BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chu Trọng Huyến)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 10h:18' 07-05-2024
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
    LÊ MẠNH HÙNG
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    VŨ TRỌNG LÂM
    NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TRẦN THANH LÂM
    NGUYỄN HOÀI ANH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ
    Chí Minh đã đào tạo được nhiều học trò xuất sắc, trong
    đó Võ Nguyên Giáp là một trong những học trò gần gũi,
    xuất sắc của Người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn
    ghi nhớ và làm theo lời dạy của Bác Hồ, là một tấm
    gương điển hình về đạo đức của người cách mạng, về đặt
    quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết.
    Lịch sử nước nhà mãi lưu danh hai nhân vật vĩ đại:
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc,
    danh nhân văn hóa kiệt xuất và Đại tướng Võ Nguyên
    Giáp - vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự, người
    Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người học
    trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử đã đưa
    hai con người xuất chúng ấy đến gần nhau, trở thành
    hai thầy trò, hai người đồng chí, hai người tri kỷ để
    làm nên hai cái tên mà chắc là lịch sử sẽ luôn nhắc tới.
    Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường,
    thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng như
    nhằm góp phần giáo dục, phát huy truyền thống yêu
    nước, tiếp tục đẩy mạnh cuộc Học tập và làm theo tấm
    gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với

    5

    Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn sách Chủ tịch
    Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
    Cuốn sách đề cập những câu chuyện hết sức chân
    thực về mối quan hệ gần gũi, thân tình giữa Chủ tịch
    Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về những
    dấu mốc đã đưa Đại tướng đến gần với Bác, về sự thiên
    tài nhãn quan của Bác trong việc phát hiện nhân tài
    cho đất nước.
    Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình
    biên soạn cuốn sách, nhưng đây là đề tài lớn nên khó
    tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự
    đóng góp ý kiến của bạn đọc để nội dung cuốn sách
    được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau.
    Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 7 năm 2019
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    LỜI NÓI ĐẦU

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những
    học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ
    Chí Minh. Trong những năm tháng được sống và
    làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, được
    Người giáo dục, rèn luyện, tin tưởng trao trọng
    trách lớn, Đại tướng đã nỗ lực học tập đạo đức, tác
    phong của vị lãnh tụ tối cao và luôn luôn tranh thủ
    sự giúp đỡ của đồng nghiệp các cấp, phấn đấu để trở
    thành một vị tướng kiệt xuất, có những đóng góp to
    lớn vào công cuộc đấu tranh cách mạng vẻ vang của
    dân tộc.
    Nội dung cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
    tướng Võ Nguyên Giáp chủ yếu tập trung đề cập mối
    quan hệ làm việc, cộng tác gần gũi giữa Lãnh tụ
    Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với nhà quân sự
    chiến lược Võ Nguyên Giáp từ những năm 1940 cho
    tới khi nhân dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng
    chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược bằng Chiến
    thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Đó là mối quan hệ thân
    tình mà thiêng liêng giữa vị lãnh tụ tối cao của dân
    tộc với một trong những đồng chí, cộng sự tín cẩn của
    Người. Qua cuốn sách, ta có thể thấy rõ tầm anh
    7

    minh, quảng bác của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
    lãnh đạo, chỉ đạo về đường lối cách mạng, về khả
    năng và sử dụng nhân tài của Người. Đồng thời,
    cuốn sách cũng chỉ rõ tài năng binh nghiệp của
    chàng thanh niên yêu nước Võ Nguyên Giáp. Nhờ đi
    theo con đường cách mạng, Võ Nguyên Giáp đã được
    gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở nơi đất khách quê
    người để rồi từ một lời dặn của Người, coi như là
    “anh hùng đoán giữa trần ai” mà về sau “nên nỗi cơ
    đồ” ở trong ông. Cùng với yếu tố quý giá đó là sự nỗ
    lực rèn luyện, phấn đấu không ngừng của nhà quân
    sự Võ Nguyên Giáp, một trong những người đi đầu
    trong việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo
    đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Sau khi được xuất bản lần đầu tiên vào năm
    2007 (do Nhà xuất bản Thông tấn tổ chức xuất
    bản), cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại
    tướng Võ Nguyên Giáp đã được đông đảo bạn đọc
    gần xa đón nhận và góp thêm nhiều ý kiến quý
    báu. Nhân dịp cuốn sách được tái bản, tác giả đã
    tiếp thu mọi ý kiến, chỉnh lý, bổ sung để tác phẩm
    thêm chất lượng, xứng đáng với sự quan tâm của
    quý độc giả. Tuy nhiên, với một đề tài lớn và quan
    trọng như thế, cuốn sách khó tránh khỏi những
    khiếm khuyết trong nội dung và cách thể hiện,
    mong quý bạn đọc tiếp tục góp thêm ý kiến phê
    bình để nội dung cuốn sách ngày một hoàn thiện.
    TÁC GIẢ

