Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chu Trọng Huyến)

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:18' 07-05-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:18' 07-05-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
VŨ TRỌNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đào tạo được nhiều học trò xuất sắc, trong
đó Võ Nguyên Giáp là một trong những học trò gần gũi,
xuất sắc của Người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn
ghi nhớ và làm theo lời dạy của Bác Hồ, là một tấm
gương điển hình về đạo đức của người cách mạng, về đặt
quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết.
Lịch sử nước nhà mãi lưu danh hai nhân vật vĩ đại:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc,
danh nhân văn hóa kiệt xuất và Đại tướng Võ Nguyên
Giáp - vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự, người
Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người học
trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử đã đưa
hai con người xuất chúng ấy đến gần nhau, trở thành
hai thầy trò, hai người đồng chí, hai người tri kỷ để
làm nên hai cái tên mà chắc là lịch sử sẽ luôn nhắc tới.
Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường,
thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng như
nhằm góp phần giáo dục, phát huy truyền thống yêu
nước, tiếp tục đẩy mạnh cuộc Học tập và làm theo tấm
gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với
5
Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn sách Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cuốn sách đề cập những câu chuyện hết sức chân
thực về mối quan hệ gần gũi, thân tình giữa Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về những
dấu mốc đã đưa Đại tướng đến gần với Bác, về sự thiên
tài nhãn quan của Bác trong việc phát hiện nhân tài
cho đất nước.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình
biên soạn cuốn sách, nhưng đây là đề tài lớn nên khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của bạn đọc để nội dung cuốn sách
được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 7 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những
học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Trong những năm tháng được sống và
làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, được
Người giáo dục, rèn luyện, tin tưởng trao trọng
trách lớn, Đại tướng đã nỗ lực học tập đạo đức, tác
phong của vị lãnh tụ tối cao và luôn luôn tranh thủ
sự giúp đỡ của đồng nghiệp các cấp, phấn đấu để trở
thành một vị tướng kiệt xuất, có những đóng góp to
lớn vào công cuộc đấu tranh cách mạng vẻ vang của
dân tộc.
Nội dung cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
tướng Võ Nguyên Giáp chủ yếu tập trung đề cập mối
quan hệ làm việc, cộng tác gần gũi giữa Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với nhà quân sự
chiến lược Võ Nguyên Giáp từ những năm 1940 cho
tới khi nhân dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược bằng Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Đó là mối quan hệ thân
tình mà thiêng liêng giữa vị lãnh tụ tối cao của dân
tộc với một trong những đồng chí, cộng sự tín cẩn của
Người. Qua cuốn sách, ta có thể thấy rõ tầm anh
7
minh, quảng bác của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
lãnh đạo, chỉ đạo về đường lối cách mạng, về khả
năng và sử dụng nhân tài của Người. Đồng thời,
cuốn sách cũng chỉ rõ tài năng binh nghiệp của
chàng thanh niên yêu nước Võ Nguyên Giáp. Nhờ đi
theo con đường cách mạng, Võ Nguyên Giáp đã được
gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở nơi đất khách quê
người để rồi từ một lời dặn của Người, coi như là
“anh hùng đoán giữa trần ai” mà về sau “nên nỗi cơ
đồ” ở trong ông. Cùng với yếu tố quý giá đó là sự nỗ
lực rèn luyện, phấn đấu không ngừng của nhà quân
sự Võ Nguyên Giáp, một trong những người đi đầu
trong việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo
đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi được xuất bản lần đầu tiên vào năm
2007 (do Nhà xuất bản Thông tấn tổ chức xuất
bản), cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã được đông đảo bạn đọc
gần xa đón nhận và góp thêm nhiều ý kiến quý
báu. Nhân dịp cuốn sách được tái bản, tác giả đã
tiếp thu mọi ý kiến, chỉnh lý, bổ sung để tác phẩm
thêm chất lượng, xứng đáng với sự quan tâm của
quý độc giả. Tuy nhiên, với một đề tài lớn và quan
trọng như thế, cuốn sách khó tránh khỏi những
khiếm khuyết trong nội dung và cách thể hiện,
mong quý bạn đọc tiếp tục góp thêm ý kiến phê
bình để nội dung cuốn sách ngày một hoàn thiện.
TÁC GIẢ
8
TỪ NHỮNG DÒNG SÔNG
Quê nội của chị em Nguyễn Thị Minh Khai và
Nguyễn Thị Quang Thái ở tỉnh Hà Đông, nay
thuộc Hà Nội.
Từ xa xưa, cả về địa lý và lịch sử, Hà Đông là
vùng đất được lập nên và chi phối từ những chi
lưu của sông Nhị Hà.
Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (sinh năm 1827),
người huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, làm
quan đến chức Tuần vũ, là nhà sử học và thiên
văn học, đã viết cuốn sách Sử học bị khảo, trong
đó nói rõ: “Từ Nhị Hà chia ra, sông Nhuệ ở huyện
Từ Liêm đổ vào Long Đàm rồi theo hướng đông
nam chảy qua các huyện Thanh Oai, Thanh Trì
đến ngã ba Hà Liễu thì đổ vào Tô Lịch. Lại có
sông Đỗ Động bắt đầu ở đầm Ngũ Xá, huyện
Thượng Phúc mà nhập vào Nhuệ Giang. Còn về
phía tây nam thì có sông Kim Ngưu bắt đầu từ Hồ
Tây (huyện Vĩnh Thuận) mà chảy nhập vào”. Đến
ngã ba Lương Thủy, Nhuệ Giang còn có nhánh
của sông Hát từ phía đông chảy đến. Mà Hát
Giang chảy dưới Bát Cảnh Sơn, đó là nơi gắn bó
với sự nghiệp vĩ đại và cả giây phút oai hùng cuối
9
đời của Hai Bà Trưng. Về thắng cảnh ấy, Đặng
Xuân Bảng viết: “Núi Bát Cảnh… 99 ngọn đổ
xuống sông Hát Nhuệ Giang cứ thế chảy theo
hướng nam, đến Cửa Bộc, huyện Nam Xang thì
lại đổ vào sông Hồng”1.
Nhị Hà từ tây sang đông
Kim Ngưu, Nhuệ Thủy là sông bên này.
(Ca dao)
Ngoài lúa ngô, khoai đậu, Nhuệ Giang còn tạo
nên ở nơi đây một vùng dâu lụa nổi tiếng của đất
nước. Đó là hiện trạng do sự ban phát cách đây ít
nhất một thế kỷ rưỡi của dòng sông tơ tằm, một chi
lưu của Nhị Hà. Nay thì cảnh quan tự nhiên đã
khác rất nhiều do sự biến hóa của trời đất và bởi tác
động của con người nhưng nền móng để tạo nên
vùng đất văn hiến ven Kinh thành ở chốn này thì
vẫn còn nguyên vẹn trong dấu ấn của lịch sử.
Nền đất do phù sa sông Hồng không ngừng bồi
tụ ấy thật phì nhiêu, có lẽ vì cư dân ở đây sớm
đông đúc mà từ lâu đời đã có những lớp người
phát tán đi nhiều nơi mang theo trong mình nét
văn hóa từ văn minh của dòng sông Cái. Mà đã có
kẻ đi thì rồi tất có người đến vì các miền đất nước
đều là tài sản chung của mọi cư dân. Rồi đến một
ngày, khi Kinh thành rực rỡ cờ hoa đón đoàn
___________
1. Trích trong cuốn sách Sử học bị khảo (Đỗ Mộng
Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính), Thư viện Viện Sử
học, ký hiệu ĐVv, 307/1-2.
10
quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô sau
cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân
Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc (1946-1954), có gia
đình một vị tướng quê từ sông Gianh đến định cư
lâu dài ở trên bờ con sông Hồng này.
Khoảng nửa thế kỷ trước đó, cũng có một người
đàn ông đã rời quê hương, nơi gắn bó với dòng
Nhuệ Giang để đi vào đất Nghệ, với chức vụ là
thư ký nhà ga Vinh. Ông họ Nguyễn, quý danh là
Bình, được thưởng sắc Hàn lâm nên gọi là ông
Hàn Bình. Ông đã xây dựng gia đình tại thị xã,
nơi vốn là quà tặng của dòng sông Lam. Bà Hàn
Bình là cháu ngoại của một nhà Nho ở đất Trung
Cần, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một làng
nằm bên hữu ngạn của dòng sông trong xanh ấy.
Mẹ của bà lấy chồng về làng Đàu, tổng Thịnh
Quả, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng này với
Trung Cần tuy khác tỉnh nhưng theo đường chim
bay thì chỉ cách nhau độ vài ba cây số. Cả hai nơi
cùng nằm trên một miền bãi bồi trải rộng giữa hai
dòng sông là Lam Giang (tức Ngàn Cả) và sông
La (tức Ngàn Sâu - một phụ lưu của nó). Ở miền
quê này, lụt lội là chuyện thường niên nhưng đất
đai thì khá phì nhiêu vì có phù sa của các con
sông ấy bồi đắp. Con người ở đây trung hậu, chí
thú làm ăn, sắt son, tình nghĩa:
Nước lên cho cá lên theo
Đôi bên cha mẹ đói nghèo cả hai.
(Ca dao)
11
Bà Hàn Bình lớn lên ở Thịnh Quả nhưng nhà
có quầy hàng bán vải ở chợ Vinh. Bà lấy chồng lúc
mười tám tuổi. Rồi cùng chồng lập gia đình ở phố
Ga của thành phố này. Năm 1910, họ sinh
Nguyễn Thị Minh Khai, bốn năm sau thì sinh
người con thứ hai, cũng là con gái. Ông Hàn Bình
vui mừng, liền đặt tên cho cô là Nguyễn Thị
Quang Thái. Theo nghĩa trong Kinh Dịch, hai chữ
“Khai - Thái” có hàm ý là đã đến lúc hanh thông,
tức vận may đang đến, làm việc gì cũng thuận lợi.
Còn riêng chữ Quang Thái thì còn có nghĩa là
những tia ngũ sắc được đan xen vào nhau để tạo
nên một màn hoa rực rỡ.
Minh Khai học Lớp Nhất dưới sự dạy dỗ của
thầy Trần Phú. Sau khi đỗ bằng tiểu học tại
thành phố Vinh, noi theo thầy giáo của mình, chị
tham gia hoạt động cách mạng, vào Đảng Tân
Việt. Năm 1930, Minh Khai là đảng viên cộng
sản, xuất dương sang Trung Quốc, được Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thêm về cách mạng.
