sihanouk, ông Sơn Ngọc Thành là anh
em của Sơn Ngọc Minh, lãnh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản
Campuchia, và Sơn Thái Nguyên, cựu nghị sĩ Quốc hội Việt nam cộng hoà
- nhưng chi tiết này có lẽ không xác thực, vì ông hoàng Sihanouk đã rất
ganh ghét Sơn Ngọc Thành - Sơn Ngọc Thành là một người Khmer Hạ,
sinh trưởng ở vùng đồng bằng Cửu Long, học hết trung học ở Việt nam, sau
đó sang Pháp học Luật, và mấy năm sau, dù chưa tốt nghiệp, ông trở về
Phnom Penh. Với trình độ học vấn của ông lúc đó, ông trở nên một nhân
vật quan trọng trong Viện Phật Học và là một gạch nối quan trọng giữa tầng
lớp sư sãi và nhóm tri thức cựu học sinh Sisowath. Nhóm trí thức này phần
lớn có địa vị, có khả năng tài chánh, có kiến thức chính trị, trong khi tầng
lớp sư sãi lại có uy tín và tổ chức sâu rộng trong quần chúng. Năm 1936,
Sơn Ngọc Thành xuất bản tờ báo Nagaravatta. Dưới danh nghĩa truyền bá
Phật Giáo và bảo tồn văn hoá, tờ báo kêu gọi đấu tranh giành độc lập. Tờ
báo cũng cực lực công kích sự ưu đãi của người Pháp dành cho người Việt
khi họ dùng người Việt trong những chức vụ hành chánh ở Campuchia.
Mấy năm sau, thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Nhật tiến vào Campuchia,
nhưng vẫn để người Pháp duy trì bộ máy hành chánh. Lo sợ trước cao trào
đấu tranh của dân bản xứ, năm 1942, người Pháp đóng cửa tờ báo
Nagaravatta, bắt giữ lãnh tụ Phật Giáo Hem Cheav. Nhà sư này sau đó chết
trong tù tại Côn Đảo.
Việc bắt giữ cao tăng Hem Cheav đã gây phẫn nộ trong dân chúng
Campuchia. Ngày 20-7-1942, Sơn Ngọc Thành tổ chức một cuộc biểu tình
lớn đòi Pháp phải thả hết tù chính trị và trao trả quyền tự quyết cho dân tộc
https://thuviensach.vn
Campuchia.Cuộc biểu tình bị người Pháp dẹp tan và người Nhật không can
thiệp. Sơn Ngọc Thành phải trốn sang Nhật. Mấy năm sau, quân Nhật đảo
chánh quân Pháp, ép ông hoàng Sihanouk thành lập một chính phủ thân
Nhật, ra tuyên ngôn độc lập trong khối Thịnh vượng Đại Đông Á. Sơn
Ngọc Thành về nước làm Bộ trưởng ngoại giao. Mấy tháng sau, Nhật đầu
hàng Đồng Minh, và ngày 9-8-1945, Sơn Ngọc Thành đảo chánh tự đứng
lên làm Thủ tướng.
Lúc đó, tại châu Âu, Đức Quốc Xã đã đầu hàng chính phủ De Gaulle không
che giấu ý định trở lại Đông dương. Để cứu vãn tình thế, Sơn Ngọc Thành
mới thoả hiệp với Việt Minh để thành lập một mặt trận chung chống Pháp,
nhưng viên Bộ trưởng quốc phòng của ông đã phản bội, trốn xuống Sài
gòn, báo cho Pháp biết kế hoạch. Ngày 10-10-1945, liên quân Anh Pháp
Ấn tiến vào Phnom Penh bắt giam Sơn Ngọc Thành, tái lập chế độ thuộc
địa và cho Sihanouk trở lại làm vua. Sơn Ngọc Thành bị kết án hai mươi
năm khổ sai, đầy sang Vence rồi Poitiers. Ông được thả năm 1950, nhưng
uy tín ông cũng lu mờ dần. Sau giai đoạn hỗn loạn đó, hai phong trào giải
phóng quốc gia được thành lập. Ở phía tây, là phong trào Khmer Issarak,
được chính quyền Thái lan dung túng và giúp đỡ. Đây là phong trào gồm
nhiều thành phần, bảo hoàng có, phe Sơn Ngọc Thành có, tả phái có, kết
hợp lại cùng chung mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp. Ở phía đông, một
lãnh tụ Phật Giáo, nhà sư Achar Man, đã gia nhập đảng cộng sản Đông
dương khi bị tù ở Côn Đảo cùng với các tù nhân cộng sản Việt nam, trở nên
lãnh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản Campuchia với bí danh Sơn Ngọc
Minh (kết hợp hai tên Hồ Chí Minh và Sơn Ngọc Thành). Tuy thế, hai
phong trào này vẫn còn yếu ớt, cho nên trong chiến tranh Đông dương thứ
nhất, tình hình chiến sự Campuchia tương đối yên tĩnh. Khi chiến tranh
chấm dứt, hai phong trào này gần như tan rã.
Tại hội nghị Genève năm 1954, các lãnh tụ cộng sản Việt nam, Trung hoa,
Liên xô đã không đếm xỉa gì tới cộng sản Campuchia. Việt nam được nửa
https://thuviensach.vn
quốc gia phía bắc, cộng sản Lào được hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Saly.