    8

    TỪ NHỮNG DÒNG SÔNG

    Quê nội của chị em Nguyễn Thị Minh Khai và
    Nguyễn Thị Quang Thái ở tỉnh Hà Đông, nay
    thuộc Hà Nội.
    Từ xa xưa, cả về địa lý và lịch sử, Hà Đông là
    vùng đất được lập nên và chi phối từ những chi
    lưu của sông Nhị Hà.
    Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (sinh năm 1827),
    người huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, làm
    quan đến chức Tuần vũ, là nhà sử học và thiên
    văn học, đã viết cuốn sách Sử học bị khảo, trong
    đó nói rõ: “Từ Nhị Hà chia ra, sông Nhuệ ở huyện
    Từ Liêm đổ vào Long Đàm rồi theo hướng đông
    nam chảy qua các huyện Thanh Oai, Thanh Trì
    đến ngã ba Hà Liễu thì đổ vào Tô Lịch. Lại có
    sông Đỗ Động bắt đầu ở đầm Ngũ Xá, huyện
    Thượng Phúc mà nhập vào Nhuệ Giang. Còn về
    phía tây nam thì có sông Kim Ngưu bắt đầu từ Hồ
    Tây (huyện Vĩnh Thuận) mà chảy nhập vào”. Đến
    ngã ba Lương Thủy, Nhuệ Giang còn có nhánh
    của sông Hát từ phía đông chảy đến. Mà Hát
    Giang chảy dưới Bát Cảnh Sơn, đó là nơi gắn bó
    với sự nghiệp vĩ đại và cả giây phút oai hùng cuối
    9

    đời của Hai Bà Trưng. Về thắng cảnh ấy, Đặng
    Xuân Bảng viết: “Núi Bát Cảnh… 99 ngọn đổ
    xuống sông Hát Nhuệ Giang cứ thế chảy theo
    hướng nam, đến Cửa Bộc, huyện Nam Xang thì
    lại đổ vào sông Hồng”1.
    Nhị Hà từ tây sang đông
    Kim Ngưu, Nhuệ Thủy là sông bên này.
    (Ca dao)
    Ngoài lúa ngô, khoai đậu, Nhuệ Giang còn tạo
    nên ở nơi đây một vùng dâu lụa nổi tiếng của đất
    nước. Đó là hiện trạng do sự ban phát cách đây ít
    nhất một thế kỷ rưỡi của dòng sông tơ tằm, một chi
    lưu của Nhị Hà. Nay thì cảnh quan tự nhiên đã
    khác rất nhiều do sự biến hóa của trời đất và bởi tác
    động của con người nhưng nền móng để tạo nên
    vùng đất văn hiến ven Kinh thành ở chốn này thì
    vẫn còn nguyên vẹn trong dấu ấn của lịch sử.
    Nền đất do phù sa sông Hồng không ngừng bồi
    tụ ấy thật phì nhiêu, có lẽ vì cư dân ở đây sớm
    đông đúc mà từ lâu đời đã có những lớp người
    phát tán đi nhiều nơi mang theo trong mình nét
    văn hóa từ văn minh của dòng sông Cái. Mà đã có
    kẻ đi thì rồi tất có người đến vì các miền đất nước
    đều là tài sản chung của mọi cư dân. Rồi đến một
    ngày, khi Kinh thành rực rỡ cờ hoa đón đoàn
    ___________
    1. Trích trong cuốn sách Sử học bị khảo (Đỗ Mộng
    Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính), Thư viện Viện Sử
    học, ký hiệu ĐVv, 307/1-2.