Một thời gian, chị làm thư ký, giúp việc cho
Người. Từ năm 1934, chị là Ủy viên trong Ban
Cán sự của Đảng ở nước ngoài. Năm 1935, Đại hội
Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp ở
Ma Cao (Trung Quốc), chị được cử làm đại biểu đi
dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, họp
tại Liên Xô. Thời gian ấy chị lập gia đình, kết
duyên với Lê Hồng Phong - Tổng Bí thư của Đảng
Cộng sản Đông Dương, làm Trưởng đoàn đi dự
12
Đại hội Quốc tế Cộng sản. Sau đó Minh Khai về
nước, làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Anh chị sinh
được một người con gái là Lê Hồng Minh. Chị bị
đế quốc Pháp bắt giam rồi đem ra xử bắn tại Hóc
Môn (ngoại ô thành phố Sài Gòn), năm 1941.
Nguyễn Thị Quang Thái sinh năm 1913. Khi
còn ở bậc tiểu học, có lúc về nhà, Quang Thái thấy
Minh Khai mang sổ ghi tiền bán hàng của mẹ ra
và xóa tên cho những người có số nợ chẳng là bao
song vì nhà nghèo nên đã lâu rồi, họ chưa trả
được. Cô biết rõ điều đó nhưng không mách mẹ
mà ủng hộ việc làm của chị gái.
Quang Thái vì là em, có điều kiện hơn nên sau
khi đỗ tiểu học thì thi vào Trường Nữ học Đồng
Khánh, Huế. Ít lâu sau, một số sự kiện đã xảy ra,
như: sự kiện cụ Phan Bội Châu, người khởi xướng,
tổ chức, đi đầu trong công cuộc Đông du sang
Nhật rồi bị trục xuất nên phải qua Trung Quốc,
sau bị thực dân Pháp bắt giải về nước, kết án tù
chung thân và giam lỏng tại Huế (năm 1925); cụ
Phan Châu Trinh, lãnh tụ đấu tranh đòi dân
quyền, sang Pháp một thời gian rồi về, mất tại
Sài Gòn (năm 1926), được nhiều nơi để tang.
Ngoài ra, những cuộc biểu tình của học sinh, sinh
viên suy tôn tinh thần cách mạng của hai cụ Phan
cũng đã nổ ra ở nhiều tỉnh thành, nhằm đòi
quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Riêng tại các
nhà trường từ bậc trung học trở lên, hình thức
đấu tranh không dừng lại ở mức độ ấy mà còn
biểu thị bằng các cuộc bãi khóa.
13
Bấy giờ Võ Nguyên Giáp đã là đảng viên Đảng
Tân Việt.
Trước đó, anh bị đuổi khỏi Quốc học Huế vì là
thành viên trong nhóm cầm đầu cuộc bãi khóa của
học sinh trường này vào những năm 1927-1928. Ít
lâu sau, anh được cụ Huỳnh Thúc Kháng mời vào
làm việc ở Báo Tiếng Dân và sinh hoạt trong Tiểu tổ
Đảng Tân Việt của Tòa soạn báo. Bấy giờ, cụ Huỳnh
Thúc Kháng không vào Tân Việt nhưng cụ tôn
trọng những người làm cách mạng. Tổ chức giao
anh Giáp giữ mối liên lạc giữa các cấp bộ của Đảng
này từ các nơi về với Thừa Thiên - Huế.
Nguyễn Thị Quang Thái vì tham gia các vụ
bãi khóa ở Trường Nữ học Đồng Khánh nên cũng
bị đuổi. Quay trở về nhà, chị cũng vào Đảng Tân
Việt và hoạt động tại Vinh.
Rồi đến một ngày, Quang Thái được Tỉnh bộ
Tân Việt Nghệ An giới thiệu vào bắt liên lạc với
các tổ chức của đảng mình ở Kinh kỳ. Việc đầu
tiên của chị là phải gặp cho được Võ Nguyên Giáp.
Nơi trọ cũng là văn phòng làm việc của anh
Giáp đặt tại gia đình ông Lê Ấm, con rể cụ Phan
Châu Trinh. Ngôi nhà ấy nằm khuất phía sau
Kinh thành Huế. Từ cửa Đông Ba rẽ trái, rồi
phải, đi qua những cung đường ngoằn ngoèo khó
nhận ra nhưng vì trách nhiệm của đoàn thể giao
và bởi một sự thôi thúc nào đó chưa hình dung
được mà Quang Thái cứ mạnh dạn đi và đã tìm
được đến nơi.
14
Bấy giờ xuất hiện trước chàng thanh niên Võ
Nguyên Giáp là một tiểu thư dáng hình mảnh dẻ,
xinh xắn, đôi mắt tươi vui, đầy vẻ cương quyết với
giọng nói nhẹ nhàng nhưng rắn rỏi. Gương mặt
vừa trong sáng vừa dịu dàng ấy có một sức thu
hút lạ thường đối với người mà cô đang đối diện.
Bỗng nhiên, anh Giáp tự đặt câu hỏi: Không biết
con người này, với cặp mắt ấy, mình đã bắt gặp ở
đâu, trong hoàn cảnh nào?
Dòng ký ức hiện lại trong anh.
Số là cách đó khoảng một năm, khi Tổng bộ
Đảng Tân Việt đã chuyển vào Huế, anh Giáp được
tổ chức cử ra Bắc. Trên đường đi phải dừng lại ở
Vinh để thông báo với Tỉnh bộ Nghệ An một số
vấn đề về chủ trương mới của đảng này.
Anh đóng vai một công tử giàu có, mặc bộ
comple hàng hiệu, đội mũ phớt đắt tiền, ngồi toa
hạng Nhì trên tàu hỏa. Khi gần đến nơi, nếu
xuống rồi không lâu lại lên tàu giữa trung tâm
thành phố Vinh thì rất dễ bị mật thám Pháp theo
dõi nên anh phải dừng lại khi xe lửa đỗ ở một ga
xép, là ga Thôn Thượng (Hưng Nguyên). Từ đó
anh còn phải cuốc bộ khoảng bốn cây số theo
đường ray. Dân các làng và khách bộ hành qua lại
cứ tưởng anh là một công chức đi làm từ nơi xa,
nay đang trên đường về thăm nhà. Đến vùng
ngoại ô của đô thị, anh gọi một chiếc xe kéo loại
sang, nhờ đi đến hiệu cắt tóc Vĩnh Long, phố
Thống chế Phốc (nay là đường Quang Trung), nơi
15
Đảng Tân Việt đặt cơ sở liên lạc của Tỉnh bộ Nghệ
An. Anh chàng “công tử” ấy, sau khi trả tiền công
cho bác phu xe, trong túi chỉ còn hai hào.
Nguyễn Đình Đoàn dẫn anh đến cơ quan, đóng
tại một xóm đạo ở phía Cầu Rầm. Người trực tiếp
làm việc với anh là một phụ nữ. Trong điều kiện
bí mật, các đồng chí ở Vinh tiếp nhận chỉ thị của
Tổng bộ xong còn phải lo đủ kinh phí để anh Giáp
đi tiếp ra Hà Nội.
Rất tiếc là thời gian và hoàn cảnh không cho
phép ở lại lâu dù anh Giáp biết, núi Con Mèo, nơi
khai sinh ra hội Phục Việt (tên thuở ban đầu của
Tân Việt) ở cách chỗ anh đứng chỉ một thôi đường.
Khi tiễn anh ra ga Vinh, Nguyễn Đình Đoàn
chỉ kịp nói:
- Người cán bộ làm việc với anh vừa rồi là
Nguyễn Thị Minh Khai. Chị có cô em gái là
Quang Thái, cũng rất thông minh và xinh đẹp.
Võ Nguyên Giáp ra ngoài đó để gặp Kỳ bộ Tân
Việt của xứ Bắc, mang biệt danh là Nhân Kỳ.
Hành lý của anh vẫn là chiếc vali rất sang ấy,
đựng quần áo cùng nhiều tập giấy thông thường.
Cái xen lẫn vào trong đó lại là thứ quan trọng, đó
là các công văn, tài liệu của đoàn thể.
Xuống tàu ở ga Hàng Cỏ, anh cuốc bộ đến
Trường Đại học Đông Dương tại phố Bôliô, nay là
đường Lê Thánh Tông. Tôn Quang Phiệt tiếp anh
trong một quán nước ở trước ngõ nhà trường rồi
họ cùng đi tới trụ sở liên lạc của Kỳ bộ Tân Việt
16
của đất Bắc - Nhân Kỳ, bí mật đặt tại phố Huế,
nằm lọt giữa khu nhà 24 gian, là một trong những
xóm Cô Đầu của đất Hà Thành. Thuở bấy giờ, các
thông tin quan trọng của đoàn thể được những
bậc trí thức đóng các vai “lãng tử” chuyển tải cho
nhau ở nơi giao tiếp giữa đời thường của thế gian
như vậy đó.
Mấy hôm sau, khi xong việc, Võ Nguyên Giáp
trở về, cũng trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế.
Khi tàu đã chạy qua ga Vinh một quãng, nhân có
việc phải đi lên ở toa phía trước, anh gặp hai cô
gái đang cùng đứng trò chuyện. Trong đó có một
người anh quen, ấy là cô Cầm, nữ sinh Trường
Đồng Khánh, em của chị Hải Đường, cùng tham
gia bãi khóa năm trước. Cầm nhận ra anh Giáp.
Cô vội chào rồi giới thiệu bạn mình là Nguyễn Thị
Quang Thái, nhà ở Vinh, có việc cùng vào Huế.
Bấy giờ vì hoàn cảnh công tác không tiện chuyện trò
lâu nhưng Giáp đã để ý đến cô bạn của Cầm với
gương mặt trái xoan, dáng đoan trang và đôi mắt
sáng. Để đến hôm nay thì anh thực sự bị chính đôi
mắt ấy chinh phục. Anh lại cứ nghĩ là không biết tại
sao trong dịp ghé lại Vinh dạo nọ, khi tiễn anh ra ga
xe lửa, anh Đoàn đã nói về cô em gái của chị Minh
Khai để buổi gặp gỡ trên tàu sau đó đã tạo nên ở
trong anh một cái gì đó vương vấn.