Riêng cộng sản Campuchia một số phải lui vào bóng tối, một số khác giả
làm bộ đội Việt nam theo tàu Ba lan đi Hà nội. Một mình ông hoàng
Sihanouk là có quyền tuyên bố đã giành được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ
một cách hoà bình. Đối với đa số dân Campuchia, ông trở nên một anh
hùng giải phóng dân tộc. Nhưng dù khôn khéo đến đâu, ông cũng không
thể giữ cho quốc gia Campuchia đứng ngoài vòng tranh chấp của cuộc
chiến tranh Đông dương thứ hai và vận mạng không may của dân tộc
Campuchia đã phải trải qua từ thảm trạng này sang đến thảm trạng khác,
đúng như lời tiên đoán của ông nội ông:
Sẽ có ngày dân Campuchia sẽ phải
chọn lựa, hoặc bị tiêu diệt bởi con cọp, hay bị nuốt bởi con cá sấu. Xét bề
ngoài, Campuchia có một thời gian hoà bình từ 1954 đến 1970. Trong khi
trận chiến Đông dương thứ hai diễn ra ở Việt nam kéo dài gần hai mươi
năm, thì nội chiến Campuchia chỉ thực sự bùng nổ dữ dội từ 1970 đến
1975. Nhưng trong khoảng thời gian này, những diễn biến chính trị nội bộ
cùng nhưng biến chuyển ở Việt nam đã đưa đến sự phát triển của phong
trào cộng sản Campuchia, lần này được lãnh đạo bởi những tay lãnh đạo
mới, có khả năng hơn (tương đối có học nhất trong những lãnh tụ cộng sản
châu Á), và cuồng tín hơn. Vì thế, dù cuộc nội chiến chỉ xảy ra trong năm
năm nó đã gây ra những tổn hại nhân mạng, kinh tế và xã hội nghiêm trọng.
Nhân vật chính trị nổi bật nhất trong giai đoạn này vẫn là ông hoàng
Sihanouk. Ông là một người đa dạng. Tuỳ theo cách nhìn của mỗi người
ông ta có thể là một ông vua bình dân, một nhà độc tài, một chính trị gia
khôn khéo, một kẻ cơ hội, một nhà soạn nhạc dở hay một diễn viên điện
ảnh tồi, ông đã từng cộng tác với Pháp, với Nhật nhưng vẫn tự nhận là anh
hùng dân tộc. Khi thấy cộng sản mạnh, ông đi đôi với Trung quốc rồi Việt
cộng. Sau 1968, Việt cộng bị yếu đi, ông tìm cách trở lại kết thân với Mỹ.
Sau khi bị đảo chánh, ông theo Khmer Đỏ. Thoát được ra ngoài, ông đả
kích họ kịch liệt. Tuy ông không phải là một nhà lãnh đạo nhìn xa trông
rộng, nhưng trong cái hoàn cảnh chênh vênh của nước ông ở bên cạnh một
https://thuviensach.vn
quốc gia mà tình hình luôn luôn sôi động như Việt nam, sự khôn khéo và
đường lối chính trị đu dây của ông đã giúp ông lúc nào cũng là một trong
những nhân vật chính trong mọi hoàn cảnh.
Sau năm 1954, theo hiến pháp, Campuchia phải bầu cử quốc hội. Sợ rằng
các đảng đối lập có thể thắng cử và lập chính phủ, Sihanouk đang làm vua
tự ý thoái vị, nhường ngôi cho cha, rồi dùng uy tín cá nhân của mình kết
hợp những đảng phái ôn hoà và hữu phái lại thành một đảng, lấy tên là
Cộng đồng nhân dân xã hội (Sangkum Reasts Niyum). Cùng ra tranh cử
trong thời gian đó là những đảng viên của đảng Độc lập (phe Sơn Ngọc
Thành), đảng Nhân dân (của Keo Meas, cộng sản trá hình), đảng Dân chủ
(Thioun Mumm, cũng cộng sản). Nhờ uy tín cá nhân của Sihanouk, cũng
như nhờ gian lận và đàn áp, đảng Sangkum của Sihanouk chiếm được tất cả
các ghế trong quốc hội, nhưng ông ta vẫn không nương tay với các chính
khách đối lập, nhất là các cán bộ cộng sản. Chủ bút tờ báo cộng sản Cờ
Giải Phóng Pracheachon bị đánh đập, hành hung rồi chết vì vết thương hai
ngày sau đó. Thioun Mumm phải trốn về Pháp, Keo Meas trốn sang Bắc
Việt. Phong trào cộng sản Campuchia càng suy đồi hơn vào năm 1959, khi
lãnh tụ cộng sản số hai phụ trách nông thôn là Siêu Hung về hồi chánh, chỉ
điểm cho mật vụ của Sihanouk bắt bớ, phá hoại hết những cơ sở cộng sản ở
nông thôn.
Thời gian đó, các trí thức tả phái Khieu Samphan, Hou Youn đã tốt nghiệp
bên Pháp trở về dạy đại học và hoạt động cộng sản nằm vùng. Trong khi
đàn áp và tiêu diệt những tên cộng sản “xấu” ở trong nước, thì Sihanouk lại
kết thân với những chính quyền cộng sản “tốt” ở ngoài. Ông tuyên bố theo
đường lối trung lập không liên kết và gia nhập khối Á Phi. Đường lối này
rất phù hợp với Trung hoa, không muốn thấy Hoa kỳ có căn cứ hay ảnh
hưởng ở biên giới phía nam, và với Bắc Việt, vì Sihanouk đã làm ngơ để
cho Việt nam dùng đất Campuch...
 