    10

    quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô sau
    cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân
    Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc (1946-1954), có gia
    đình một vị tướng quê từ sông Gianh đến định cư
    lâu dài ở trên bờ con sông Hồng này.
    Khoảng nửa thế kỷ trước đó, cũng có một người
    đàn ông đã rời quê hương, nơi gắn bó với dòng
    Nhuệ Giang để đi vào đất Nghệ, với chức vụ là
    thư ký nhà ga Vinh. Ông họ Nguyễn, quý danh là
    Bình, được thưởng sắc Hàn lâm nên gọi là ông
    Hàn Bình. Ông đã xây dựng gia đình tại thị xã,
    nơi vốn là quà tặng của dòng sông Lam. Bà Hàn
    Bình là cháu ngoại của một nhà Nho ở đất Trung
    Cần, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một làng
    nằm bên hữu ngạn của dòng sông trong xanh ấy.
    Mẹ của bà lấy chồng về làng Đàu, tổng Thịnh
    Quả, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng này với
    Trung Cần tuy khác tỉnh nhưng theo đường chim
    bay thì chỉ cách nhau độ vài ba cây số. Cả hai nơi
    cùng nằm trên một miền bãi bồi trải rộng giữa hai
    dòng sông là Lam Giang (tức Ngàn Cả) và sông
    La (tức Ngàn Sâu - một phụ lưu của nó). Ở miền
    quê này, lụt lội là chuyện thường niên nhưng đất
    đai thì khá phì nhiêu vì có phù sa của các con
    sông ấy bồi đắp. Con người ở đây trung hậu, chí
    thú làm ăn, sắt son, tình nghĩa:
    Nước lên cho cá lên theo
    Đôi bên cha mẹ đói nghèo cả hai.
    (Ca dao)
    11

    Bà Hàn Bình lớn lên ở Thịnh Quả nhưng nhà
    có quầy hàng bán vải ở chợ Vinh. Bà lấy chồng lúc
    mười tám tuổi. Rồi cùng chồng lập gia đình ở phố
    Ga của thành phố này. Năm 1910, họ sinh
    Nguyễn Thị Minh Khai, bốn năm sau thì sinh
    người con thứ hai, cũng là con gái. Ông Hàn Bình
    vui mừng, liền đặt tên cho cô là Nguyễn Thị
    Quang Thái. Theo nghĩa trong Kinh Dịch, hai chữ
    “Khai - Thái” có hàm ý là đã đến lúc hanh thông,
    tức vận may đang đến, làm việc gì cũng thuận lợi.
    Còn riêng chữ Quang Thái thì còn có nghĩa là
    những tia ngũ sắc được đan xen vào nhau để tạo
    nên một màn hoa rực rỡ.
    Minh Khai học Lớp Nhất dưới sự dạy dỗ của
    thầy Trần Phú. Sau khi đỗ bằng tiểu học tại
    thành phố Vinh, noi theo thầy giáo của mình, chị
    tham gia hoạt động cách mạng, vào Đảng Tân
    Việt. Năm 1930, Minh Khai là đảng viên cộng
    sản, xuất dương sang Trung Quốc, được Lãnh tụ
    Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thêm về cách mạng.
    Một thời gian, chị làm thư ký, giúp việc cho
    Người. Từ năm 1934, chị là Ủy viên trong Ban
    Cán sự của Đảng ở nước ngoài. Năm 1935, Đại hội
    Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp ở
    Ma Cao (Trung Quốc), chị được cử làm đại biểu đi
    dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, họp
    tại Liên Xô. Thời gian ấy chị lập gia đình, kết
    duyên với Lê Hồng Phong - Tổng Bí thư của Đảng
    Cộng sản Đông Dương, làm Trưởng đoàn đi dự
    12

    Đại hội Quốc tế Cộng sản. Sau đó Minh Khai về
    nước, làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Anh chị sinh
    được một người con gái là Lê Hồng Minh. Chị bị
    đế quốc Pháp bắt giam rồi đem ra xử bắn tại Hóc
    Môn (ngoại ô thành phố Sài Gòn), năm 1941.
    Nguyễn Thị Quang Thái sinh năm 1913. Khi
    còn ở bậc tiểu học, có lúc về nhà, Quang Thái thấy
    Minh Khai mang sổ ghi tiền bán hàng của mẹ ra
    và xóa tên cho những người có số nợ chẳng là bao
    song vì nhà nghèo nên đã lâu rồi, họ chưa trả
    được. Cô biết rõ điều đó nhưng không mách mẹ
    mà ủng hộ việc làm của chị gái.
    Quang Thái vì là em, có điều kiện hơn nên sau
    khi đỗ tiểu học thì thi vào Trường Nữ học Đồng
    Khánh, Huế. Ít lâu sau, một số sự kiện đã xảy ra,
    như: sự kiện cụ Phan Bội Châu, người khởi xướng,
    tổ chức, đi đầu trong công cuộc Đông du sang
    Nhật rồi bị trục xuất nên phải qua Trung Quốc,
    sau bị thực dân Pháp bắt giải về nước, kết án tù
    chung thân và giam lỏng tại Huế (năm 1925); cụ
    Phan Châu Trinh, lãnh tụ đấu tranh đòi dân
    quyền, sang Pháp một thời gian rồi về, mất tại
    Sài Gòn (năm 1926), được nhiều nơi để tang.
    Ngoài ra, những cuộc biểu tình của học sinh, sinh
    viên suy tôn tinh thần cách mạng của hai cụ Phan
    cũng đã nổ ra ở nhiều tỉnh thành, nhằm đòi
    quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Riêng tại các
    nhà trường từ bậc trung học trở lên, hình thức
    đấu tranh không dừng lại ở mức độ ấy mà còn
    biểu thị bằng các cuộc bãi khóa.
    13