Trở lại buổi gặp nhau ở Huế, khi anh Giáp
tính chuyện thu xếp nơi nghỉ cho khách thì
Quang Thái bảo:
17
- Cảm ơn anh, việc đó sẽ có Cầm, bạn em lo liệu.
Trời đã cuối thu nhưng tiết giao mùa ở trong
này có muộn hơn so với ngoài xứ Nghệ. Nắng
vàng vẫn rải nhẹ trên bờ sông Hương. Hai người
giữ bước đi cách quãng, tưởng như không hề liên
quan. Họ nói với nhau trong im lặng, ít ngôn từ
mà nhiều ký thác.
Một gốc tùng cổ thụ rũ tóc vàng trong nắng
thu. Cây đứng bên đường như là quà tặng cho
những trai thanh, gái lịch để cùng hẹn hò, đổi
trao. Và, với chàng trai lớn lên ở Đồng Hới, nơi
giọng nói giàu “ngọt lịm yêu thương” cùng cô gái
đến từ thành phố bên bờ sông Lam “dạt dào sóng
nước” thì gốc tùng cũng tựa như người bạn đang
âm thầm lắng nghe những tâm tình gửi trao giữa
đôi bên. Tuy họ không nhìn nhau nhưng hai trái
tim thì lại giao hòa. Chàng thư sinh họ Võ kể cho
người bạn gái nghe về dòng sông lớn đất Quảng
Bình, cũng là sông rộng nhất miền Trung của Tổ
quốc, tức sông Gianh, tên chữ là Linh Giang. Còn
con sông nhỏ chảy qua làng quê An Xá, huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình quê anh, ấy là dòng Kiến
Giang, cũng gọi là sông Đại. Sông này cũng bắt
nguồn từ Trường Sơn, chảy len lỏi giữa vùng núi An
Mã rồi tuôn xuống đồng bằng, tưới mát cho đồng
điền hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy. Có người
nói, trong thành ngữ: “Nhất Đồng Nai, nhì Hai
Huyện” thì địa danh “Hai Huyện” là chỉ Quảng
Ninh và Lệ Thủy. Có lẽ vì vậy nên có câu ca:
18
“Ai về cửa bể Quảng Bình
Cá ngon, cơm trắng là mình với ta”.
Về xuôi, Kiến Giang nhập vào phá Hạc Hải rồi
cùng đổ ra cửa Nhật Lệ. Phá Hạc Hải còn do nhiều
dòng nước khác tuôn về nên rộng mênh mông. Xung
quanh phá có những động cát trắng phau. Dưới
chân những đụn cát là các trảng đất để trồng cói rồi
mới đến cái đầm nước. Cây cói ở đây được đem sánh
với lá nón nơi Quy Hậu, Ba Đồn, nên có câu: “Chiếu
cói An Xá, nón lá Quy Hậu”.
Tiếng vậy chứ trên bản đồ, người ta chú ý đến
sông Nhật Lệ nhiều hơn, tuy cả hai cùng hợp lưu
rồi đổ vào phá Hạc Hải, vì Nhật Lệ chảy qua thị
xã Đồng Hới. Còn khi nhắc đến cư dân Quảng
Bình thì người ta nói đó là những người con của
sông Gianh. Mà sự thật về lịch sử và văn hóa,
Linh Giang đủ đại diện cho cả Kiến Giang và
Nhật Lệ.
Sông Gianh bắt nguồn từ núi Trường Sơn, trên
một lưu vực rất rộng mà mỗi ngọn nguồn, mỗi bến
nước đều mang trong mình biết bao câu chuyện
thần kỳ:
Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu.
(Ca dao)
Võ Nguyên Giáp đưa câu ca đã từ ngàn xưa
ấy ra hỏi bạn, Quang Thái chịu không trả lời
được và bảo:
19
- Ôi, Đèo Ngang, sông Gianh, Phong Nha rồi cả
Lũy Thầy nữa, đến quê anh, mỗi bước đường lắng
đọng mỗi sự tích thần kỳ. Chả biết đất có giúp ta
học theo được chút gì qua hào khí của cổ nhân.
Em nghĩ, những chàng trai như các anh phải trả
lời trước các câu hỏi đó. Còn em, ước gì chúng ta
cùng nhau có dịp cùng đứng nhìn dòng sông Lam.
Bấy giờ em sẽ trả lời anh câu hỏi này.
Lời của Quang Thái bỗng khiến người thanh
niên Võ Nguyên Giáp nhớ lại và ngẫm nghĩ về vai
trò “Địa giới” của sông Gianh trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672). Qua cuộc đọ sức
lâu dài ấy, quân Nguyễn tuy non hơn về binh lực
nhưng do chủ yếu là chiến đấu trên đất nhà, lại có
thành lũy kiên cố nên qua bảy lần giao chiến,
quân Trịnh không sao tiến sâu vào phía trong
được nên cuối cùng phải chịu giảng hòa, lấy sông
Gianh làm giới hạn để phân định Đàng Trong Đàng Ngoài.
Hệ thống đồn lũy ấy được bố trí cách quãng
trên bốn bức thành chạy dài và vững chãi từ tây
xuống đông. Trong đó, các bức kiên cố nhất là lũy
Trường Dục, bắt đầu từ chân Trường Sơn kéo
xuống tận Hạc Hải và lũy Đông Hồi từ núi Đầu
Mâu chạy xuôi tới cửa biển Nhật Lệ. Các bức lũy
ấy đắp từ năm 1630 đến năm 1634 và được gọi
chung là Lũy Thầy vì do Đào Duy Từ, bậc quân sư
kiệt xuất đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên tổ
chức xây đắp.
20
Lớn lên trên vùng sông Gianh - Lũy Thầy, dải
đất một thời binh đao kéo dài rồi bị chia cắt hàng
trăm năm, Võ Nguyên Giáp đã bắt đầu nghĩ về
những bài học quân sự của tiền nhân và ít nhiều
có những nhận thức rằng, sự phân liệt sơn hà của
những triều đại phong kiến như vậy hẳn đã làm
cho kinh tế của nước nhà chậm phát triển và các
thế lực bên ngoài dễ lợi dụng mà len vào. Bài học
về đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước, tuy
còn mơ hồ nhưng đã nhen nhóm trong ý thức của
chàng thanh niên họ Võ, đảng viên Đảng Tân Việt
hồi ấy.
Quang Thái đọc được nét suy tư ở người bạn
trai, cũng là người đồng chí rồi hỏi:
- Chắc anh đang nghĩ về một điều gì khác?
- Không, không… cũng là việc chung thôi mà! Chàng trai đáp vội để cô gái yên lòng.
Quang Thái nhận ra nơi vầng trán rộng và cao
ở người bạn một chút vẻ tang bồng. Rồi từ trong
lòng mình, cô muốn hỏi thêm đôi ba câu chuyện
nhưng thời gian không còn.
Hai người tạm chia tay nhau ở đó.
Xa người nhưng gương mặt tươi vui cùng vẻ
đẹp trang nhã từ miệng cười và đôi mắt diễm lệ
của nàng thì đọng lại trong hồn của kẻ phải tạm
cách chia.
Họ đã thuộc về nhau rồi sao!
Về việc ngắm dòng sông Lam mà ở phía tả
ngạn thuộc vùng hạ du có làng Sen, làng Chùa,
21
nơi cậu Nguyễn Sinh Cung về sau là lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc đã cất tiếng khóc chào đời, được
nuôi lớn rồi bước đến với nhân loại là điều Võ
Nguyên Giáp hằng ao ước nhưng chưa có dịp
nào, dù đã vài lần anh từng ngồi trên xe lửa,
băng qua các con cầu trên sông Cả, sông La.
Số là kể từ lần đầu, hồi lên trung học, anh được
học với Giáo sư Đặng Thai Mai. Thầy là con trai
của Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, người làng
Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Cụ thân sinh ra thầy đã từng hoạt động Văn
thân, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Cụ đã
từng sống những ngày “Đặng, Huỳnh, Ngô ba bốn
bác hàn huyên, khi nhấp rượu, lúc ngâm thơ,
trước cửa ngục lầm than mà khẳng khái” (Phan
Bội Châu). Thầy Mai từng theo Nho học, khi đã
đủ trình độ để thi Hương thì người Pháp buộc
Chính phủ Nam triều phải bãi bỏ các kỳ thi chữ
Hán. Lớp nho sinh như thầy ở đất Nghệ có cả
Nguyễn Sĩ Sách, Tôn Quang Phiệt,... phải chuyển
sang Tân học. Sau đó, tuy giỏi tiếng Pháp, tốt
nghiệp Cao đẳng sư phạm, dạy ở trường Quốc học
nhưng thầy vẫn trau dồi chữ Hán. Thấy anh Giáp
là người ham học, vào một dịp nghỉ hè, thầy đã rủ
anh ra Vinh. Và cả hai người đã cùng đến học với
vị cử nhân Hồ Phi Huyền ở phố Khách.
Cụ Cử Hồ đổi công cho một số chủ hiệu thuốc
Bắc bằng cách cụ kê đơn, chỉ cho bệnh nhân mua
thuốc ngay ở hiệu này; còn chủ hiệu thuốc thì họ
22
dành cho cụ một căn phòng ở sát sân nhà ngoài để
ăn nghỉ và cũng là để “bảo vệ cơ ngơi” cho họ! Có
điều là cụ không bao giờ để trống thời gian. Ban
ngày, cụ kê đơn cho gia đình bệnh nhân đến từ
nhiều làng quê, thậm chí từ những nơi rất xa, vì
họ nghe tin về sự hiệu nghiệm của những thang
thuốc do thầy kê đơn. Chủ hiệu thuốc rất mừng
và thêm quý ông Cử bởi sự giỏi giang và thanh
bạch. Khi đêm về yên tĩnh, cụ ngồi viết sách. Hai
tác phẩm nổi tiếng Đạm Trai văn tập và Nhân
đạo quyền hành được cụ viết tự nơi này. Thầy Mai
có trình độ cao nên tiếp thu được từ cụ nhiều hơn,
về sau thầy trở thành con rể của cụ. Với Võ
Nguyên Giáp, đương nhiên, sức tiếp thu không
bằng thầy học của mình nhưng đấy là những ngày
tháng rất bổ ích cho anh. Mỗi lời giảng của cụ Cử
có chất lý luận (ta thường gọi là lôgích triết học)
rất cao và thấm đượm tính nhân đạo rất sâu. Cụ
thường nói với các môn đệ rằng, người không có
năng lực lý luận thì khi gặp cảnh nguy nan trong
quan hệ xã hội, họ sẽ khó mà phân biệt rõ đúng,
sai để định ra được cách xử lý việc đời cho thích
hợp. Đó cũng là điều mà sau này anh Giáp thường
nhắc lại với em trai mình là Võ Thuần Nho, cả
khi ông Nho đã là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
*
* *
Còn về Nguyễn Ái Quốc, người con được sinh ra
trên bờ sông Lam, khi vừa xuất hiện trên các báo
23
chí ở Pari liền được các chính khách ở bên đó tôn
xưng là “Lơ Patơriốttờ Nguyễn” (Le Patriote
Nguyên), tức “Ông Nguyễn Yêu nước”. Tin đó
sớm được truyền về Đông Dương và những bài
viết của Người. Với anh Giáp, do hoạt động
trong điều kiện bí mật, nên chỉ biết qua tài liệu
mà chưa được tiếp xúc và quen biết, nhưng tấm
hình người thanh niên mặc Âu phục, đội mũ
phớt, có đôi mắt sáng, kiên nghị, có sức nhìn
như thấu suốt mọi tình cảnh của nhân gian thì
anh không thể nào quên.
Nhớ mấy năm về trước, khi đã bị đuổi học vì
tham gia bãi khóa, về sống vớí gia đình ở An Xá,
Võ Nguyên Giáp được Nguyễn Chí Diểu tìm đến
nhà, trao cho cuốn sách Chủ nghĩa cộng sản viết
bằng tiếng Pháp, in ở Brúcxen, Bỉ, cùng một số tài
liệu nói về Liên hiệp các dân tộc bị áp bức trên thế
giới và mấy văn bản ghi chép từ các cuộc họp của
những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu
(Trung Quốc), đặc biệt trong đó có bài nói chuyện
của đồng chí Lý Thụy. Trước khi ra về, đồng chí
Diểu còn mách nhỏ để anh Giáp biết, các tài liệu
ấy được chuyển về là do chủ trương và công sức của
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và, Lý Thụy là mật
danh của Người.
Có được số tài liệu ấy, anh Giáp lần lượt mang
ra lùm cây sau vườn, trèo lên chỗ cành rậm, ngồi
đọc. Cứ sau mỗi đoạn, mỗi chương anh lại liên hệ
đến cách hành văn của Nguyễn Ái Quốc trong tập
24
“Bản án chế độ thực dân Pháp” mà anh Nguyễn
Khoa Văn1 đã bí mật cho mượn. Sau này, Võ
Nguyên Giáp viết trong cuốn sách Những chặng
đường lịch sử: “Lần đầu tiên tôi được đọc một tập
tài liệu có hệ thống về chủ nghĩa cộng sản và chủ
nghĩa quốc tế. Có thể nói là, tư tưởng của chủ
nghĩa cộng sản đã được cắt nghĩa lần lần qua
từng trang sách. Sau đó, tôi trở lại Huế, lần này
không phải đi học mà là đi hoạt động cách mạng”.
Vào quãng thời gian tham gia Đảng Tân Việt
và làm Báo Tiếng Dân ở đất Kinh kỳ, càng tiếp
xúc với những tài liệu, báo chí từ cả nước ngoài
gửi về, anh Giáp càng hình dung đến cây bút viết
nghị luận và châm biếm sắc sảo Nguyễn Ái Quốc,
nên anh càng thiết tha được tìm hiểu về con người
lỗi lạc đó. Chưa được tiếp kiến trực tiếp thì cũng
phải đi đến vùng quê nơi đã sinh ra và nuôi lớn
Người, để tự cắt nghĩa được phần nào những băn
khoăn, thắc mắc của mình, nhằm giải đáp được
điều bản thân luôn suy nghĩ: Vì sao nước Nam
này lại có được một nhân vật lớn như vậy? Để sau
này, nếu may mắn được gặp Người thì mình sẽ
bớt đi phần nào sự bỡ ngỡ.
Rồi đến một ngày, chàng thư sinh họ Võ thực
sự được đến với sông Lam. Cùng với công việc của
đoàn thể, chàng còn tới để đòi lại “món nợ” mà
___________
1. Bút danh là Hải Triều, nhà lý luận mácxít của Đảng.
25
người bạn gái đã hứa là trả trọn khi họ cùng được
ngắm nhìn dòng sông này.
Chàng đánh bạo đến thăm nhà của ý trung
nhân (số 139, đường Thống chế Phốc (Maréchal
Fock), về sau gọi là phố Ga), lấy cớ là cùng hoạt
động nên quen biết Quang Thái, nhân có công tác
phải ra ngoài này, rồi được bạn mời về. Gia đình
ông Hàn Bình thường vốn đông khách khứa lui tới
nhưng chàng thư sinh đến từ sông Gianh này quả
đã để lại cho chủ nhân một ấn tượng đẹp.
Được phép của ông bà Hàn, hai cô cậu đến bến
Cửa Tiền, thuê một chuyến đò dọc, đi ngược sông
Lam. Đến Sa Nam thì họ lên bờ, trà trộn vào buổi
chợ phiên, giả dạng mua bán, xong rồi lại xuống
thuyền chứ không dám đi xa. Thế cũng đủ để đôi
bạn trẻ hình dung ra cả một dải hạ lưu của sông,
một mạch chảy, nơi đã sản sinh ra biết bao những
anh hùng, hào kiệt của mỗi thời.
Vùng Cát Ngạn bên hữu ngạn sông là nơi hồi
thế kỷ X, quan Thứ sử Đinh Công Trứ đã đóng
trấn sở. Bà Đàm Thị là Đinh phu nhân đã tới đây
và có mang trên đất này rồi sinh ra người con
trai mà về sau đã đánh bại 11 sứ quân khác để
lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, thống nhất đất
nước. Ấy là vua Đinh Tiên Hoàng. Bên tả ngạn,
từ trên xuống, cách ngã ba Cửa Rào (cái rốn của
cộng đồng dân tộc Mường thuở trước) về xuôi
không xa là đất Thành Nam. Tương truyền khi
quân Minh mới sang xâm chiếm nước ta, chúng
26
đã bắt Nguyễn Trãi đem vào giam lỏng ở nơi
này1. Tiếp đến là doanh trại Trà Lân, nơi hồi thế
kỷ XV, nghĩa binh của Lê Lợi đã đánh tan đạo
quân xâm lược Minh đồn trú tại đấy. Cứ thế, vẫn
bên tả ngạn xuôi dưới chân núi Vệ Sơn, tại xã
Hương Lãm, huyện Nam Đàn là di tích thành
Vạn An, nơi vào năm 722, Mai Thúc Loan đã
phất cờ khởi nghĩa rồi từ đó tiến ra Tống Bình
(Thăng Long sau này) đuổi viên quan đô hộ nhà
Đường là Quang Sở Khách chạy về Tàu. Đất
nước được giải phóng, ông lên ngôi hoàng đế. Cứ
thế, về xuôi, có thôn Đan Nhiệm của Giải nguyên
Phan Bội Châu và đi về phía tay trái một quãng,
ấy là làng quê của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Cũng ngang chặng ấy, bên hữu ngạn sông là các
làng quê của hai vị Thám hoa đỗ cùng khoa (Quý
Sửu -1853). Đó là Thám nhất Nguyễn Đức Đạt
và Thám nhì Nguyễn Văn Giao. Khuất về phía
xa tây nam, là nơi ở ẩn của La Sơn Phu tử
Nguyễn Thiếp, người đã giúp Hoàng đế Quang
Trung, với “Một lời nói mà nên nổi cơ đồ”. Sau
đó, sông chảy về xuôi, bên tả là huyện Hưng
Nguyên, bên phải là phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh). La
Giang sau khi chảy qua làng quê của Đình
nguyên là nhà lãnh tụ Cần vương Phan Đình
Phùng thì theo hướng đông nam mà đổ vào
Lam Giang. Nơi ngã ba sông ấy, phía hữu ngạn
___________
1. Theo dân gian, thế mới có câu: “Góc Thành Nam/
Cơm một niêu, lều một gian/ No nước uống, thiếu cơm
ăn” trong thơ Nguyễn Trãi.
27
là Phù Thạch, còn bên tả ngạn là Triều Khẩu, có
dãy núi Lam Thành đổ bóng. Gọi là Lam Thành
bởi xưa kia đấy là trấn sở của nhà Trần. Về sau
(vào thế kỷ XV), tướng giặc Minh là Trương Phụ
chiếm đóng. Y cho đắp thêm thành và xây cao cột
cờ để chống lại lực lượng kháng chiến của nhà
Hậu Trần. Nhưng rồi ngược lại, mấy năm sau,
chính nơi này, Lê Lợi đã dùng kế vây thành, diệt
viện để tiến lên đuổi sạch quân xâm lược Minh,
giải phóng cả nước. Cần nói thêm, ở chặng ấy,
bên hữu ngạn sông còn có làng quê của vị sứ
thần Nguyễn Biểu, người đã vì nền độc lập của
dân tộc mà dám cả gan ăn cỗ đầu người trước
mặt tướng giặc Minh, dù ngay sau đó ông đã bị
chúng sát hại. Từ đấy, Lam Giang thêm rộng
lòng sau khi nhận thêm các ngòi lạch ở vùng Can
Lộc, quê hương danh sĩ Nguyễn Thiếp, Thám hoa
Nguyễn Huy Oánh, thân sinh nhà thơ Nguyễn
Huy Tự. Tiếp đến, khi chảy sát dải đất Nghi
Xuân là quê hương Nguyễn Du, Nguyễn Công
Trứ thì sông hòa vào biển cả. Cần nói thêm, khi
về xuôi, đụng phải núi Hồng Lĩnh thì sông Lam
mở rộng lòng mà ôm lấy thị xã Vinh - Bến Thủy,
một trung tâm kỹ nghệ và thương mại lớn của
khu vực Bắc Trung Kỳ.