    Bấy giờ Võ Nguyên Giáp đã là đảng viên Đảng
    Tân Việt.
    Trước đó, anh bị đuổi khỏi Quốc học Huế vì là
    thành viên trong nhóm cầm đầu cuộc bãi khóa của
    học sinh trường này vào những năm 1927-1928. Ít
    lâu sau, anh được cụ Huỳnh Thúc Kháng mời vào
    làm việc ở Báo Tiếng Dân và sinh hoạt trong Tiểu tổ
    Đảng Tân Việt của Tòa soạn báo. Bấy giờ, cụ Huỳnh
    Thúc Kháng không vào Tân Việt nhưng cụ tôn
    trọng những người làm cách mạng. Tổ chức giao
    anh Giáp giữ mối liên lạc giữa các cấp bộ của Đảng
    này từ các nơi về với Thừa Thiên - Huế.
    Nguyễn Thị Quang Thái vì tham gia các vụ
    bãi khóa ở Trường Nữ học Đồng Khánh nên cũng
    bị đuổi. Quay trở về nhà, chị cũng vào Đảng Tân
    Việt và hoạt động tại Vinh.
    Rồi đến một ngày, Quang Thái được Tỉnh bộ
    Tân Việt Nghệ An giới thiệu vào bắt liên lạc với
    các tổ chức của đảng mình ở Kinh kỳ. Việc đầu
    tiên của chị là phải gặp cho được Võ Nguyên Giáp.
    Nơi trọ cũng là văn phòng làm việc của anh
    Giáp đặt tại gia đình ông Lê Ấm, con rể cụ Phan
    Châu Trinh. Ngôi nhà ấy nằm khuất phía sau
    Kinh thành Huế. Từ cửa Đông Ba rẽ trái, rồi
    phải, đi qua những cung đường ngoằn ngoèo khó
    nhận ra nhưng vì trách nhiệm của đoàn thể giao
    và bởi một sự thôi thúc nào đó chưa hình dung
    được mà Quang Thái cứ mạnh dạn đi và đã tìm
    được đến nơi.
    14

    Bấy giờ xuất hiện trước chàng thanh niên Võ
    Nguyên Giáp là một tiểu thư dáng hình mảnh dẻ,
    xinh xắn, đôi mắt tươi vui, đầy vẻ cương quyết với
    giọng nói nhẹ nhàng nhưng rắn rỏi. Gương mặt
    vừa trong sáng vừa dịu dàng ấy có một sức thu
    hút lạ thường đối với người mà cô đang đối diện.
    Bỗng nhiên, anh Giáp tự đặt câu hỏi: Không biết
    con người này, với cặp mắt ấy, mình đã bắt gặp ở
    đâu, trong hoàn cảnh nào?
    Dòng ký ức hiện lại trong anh.
    Số là cách đó khoảng một năm, khi Tổng bộ
    Đảng Tân Việt đã chuyển vào Huế, anh Giáp được
    tổ chức cử ra Bắc. Trên đường đi phải dừng lại ở
    Vinh để thông báo với Tỉnh bộ Nghệ An một số
    vấn đề về chủ trương mới của đảng này.
    Anh đóng vai một công tử giàu có, mặc bộ
    comple hàng hiệu, đội mũ phớt đắt tiền, ngồi toa
    hạng Nhì trên tàu hỏa. Khi gần đến nơi, nếu
    xuống rồi không lâu lại lên tàu giữa trung tâm
    thành phố Vinh thì rất dễ bị mật thám Pháp theo
    dõi nên anh phải dừng lại khi xe lửa đỗ ở một ga
    xép, là ga Thôn Thượng (Hưng Nguyên). Từ đó
    anh còn phải cuốc bộ khoảng bốn cây số theo
    đường ray. Dân các làng và khách bộ hành qua lại
    cứ tưởng anh là một công chức đi làm từ nơi xa,
    nay đang trên đường về thăm nhà. Đến vùng
    ngoại ô của đô thị, anh gọi một chiếc xe kéo loại
    sang, nhờ đi đến hiệu cắt tóc Vĩnh Long, phố
    Thống chế Phốc (nay là đường Quang Trung), nơi
    15