Lam Giang cũng như Linh Giang, mỗi khúc
sông, mỗi bến nước còn ghi dấu tài thao lược đuổi
giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi của người xưa. Khi
đất nước còn bóng kẻ xâm lăng thì bổn phận của
những người con trai, con gái như Võ Nguyên Giáp,
28
Nguyễn Thị Quang Thái,... còn phải vươn lên vì
nợ nước, thù nh...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
VŨ TRỌNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đào tạo được nhiều học trò xuất sắc, trong
đó Võ Nguyên Giáp là một trong những học trò gần gũi,
xuất sắc của Người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn
ghi nhớ và làm theo lời dạy của Bác Hồ, là một tấm
gương điển hình về đạo đức của người cách mạng, về đặt
quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết.
Lịch sử nước nhà mãi lưu danh hai nhân vật vĩ đại:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc,
danh nhân văn hóa kiệt xuất và Đại tướng Võ Nguyên
Giáp - vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự, người
Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người học
trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử đã đưa
hai con người xuất chúng ấy đến gần nhau, trở thành
hai thầy trò, hai người đồng chí, hai người tri kỷ để
làm nên hai cái tên mà chắc là lịch sử sẽ luôn nhắc tới.
Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường,
thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng như
nhằm góp phần giáo dục, phát huy truyền thống yêu
nước, tiếp tục đẩy mạnh cuộc Học tập và làm theo tấm
gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với
5
Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn sách Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cuốn sách đề cập những câu chuyện hết sức chân
thực về mối quan hệ gần gũi, thân tình giữa Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về những
dấu mốc đã đưa Đại tướng đến gần với Bác, về sự thiên
tài nhãn quan của Bác trong việc phát hiện nhân tài
cho đất nước.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình
biên soạn cuốn sách, nhưng đây là đề tài lớn nên khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của bạn đọc để nội dung cuốn sách
được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 7 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những
học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Trong những năm tháng được sống và
làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, được
Người giáo dục, rèn luyện, tin tưởng trao trọng
trách lớn, Đại tướng đã nỗ lực học tập đạo đức, tác
phong của vị lãnh tụ tối cao và luôn luôn tranh thủ
sự giúp đỡ của đồng nghiệp các cấp, phấn đấu để trở
thành một vị tướng kiệt xuất, có những đóng góp to
lớn vào công cuộc đấu tranh cách mạng vẻ vang của
dân tộc.
Nội dung cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
tướng Võ Nguyên Giáp chủ yếu tập trung đề cập mối
quan hệ làm việc, cộng tác gần gũi giữa Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với nhà quân sự
chiến lược Võ Nguyên Giáp từ những năm 1940 cho
tới khi nhân dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược bằng Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Đó là mối quan hệ thân
tình mà thiêng liêng giữa vị lãnh tụ tối cao của dân
tộc với một trong những đồng chí, cộng sự tín cẩn của
Người. Qua cuốn sách, ta có thể thấy rõ tầm anh
7
minh, quảng bác của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
lãnh đạo, chỉ đạo về đường lối cách mạng, về khả
năng và sử dụng nhân tài của Người. Đồng thời,
cuốn sách cũng chỉ rõ tài năng binh nghiệp của
chàng thanh niên yêu nước Võ Nguyên Giáp. Nhờ đi
theo con đường cách mạng, Võ Nguyên Giáp đã được
gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở nơi đất khách quê
người để rồi từ một lời dặn của Người, coi như là
“anh hùng đoán giữa trần ai” mà về sau “nên nỗi cơ
đồ” ở trong ông. Cùng với yếu tố quý giá đó là sự nỗ
lực rèn luyện, phấn đấu không ngừng của nhà quân
sự Võ Nguyên Giáp, một trong những người đi đầu
trong việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo
đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi được xuất bản lần đầu tiên vào năm
2007 (do Nhà xuất bản Thông tấn tổ chức xuất
bản), cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã được đông đảo bạn đọc
gần xa đón nhận và góp thêm nhiều ý kiến quý
báu. Nhân dịp cuốn sách được tái bản, tác giả đã
tiếp thu mọi ý kiến, chỉnh lý, bổ sung để tác phẩm
thêm chất lượng, xứng đáng với sự quan tâm của
quý độc giả. Tuy nhiên, với một đề tài lớn và quan
trọng như thế, cuốn sách khó tránh khỏi những
khiếm khuyết trong nội dung và cách thể hiện,
mong quý bạn đọc tiếp tục góp thêm ý kiến phê
bình để nội dung cuốn sách ngày một hoàn thiện.
TÁC GIẢ
8
TỪ NHỮNG DÒNG SÔNG
Quê nội của chị em Nguyễn Thị Minh Khai và
Nguyễn Thị Quang Thái ở tỉnh Hà Đông, nay
thuộc Hà Nội.
Từ xa xưa, cả về địa lý và lịch sử, Hà Đông là
vùng đất được lập nên và chi phối từ những chi
lưu của sông Nhị Hà.
Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (sinh năm 1827),
người huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, làm
quan đến chức Tuần vũ, là nhà sử học và thiên
văn học, đã viết cuốn sách Sử học bị khảo, trong
đó nói rõ: “Từ Nhị Hà chia ra, sông Nhuệ ở huyện
Từ Liêm đổ vào Long Đàm rồi theo hướng đông
nam chảy qua các huyện Thanh Oai, Thanh Trì
đến ngã ba Hà Liễu thì đổ vào Tô Lịch. Lại có
sông Đỗ Động bắt đầu ở đầm Ngũ Xá, huyện
Thượng Phúc mà nhập vào Nhuệ Giang. Còn về
phía tây nam thì có sông Kim Ngưu bắt đầu từ Hồ
Tây (huyện Vĩnh Thuận) mà chảy nhập vào”. Đến
ngã ba Lương Thủy, Nhuệ Giang còn có nhánh
của sông Hát từ phía đông chảy đến. Mà Hát
Giang chảy dưới Bát Cảnh Sơn, đó là nơi gắn bó
với sự nghiệp vĩ đại và cả giây phút oai hùng cuối
9
đời của Hai Bà Trưng. Về thắng cảnh ấy, Đặng
Xuân Bảng viết: “Núi Bát Cảnh… 99 ngọn đổ
xuống sông Hát Nhuệ Giang cứ thế chảy theo
hướng nam, đến Cửa Bộc, huyện Nam Xang thì
lại đổ vào sông Hồng”1.
Nhị Hà từ tây sang đông
Kim Ngưu, Nhuệ Thủy là sông bên này.
(Ca dao)
Ngoài lúa ngô, khoai đậu, Nhuệ Giang còn tạo
nên ở nơi đây một vùng dâu lụa nổi tiếng của đất
nước. Đó là hiện trạng do sự ban phát cách đây ít
nhất một thế kỷ rưỡi của dòng sông tơ tằm, một chi
lưu của Nhị Hà. Nay thì cảnh quan tự nhiên đã
khác rất nhiều do sự biến hóa của trời đất và bởi tác
động của con người nhưng nền móng để tạo nên
vùng đất văn hiến ven Kinh thành ở chốn này thì
vẫn còn nguyên vẹn trong dấu ấn của lịch sử.
Nền đất do phù sa sông Hồng không ngừng bồi
tụ ấy thật phì nhiêu, có lẽ vì cư dân ở đây sớm
đông đúc mà từ lâu đời đã có những lớp người
phát tán đi nhiều nơi mang theo trong mình nét
văn hóa từ văn minh của dòng sông Cái. Mà đã có
kẻ đi thì rồi tất có người đến vì các miền đất nước
đều là tài sản chung của mọi cư dân. Rồi đến một
ngày, khi Kinh thành rực rỡ cờ hoa đón đoàn
___________
1. Trích trong cuốn sách Sử học bị khảo (Đỗ Mộng
Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính), Thư viện Viện Sử
học, ký hiệu ĐVv, 307/1-2.
10
quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô sau
cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân
Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc (1946-1954), có gia
đình một vị tướng quê từ sông Gianh đến định cư
lâu dài ở trên bờ con sông Hồng này.
Khoảng nửa thế kỷ trước đó, cũng có một người
đàn ông đã rời quê hương, nơi gắn bó với dòng
Nhuệ Giang để đi vào đất Nghệ, với chức vụ là
thư ký nhà ga Vinh. Ông họ Nguyễn, quý danh là
Bình, được thưởng sắc Hàn lâm nên gọi là ông
Hàn Bình. Ông đã xây dựng gia đình tại thị xã,
nơi vốn là quà tặng của dòng sông Lam. Bà Hàn
Bình là cháu ngoại của một nhà Nho ở đất Trung
Cần, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một làng
nằm bên hữu ngạn của dòng sông trong xanh ấy.
Mẹ của bà lấy chồng về làng Đàu, tổng Thịnh
Quả, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng này với
Trung Cần tuy khác tỉnh nhưng theo đường chim
bay thì chỉ cách nhau độ vài ba cây số. Cả hai nơi
cùng nằm trên một miền bãi bồi trải rộng giữa hai
dòng sông là Lam Giang (tức Ngàn Cả) và sông
La (tức Ngàn Sâu - một phụ lưu của nó). Ở miền
quê này, lụt lội là chuyện thường niên nhưng đất
đai thì khá phì nhiêu vì có phù sa của các con
sông ấy bồi đắp. Con người ở đây trung hậu, chí
thú làm ăn, sắt son, tình nghĩa:
Nước lên cho cá lên theo
Đôi bên cha mẹ đói nghèo cả hai.
(Ca dao)
11
Bà Hàn Bình lớn lên ở Thịnh Quả nhưng nhà
có quầy hàng bán vải ở chợ Vinh. Bà lấy chồng lúc
mười tám tuổi. Rồi cùng chồng lập gia đình ở phố
Ga của thành phố này. Năm 1910, họ sinh
Nguyễn Thị Minh Khai, bốn năm sau thì sinh
người con thứ hai, cũng là con gái. Ông Hàn Bình
vui mừng, liền đặt tên cho cô là Nguyễn Thị
Quang Thái. Theo nghĩa trong Kinh Dịch, hai chữ
“Khai - Thái” có hàm ý là đã đến lúc hanh thông,
tức vận may đang đến, làm việc gì cũng thuận lợi.
Còn riêng chữ Quang Thái thì còn có nghĩa là
những tia ngũ sắc được đan xen vào nhau để tạo
nên một màn hoa rực rỡ.
Minh Khai học Lớp Nhất dưới sự dạy dỗ của
thầy Trần Phú. Sau khi đỗ bằng tiểu học tại
thành phố Vinh, noi theo thầy giáo của mình, chị
tham gia hoạt động cách mạng, vào Đảng Tân
Việt. Năm 1930, Minh Khai là đảng viên cộng
sản, xuất dương sang Trung Quốc, được Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thêm về cách mạng.
Một thời gian, chị làm thư ký, giúp việc cho
Người. Từ năm 1934, chị là Ủy viên trong Ban
Cán sự của Đảng ở nước ngoài. Năm 1935, Đại hội
Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp ở
Ma Cao (Trung Quốc), chị được cử làm đại biểu đi
dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, họp
tại Liên Xô. Thời gian ấy chị lập gia đình, kết
duyên với Lê Hồng Phong - Tổng Bí thư của Đảng
Cộng sản Đông Dương, làm Trưởng đoàn đi dự
12
Đại hội Quốc tế Cộng sản. Sau đó Minh Khai về
nước, làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Anh chị sinh
được một người con gái là Lê Hồng Minh. Chị bị
đế quốc Pháp bắt giam rồi đem ra xử bắn tại Hóc
Môn (ngoại ô thành phố Sài Gòn), năm 1941.
Nguyễn Thị Quang Thái sinh năm 1913. Khi
còn ở bậc tiểu học, có lúc về nhà, Quang Thái thấy
Minh Khai mang sổ ghi tiền bán hàng của mẹ ra
và xóa tên cho những người có số nợ chẳng là bao
song vì nhà nghèo nên đã lâu rồi, họ chưa trả
được. Cô biết rõ điều đó nhưng không mách mẹ
mà ủng hộ việc làm của chị gái.
Quang Thái vì là em, có điều kiện hơn nên sau
khi đỗ tiểu học thì thi vào Trường Nữ học Đồng
Khánh, Huế. Ít lâu sau, một số sự kiện đã xảy ra,
như: sự kiện cụ Phan Bội Châu, người khởi xướng,
tổ chức, đi đầu trong công cuộc Đông du sang
Nhật rồi bị trục xuất nên phải qua Trung Quốc,
sau bị thực dân Pháp bắt giải về nước, kết án tù
chung thân và giam lỏng tại Huế (năm 1925); cụ
Phan Châu Trinh, lãnh tụ đấu tranh đòi dân
quyền, sang Pháp một thời gian rồi về, mất tại
Sài Gòn (năm 1926), được nhiều nơi để tang.
Ngoài ra, những cuộc biểu tình của học sinh, sinh
viên suy tôn tinh thần cách mạng của hai cụ Phan
cũng đã nổ ra ở nhiều tỉnh thành, nhằm đòi
quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Riêng tại các
nhà trường từ bậc trung học trở lên, hình thức
đấu tranh không dừng lại ở mức độ ấy mà còn
biểu thị bằng các cuộc bãi khóa.
13
Bấy giờ Võ Nguyên Giáp đã là đảng viên Đảng
Tân Việt.
Trước đó, anh bị đuổi khỏi Quốc học Huế vì là
thành viên trong nhóm cầm đầu cuộc bãi khóa của
học sinh trường này vào những năm 1927-1928. Ít
lâu sau, anh được cụ Huỳnh Thúc Kháng mời vào
làm việc ở Báo Tiếng Dân và sinh hoạt trong Tiểu tổ
Đảng Tân Việt của Tòa soạn báo. Bấy giờ, cụ Huỳnh
Thúc Kháng không vào Tân Việt nhưng cụ tôn
trọng những người làm cách mạng. Tổ chức giao
anh Giáp giữ mối liên lạc giữa các cấp bộ của Đảng
này từ các nơi về với Thừa Thiên - Huế.
Nguyễn Thị Quang Thái vì tham gia các vụ
bãi khóa ở Trường Nữ học Đồng Khánh nên cũng
bị đuổi. Quay trở về nhà, chị cũng vào Đảng Tân
Việt và hoạt động tại Vinh.
Rồi đến một ngày, Quang Thái được Tỉnh bộ
Tân Việt Nghệ An giới thiệu vào bắt liên lạc với
các tổ chức của đảng mình ở Kinh kỳ. Việc đầu
tiên của chị là phải gặp cho được Võ Nguyên Giáp.
Nơi trọ cũng là văn phòng làm việc của anh
Giáp đặt tại gia đình ông Lê Ấm, con rể cụ Phan
Châu Trinh. Ngôi nhà ấy nằm khuất phía sau
Kinh thành Huế. Từ cửa Đông Ba rẽ trái, rồi
phải, đi qua những cung đường ngoằn ngoèo khó
nhận ra nhưng vì trách nhiệm của đoàn thể giao
và bởi một sự thôi thúc nào đó chưa hình dung
được mà Quang Thái cứ mạnh dạn đi và đã tìm
được đến nơi.
14
Bấy giờ xuất hiện trước chàng thanh niên Võ
Nguyên Giáp là một tiểu thư dáng hình mảnh dẻ,
xinh xắn, đôi mắt tươi vui, đầy vẻ cương quyết với
giọng nói nhẹ nhàng nhưng rắn rỏi. Gương mặt
vừa trong sáng vừa dịu dàng ấy có một sức thu
hút lạ thường đối với người mà cô đang đối diện.
Bỗng nhiên, anh Giáp tự đặt câu hỏi: Không biết
con người này, với cặp mắt ấy, mình đã bắt gặp ở
đâu, trong hoàn cảnh nào?
Dòng ký ức hiện lại trong anh.
Số là cách đó khoảng một năm, khi Tổng bộ
Đảng Tân Việt đã chuyển vào Huế, anh Giáp được
tổ chức cử ra Bắc. Trên đường đi phải dừng lại ở
Vinh để thông báo với Tỉnh bộ Nghệ An một số
vấn đề về chủ trương mới của đảng này.
Anh đóng vai một công tử giàu có, mặc bộ
comple hàng hiệu, đội mũ phớt đắt tiền, ngồi toa
hạng Nhì trên tàu hỏa. Khi gần đến nơi, nếu
xuống rồi không lâu lại lên tàu giữa trung tâm
thành phố Vinh thì rất dễ bị mật thám Pháp theo
dõi nên anh phải dừng lại khi xe lửa đỗ ở một ga
xép, là ga Thôn Thượng (Hưng Nguyên). Từ đó
anh còn phải cuốc bộ khoảng bốn cây số theo
đường ray. Dân các làng và khách bộ hành qua lại
cứ tưởng anh là một công chức đi làm từ nơi xa,
nay đang trên đường về thăm nhà. Đến vùng
ngoại ô của đô thị, anh gọi một chiếc xe kéo loại
sang, nhờ đi đến hiệu cắt tóc Vĩnh Long, phố
Thống chế Phốc (nay là đường Quang Trung), nơi
15
Đảng Tân Việt đặt cơ sở liên lạc của Tỉnh bộ Nghệ
An. Anh chàng “công tử” ấy, sau khi trả tiền công
cho bác phu xe, trong túi chỉ còn hai hào.
Nguyễn Đình Đoàn dẫn anh đến cơ quan, đóng
tại một xóm đạo ở phía Cầu Rầm. Người trực tiếp
làm việc với anh là một phụ nữ. Trong điều kiện
bí mật, các đồng chí ở Vinh tiếp nhận chỉ thị của
Tổng bộ xong còn phải lo đủ kinh phí để anh Giáp
đi tiếp ra Hà Nội.
Rất tiếc là thời gian và hoàn cảnh không cho
phép ở lại lâu dù anh Giáp biết, núi Con Mèo, nơi
khai sinh ra hội Phục Việt (tên thuở ban đầu của
Tân Việt) ở cách chỗ anh đứng chỉ một thôi đường.
Khi tiễn anh ra ga Vinh, Nguyễn Đình Đoàn
chỉ kịp nói:
- Người cán bộ làm việc với anh vừa rồi là
Nguyễn Thị Minh Khai. Chị có cô em gái là
Quang Thái, cũng rất thông minh và xinh đẹp.
Võ Nguyên Giáp ra ngoài đó để gặp Kỳ bộ Tân
Việt của xứ Bắc, mang biệt danh là Nhân Kỳ.
Hành lý của anh vẫn là chiếc vali rất sang ấy,
đựng quần áo cùng nhiều tập giấy thông thường.
Cái xen lẫn vào trong đó lại là thứ quan trọng, đó
là các công văn, tài liệu của đoàn thể.
Xuống tàu ở ga Hàng Cỏ, anh cuốc bộ đến
Trường Đại học Đông Dương tại phố Bôliô, nay là
đường Lê Thánh Tông. Tôn Quang Phiệt tiếp anh
trong một quán nước ở trước ngõ nhà trường rồi
họ cùng đi tới trụ sở liên lạc của Kỳ bộ Tân Việt
16
của đất Bắc - Nhân Kỳ, bí mật đặt tại phố Huế,
nằm lọt giữa khu nhà 24 gian, là một trong những
xóm Cô Đầu của đất Hà Thành. Thuở bấy giờ, các
thông tin quan trọng của đoàn thể được những
bậc trí thức đóng các vai “lãng tử” chuyển tải cho
nhau ở nơi giao tiếp giữa đời thường của thế gian
như vậy đó.
Mấy hôm sau, khi xong việc, Võ Nguyên Giáp
trở về, cũng trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế.
Khi tàu đã chạy qua ga Vinh một quãng, nhân có
việc phải đi lên ở toa phía trước, anh gặp hai cô
gái đang cùng đứng trò chuyện. Trong đó có một
người anh quen, ấy là cô Cầm, nữ sinh Trường
Đồng Khánh, em của chị Hải Đường, cùng tham
gia bãi khóa năm trước. Cầm nhận ra anh Giáp.
Cô vội chào rồi giới thiệu bạn mình là Nguyễn Thị
Quang Thái, nhà ở Vinh, có việc cùng vào Huế.
Bấy giờ vì hoàn cảnh công tác không tiện chuyện trò
lâu nhưng Giáp đã để ý đến cô bạn của Cầm với
gương mặt trái xoan, dáng đoan trang và đôi mắt
sáng. Để đến hôm nay thì anh thực sự bị chính đôi
mắt ấy chinh phục. Anh lại cứ nghĩ là không biết tại
sao trong dịp ghé lại Vinh dạo nọ, khi tiễn anh ra ga
xe lửa, anh Đoàn đã nói về cô em gái của chị Minh
Khai để buổi gặp gỡ trên tàu sau đó đã tạo nên ở
trong anh một cái gì đó vương vấn.
Trở lại buổi gặp nhau ở Huế, khi anh Giáp
tính chuyện thu xếp nơi nghỉ cho khách thì
Quang Thái bảo:
17
- Cảm ơn anh, việc đó sẽ có Cầm, bạn em lo liệu.
Trời đã cuối thu nhưng tiết giao mùa ở trong
này có muộn hơn so với ngoài xứ Nghệ. Nắng
vàng vẫn rải nhẹ trên bờ sông Hương. Hai người
giữ bước đi cách quãng, tưởng như không hề liên
quan. Họ nói với nhau trong im lặng, ít ngôn từ
mà nhiều ký thác.
Một gốc tùng cổ thụ rũ tóc vàng trong nắng
thu. Cây đứng bên đường như là quà tặng cho
những trai thanh, gái lịch để cùng hẹn hò, đổi
trao. Và, với chàng trai lớn lên ở Đồng Hới, nơi
giọng nói giàu “ngọt lịm yêu thương” cùng cô gái
đến từ thành phố bên bờ sông Lam “dạt dào sóng
nước” thì gốc tùng cũng tựa như người bạn đang
âm thầm lắng nghe những tâm tình gửi trao giữa
đôi bên. Tuy họ không nhìn nhau nhưng hai trái
tim thì lại giao hòa. Chàng thư sinh họ Võ kể cho
người bạn gái nghe về dòng sông lớn đất Quảng
Bình, cũng là sông rộng nhất miền Trung của Tổ
quốc, tức sông Gianh, tên chữ là Linh Giang. Còn
con sông nhỏ chảy qua làng quê An Xá, huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình quê anh, ấy là dòng Kiến
Giang, cũng gọi là sông Đại. Sông này cũng bắt
nguồn từ Trường Sơn, chảy len lỏi giữa vùng núi An
Mã rồi tuôn xuống đồng bằng, tưới mát cho đồng
điền hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy. Có người
nói, trong thành ngữ: “Nhất Đồng Nai, nhì Hai
Huyện” thì địa danh “Hai Huyện” là chỉ Quảng
Ninh và Lệ Thủy. Có lẽ vì vậy nên có câu ca:
18
“Ai về cửa bể Quảng Bình
Cá ngon, cơm trắng là mình với ta”.
Về xuôi, Kiến Giang nhập vào phá Hạc Hải rồi
cùng đổ ra cửa Nhật Lệ. Phá Hạc Hải còn do nhiều
dòng nước khác tuôn về nên rộng mênh mông. Xung
quanh phá có những động cát trắng phau. Dưới
chân những đụn cát là các trảng đất để trồng cói rồi
mới đến cái đầm nước. Cây cói ở đây được đem sánh
với lá nón nơi Quy Hậu, Ba Đồn, nên có câu: “Chiếu
cói An Xá, nón lá Quy Hậu”.
Tiếng vậy chứ trên bản đồ, người ta chú ý đến
sông Nhật Lệ nhiều hơn, tuy cả hai cùng hợp lưu
rồi đổ vào phá Hạc Hải, vì Nhật Lệ chảy qua thị
xã Đồng Hới. Còn khi nhắc đến cư dân Quảng
Bình thì người ta nói đó là những người con của
sông Gianh. Mà sự thật về lịch sử và văn hóa,
Linh Giang đủ đại diện cho cả Kiến Giang và
Nhật Lệ.
Sông Gianh bắt nguồn từ núi Trường Sơn, trên
một lưu vực rất rộng mà mỗi ngọn nguồn, mỗi bến
nước đều mang trong mình biết bao câu chuyện
thần kỳ:
Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu.
(Ca dao)
Võ Nguyên Giáp đưa câu ca đã từ ngàn xưa
ấy ra hỏi bạn, Quang Thái chịu không trả lời
được và bảo:
19
- Ôi, Đèo Ngang, sông Gianh, Phong Nha rồi cả
Lũy Thầy nữa, đến quê anh, mỗi bước đường lắng
đọng mỗi sự tích thần kỳ. Chả biết đất có giúp ta
học theo được chút gì qua hào khí của cổ nhân.
Em nghĩ, những chàng trai như các anh phải trả
lời trước các câu hỏi đó. Còn em, ước gì chúng ta
cùng nhau có dịp cùng đứng nhìn dòng sông Lam.
Bấy giờ em sẽ trả lời anh câu hỏi này.
Lời của Quang Thái bỗng khiến người thanh
niên Võ Nguyên Giáp nhớ lại và ngẫm nghĩ về vai
trò “Địa giới” của sông Gianh trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672). Qua cuộc đọ sức
lâu dài ấy, quân Nguyễn tuy non hơn về binh lực
nhưng do chủ yếu là chiến đấu trên đất nhà, lại có
thành lũy kiên cố nên qua bảy lần giao chiến,
quân Trịnh không sao tiến sâu vào phía trong
được nên cuối cùng phải chịu giảng hòa, lấy sông
Gianh làm giới hạn để phân định Đàng Trong Đàng Ngoài.
Hệ thống đồn lũy ấy được bố trí cách quãng
trên bốn bức thành chạy dài và vững chãi từ tây
xuống đông. Trong đó, các bức kiên cố nhất là lũy
Trường Dục, bắt đầu từ chân Trường Sơn kéo
xuống tận Hạc Hải và lũy Đông Hồi từ núi Đầu
Mâu chạy xuôi tới cửa biển Nhật Lệ. Các bức lũy
ấy đắp từ năm 1630 đến năm 1634 và được gọi
chung là Lũy Thầy vì do Đào Duy Từ, bậc quân sư
kiệt xuất đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên tổ
chức xây đắp.
20
Lớn lên trên vùng sông Gianh - Lũy Thầy, dải
đất một thời binh đao kéo dài rồi bị chia cắt hàng
trăm năm, Võ Nguyên Giáp đã bắt đầu nghĩ về
những bài học quân sự của tiền nhân và ít nhiều
có những nhận thức rằng, sự phân liệt sơn hà của
những triều đại phong kiến như vậy hẳn đã làm
cho kinh tế của nước nhà chậm phát triển và các
thế lực bên ngoài dễ lợi dụng mà len vào. Bài học
về đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước, tuy
còn mơ hồ nhưng đã nhen nhóm trong ý thức của
chàng thanh niên họ Võ, đảng viên Đảng Tân Việt
hồi ấy.
Quang Thái đọc được nét suy tư ở người bạn
trai, cũng là người đồng chí rồi hỏi:
- Chắc anh đang nghĩ về một điều gì khác?
- Không, không… cũng là việc chung thôi mà! Chàng trai đáp vội để cô gái yên lòng.
Quang Thái nhận ra nơi vầng trán rộng và cao
ở người bạn một chút vẻ tang bồng. Rồi từ trong
lòng mình, cô muốn hỏi thêm đôi ba câu chuyện
nhưng thời gian không còn.
Hai người tạm chia tay nhau ở đó.
Xa người nhưng gương mặt tươi vui cùng vẻ
đẹp trang nhã từ miệng cười và đôi mắt diễm lệ
của nàng thì đọng lại trong hồn của kẻ phải tạm
cách chia.
Họ đã thuộc về nhau rồi sao!
Về việc ngắm dòng sông Lam mà ở phía tả
ngạn thuộc vùng hạ du có làng Sen, làng Chùa,
21
nơi cậu Nguyễn Sinh Cung về sau là lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc đã cất tiếng khóc chào đời, được
nuôi lớn rồi bước đến với nhân loại là điều Võ
Nguyên Giáp hằng ao ước nhưng chưa có dịp
nào, dù đã vài lần anh từng ngồi trên xe lửa,
băng qua các con cầu trên sông Cả, sông La.
Số là kể từ lần đầu, hồi lên trung học, anh được
học với Giáo sư Đặng Thai Mai. Thầy là con trai
của Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, người làng
Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Cụ thân sinh ra thầy đã từng hoạt động Văn
thân, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Cụ đã
từng sống những ngày “Đặng, Huỳnh, Ngô ba bốn
bác hàn huyên, khi nhấp rượu, lúc ngâm thơ,
trước cửa ngục lầm than mà khẳng khái” (Phan
Bội Châu). Thầy Mai từng theo Nho học, khi đã
đủ trình độ để thi Hương thì người Pháp buộc
Chính phủ Nam triều phải bãi bỏ các kỳ thi chữ
Hán. Lớp nho sinh như thầy ở đất Nghệ có cả
Nguyễn Sĩ Sách, Tôn Quang Phiệt,... phải chuyển
sang Tân học. Sau đó, tuy giỏi tiếng Pháp, tốt
nghiệp Cao đẳng sư phạm, dạy ở trường Quốc học
nhưng thầy vẫn trau dồi chữ Hán. Thấy anh Giáp
là người ham học, vào một dịp nghỉ hè, thầy đã rủ
anh ra Vinh. Và cả hai người đã cùng đến học với
vị cử nhân Hồ Phi Huyền ở phố Khách.
Cụ Cử Hồ đổi công cho một số chủ hiệu thuốc
Bắc bằng cách cụ kê đơn, chỉ cho bệnh nhân mua
thuốc ngay ở hiệu này; còn chủ hiệu thuốc thì họ
22
dành cho cụ một căn phòng ở sát sân nhà ngoài để
ăn nghỉ và cũng là để “bảo vệ cơ ngơi” cho họ! Có
điều là cụ không bao giờ để trống thời gian. Ban
ngày, cụ kê đơn cho gia đình bệnh nhân đến từ
nhiều làng quê, thậm chí từ những nơi rất xa, vì
họ nghe tin về sự hiệu nghiệm của những thang
thuốc do thầy kê đơn. Chủ hiệu thuốc rất mừng
và thêm quý ông Cử bởi sự giỏi giang và thanh
bạch. Khi đêm về yên tĩnh, cụ ngồi viết sách. Hai
tác phẩm nổi tiếng Đạm Trai văn tập và Nhân
đạo quyền hành được cụ viết tự nơi này. Thầy Mai
có trình độ cao nên tiếp thu được từ cụ nhiều hơn,
về sau thầy trở thành con rể của cụ. Với Võ
Nguyên Giáp, đương nhiên, sức tiếp thu không
bằng thầy học của mình nhưng đấy là những ngày
tháng rất bổ ích cho anh. Mỗi lời giảng của cụ Cử
có chất lý luận (ta thường gọi là lôgích triết học)
rất cao và thấm đượm tính nhân đạo rất sâu. Cụ
thường nói với các môn đệ rằng, người không có
năng lực lý luận thì khi gặp cảnh nguy nan trong
quan hệ xã hội, họ sẽ khó mà phân biệt rõ đúng,
sai để định ra được cách xử lý việc đời cho thích
hợp. Đó cũng là điều mà sau này anh Giáp thường
nhắc lại với em trai mình là Võ Thuần Nho, cả
khi ông Nho đã là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
*
* *
Còn về Nguyễn Ái Quốc, người con được sinh ra
trên bờ sông Lam, khi vừa xuất hiện trên các báo
23
chí ở Pari liền được các chính khách ở bên đó tôn
xưng là “Lơ Patơriốttờ Nguyễn” (Le Patriote
Nguyên), tức “Ông Nguyễn Yêu nước”. Tin đó
sớm được truyền về Đông Dương và những bài
viết của Người. Với anh Giáp, do hoạt động
trong điều kiện bí mật, nên chỉ biết qua tài liệu
mà chưa được tiếp xúc và quen biết, nhưng tấm
hình người thanh niên mặc Âu phục, đội mũ
phớt, có đôi mắt sáng, kiên nghị, có sức nhìn
như thấu suốt mọi tình cảnh của nhân gian thì
anh không thể nào quên.
Nhớ mấy năm về trước, khi đã bị đuổi học vì
tham gia bãi khóa, về sống vớí gia đình ở An Xá,
Võ Nguyên Giáp được Nguyễn Chí Diểu tìm đến
nhà, trao cho cuốn sách Chủ nghĩa cộng sản viết
bằng tiếng Pháp, in ở Brúcxen, Bỉ, cùng một số tài
liệu nói về Liên hiệp các dân tộc bị áp bức trên thế
giới và mấy văn bản ghi chép từ các cuộc họp của
những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu
(Trung Quốc), đặc biệt trong đó có bài nói chuyện
của đồng chí Lý Thụy. Trước khi ra về, đồng chí
Diểu còn mách nhỏ để anh Giáp biết, các tài liệu
ấy được chuyển về là do chủ trương và công sức của
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và, Lý Thụy là mật
danh của Người.
Có được số tài liệu ấy, anh Giáp lần lượt mang
ra lùm cây sau vườn, trèo lên chỗ cành rậm, ngồi
đọc. Cứ sau mỗi đoạn, mỗi chương anh lại liên hệ
đến cách hành văn của Nguyễn Ái Quốc trong tập
24
“Bản án chế độ thực dân Pháp” mà anh Nguyễn
Khoa Văn1 đã bí mật cho mượn. Sau này, Võ
Nguyên Giáp viết trong cuốn sách Những chặng
đường lịch sử: “Lần đầu tiên tôi được đọc một tập
tài liệu có hệ thống về chủ nghĩa cộng sản và chủ
nghĩa quốc tế. Có thể nói là, tư tưởng của chủ
nghĩa cộng sản đã được cắt nghĩa lần lần qua
từng trang sách. Sau đó, tôi trở lại Huế, lần này
không phải đi học mà là đi hoạt động cách mạng”.
Vào quãng thời gian tham gia Đảng Tân Việt
và làm Báo Tiếng Dân ở đất Kinh kỳ, càng tiếp
xúc với những tài liệu, báo chí từ cả nước ngoài
gửi về, anh Giáp càng hình dung đến cây bút viết
nghị luận và châm biếm sắc sảo Nguyễn Ái Quốc,
nên anh càng thiết tha được tìm hiểu về con người
lỗi lạc đó. Chưa được tiếp kiến trực tiếp thì cũng
phải đi đến vùng quê nơi đã sinh ra và nuôi lớn
Người, để tự cắt nghĩa được phần nào những băn
khoăn, thắc mắc của mình, nhằm giải đáp được
điều bản thân luôn suy nghĩ: Vì sao nước Nam
này lại có được một nhân vật lớn như vậy? Để sau
này, nếu may mắn được gặp Người thì mình sẽ
bớt đi phần nào sự bỡ ngỡ.
Rồi đến một ngày, chàng thư sinh họ Võ thực
sự được đến với sông Lam. Cùng với công việc của
đoàn thể, chàng còn tới để đòi lại “món nợ” mà
___________
1. Bút danh là Hải Triều, nhà lý luận mácxít của Đảng.
25
người bạn gái đã hứa là trả trọn khi họ cùng được
ngắm nhìn dòng sông này.
Chàng đánh bạo đến thăm nhà của ý trung
nhân (số 139, đường Thống chế Phốc (Maréchal
Fock), về sau gọi là phố Ga), lấy cớ là cùng hoạt
động nên quen biết Quang Thái, nhân có công tác
phải ra ngoài này, rồi được bạn mời về. Gia đình
ông Hàn Bình thường vốn đông khách khứa lui tới
nhưng chàng thư sinh đến từ sông Gianh này quả
đã để lại cho chủ nhân một ấn tượng đẹp.
Được phép của ông bà Hàn, hai cô cậu đến bến
Cửa Tiền, thuê một chuyến đò dọc, đi ngược sông
Lam. Đến Sa Nam thì họ lên bờ, trà trộn vào buổi
chợ phiên, giả dạng mua bán, xong rồi lại xuống
thuyền chứ không dám đi xa. Thế cũng đủ để đôi
bạn trẻ hình dung ra cả một dải hạ lưu của sông,
một mạch chảy, nơi đã sản sinh ra biết bao những
anh hùng, hào kiệt của mỗi thời.
Vùng Cát Ngạn bên hữu ngạn sông là nơi hồi
thế kỷ X, quan Thứ sử Đinh Công Trứ đã đóng
trấn sở. Bà Đàm Thị là Đinh phu nhân đã tới đây
và có mang trên đất này rồi sinh ra người con
trai mà về sau đã đánh bại 11 sứ quân khác để
lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, thống nhất đất
nước. Ấy là vua Đinh Tiên Hoàng. Bên tả ngạn,
từ trên xuống, cách ngã ba Cửa Rào (cái rốn của
cộng đồng dân tộc Mường thuở trước) về xuôi
không xa là đất Thành Nam. Tương truyền khi
quân Minh mới sang xâm chiếm nước ta, chúng
26
đã bắt Nguyễn Trãi đem vào giam lỏng ở nơi
này1. Tiếp đến là doanh trại Trà Lân, nơi hồi thế
kỷ XV, nghĩa binh của Lê Lợi đã đánh tan đạo
quân xâm lược Minh đồn trú tại đấy. Cứ thế, vẫn
bên tả ngạn xuôi dưới chân núi Vệ Sơn, tại xã
Hương Lãm, huyện Nam Đàn là di tích thành
Vạn An, nơi vào năm 722, Mai Thúc Loan đã
phất cờ khởi nghĩa rồi từ đó tiến ra Tống Bình
(Thăng Long sau này) đuổi viên quan đô hộ nhà
Đường là Quang Sở Khách chạy về Tàu. Đất
nước được giải phóng, ông lên ngôi hoàng đế. Cứ
thế, về xuôi, có thôn Đan Nhiệm của Giải nguyên
Phan Bội Châu và đi về phía tay trái một quãng,
ấy là làng quê của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Cũng ngang chặng ấy, bên hữu ngạn sông là các
làng quê của hai vị Thám hoa đỗ cùng khoa (Quý
Sửu -1853). Đó là Thám nhất Nguyễn Đức Đạt
và Thám nhì Nguyễn Văn Giao. Khuất về phía
xa tây nam, là nơi ở ẩn của La Sơn Phu tử
Nguyễn Thiếp, người đã giúp Hoàng đế Quang
Trung, với “Một lời nói mà nên nổi cơ đồ”. Sau
đó, sông chảy về xuôi, bên tả là huyện Hưng
Nguyên, bên phải là phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh). La
Giang sau khi chảy qua làng quê của Đình
nguyên là nhà lãnh tụ Cần vương Phan Đình
Phùng thì theo hướng đông nam mà đổ vào
Lam Giang. Nơi ngã ba sông ấy, phía hữu ngạn
___________
1. Theo dân gian, thế mới có câu: “Góc Thành Nam/
Cơm một niêu, lều một gian/ No nước uống, thiếu cơm
ăn” trong thơ Nguyễn Trãi.
27
là Phù Thạch, còn bên tả ngạn là Triều Khẩu, có
dãy núi Lam Thành đổ bóng. Gọi là Lam Thành
bởi xưa kia đấy là trấn sở của nhà Trần. Về sau
(vào thế kỷ XV), tướng giặc Minh là Trương Phụ
chiếm đóng. Y cho đắp thêm thành và xây cao cột
cờ để chống lại lực lượng kháng chiến của nhà
Hậu Trần. Nhưng rồi ngược lại, mấy năm sau,
chính nơi này, Lê Lợi đã dùng kế vây thành, diệt
viện để tiến lên đuổi sạch quân xâm lược Minh,
giải phóng cả nước. Cần nói thêm, ở chặng ấy,
bên hữu ngạn sông còn có làng quê của vị sứ
thần Nguyễn Biểu, người đã vì nền độc lập của
dân tộc mà dám cả gan ăn cỗ đầu người trước
mặt tướng giặc Minh, dù ngay sau đó ông đã bị
chúng sát hại. Từ đấy, Lam Giang thêm rộng
lòng sau khi nhận thêm các ngòi lạch ở vùng Can
Lộc, quê hương danh sĩ Nguyễn Thiếp, Thám hoa
Nguyễn Huy Oánh, thân sinh nhà thơ Nguyễn
Huy Tự. Tiếp đến, khi chảy sát dải đất Nghi
Xuân là quê hương Nguyễn Du, Nguyễn Công
Trứ thì sông hòa vào biển cả. Cần nói thêm, khi
về xuôi, đụng phải núi Hồng Lĩnh thì sông Lam
mở rộng lòng mà ôm lấy thị xã Vinh - Bến Thủy,
một trung tâm kỹ nghệ và thương mại lớn của
khu vực Bắc Trung Kỳ.
Lam Giang cũng như Linh Giang, mỗi khúc
sông, mỗi bến nước còn ghi dấu tài thao lược đuổi
giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi của người xưa. Khi
đất nước còn bóng kẻ xâm lăng thì bổn phận của
những người con trai, con gái như Võ Nguyên Giáp,
28
Nguyễn Thị Quang Thái,... còn phải vươn lên vì
nợ nước, thù nh...
 