    Đảng Tân Việt đặt cơ sở liên lạc của Tỉnh bộ Nghệ
    An. Anh chàng “công tử” ấy, sau khi trả tiền công
    cho bác phu xe, trong túi chỉ còn hai hào.
    Nguyễn Đình Đoàn dẫn anh đến cơ quan, đóng
    tại một xóm đạo ở phía Cầu Rầm. Người trực tiếp
    làm việc với anh là một phụ nữ. Trong điều kiện
    bí mật, các đồng chí ở Vinh tiếp nhận chỉ thị của
    Tổng bộ xong còn phải lo đủ kinh phí để anh Giáp
    đi tiếp ra Hà Nội.
    Rất tiếc là thời gian và hoàn cảnh không cho
    phép ở lại lâu dù anh Giáp biết, núi Con Mèo, nơi
    khai sinh ra hội Phục Việt (tên thuở ban đầu của
    Tân Việt) ở cách chỗ anh đứng chỉ một thôi đường.
    Khi tiễn anh ra ga Vinh, Nguyễn Đình Đoàn
    chỉ kịp nói:
    - Người cán bộ làm việc với anh vừa rồi là
    Nguyễn Thị Minh Khai. Chị có cô em gái là
    Quang Thái, cũng rất thông minh và xinh đẹp.
    Võ Nguyên Giáp ra ngoài đó để gặp Kỳ bộ Tân
    Việt của xứ Bắc, mang biệt danh là Nhân Kỳ.
    Hành lý của anh vẫn là chiếc vali rất sang ấy,
    đựng quần áo cùng nhiều tập giấy thông thường.
    Cái xen lẫn vào trong đó lại là thứ quan trọng, đó
    là các công văn, tài liệu của đoàn thể.
    Xuống tàu ở ga Hàng Cỏ, anh cuốc bộ đến
    Trường Đại học Đông Dương tại phố Bôliô, nay là
    đường Lê Thánh Tông. Tôn Quang Phiệt tiếp anh
    trong một quán nước ở trước ngõ nhà trường rồi
    họ cùng đi tới trụ sở liên lạc của Kỳ bộ Tân Việt
    16

    của đất Bắc - Nhân Kỳ, bí mật đặt tại phố Huế,
    nằm lọt giữa khu nhà 24 gian, là một trong những
    xóm Cô Đầu của đất Hà Thành. Thuở bấy giờ, các
    thông tin quan trọng của đoàn thể được những
    bậc trí thức đóng các vai “lãng tử” chuyển tải cho
    nhau ở nơi giao tiếp giữa đời thường của thế gian
    như vậy đó.
    Mấy hôm sau, khi xong việc, Võ Nguyên Giáp
    trở về, cũng trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Huế.
    Khi tàu đã chạy qua ga Vinh một quãng, nhân có
    việc phải đi lên ở toa phía trước, anh gặp hai cô
    gái đang cùng đứng trò chuyện. Trong đó có một
    người anh quen, ấy là cô Cầm, nữ sinh Trường
    Đồng Khánh, em của chị Hải Đường, cùng tham
    gia bãi khóa năm trước. Cầm nhận ra anh Giáp.
    Cô vội chào rồi giới thiệu bạn mình là Nguyễn Thị
    Quang Thái, nhà ở Vinh, có việc cùng vào Huế.
    Bấy giờ vì hoàn cảnh công tác không tiện chuyện trò
    lâu nhưng Giáp đã để ý đến cô bạn của Cầm với
    gương mặt trái xoan, dáng đoan trang và đôi mắt
    sáng. Để đến hôm nay thì anh thực sự bị chính đôi
    mắt ấy chinh phục. Anh lại cứ nghĩ là không biết tại
    sao trong dịp ghé lại Vinh dạo nọ, khi tiễn anh ra ga
    xe lửa, anh Đoàn đã nói về cô em gái của chị Minh
    Khai để buổi gặp gỡ trên tàu sau đó đã tạo nên ở
    trong anh một cái gì đó vương vấn.
    Trở lại buổi gặp nhau ở Huế, khi anh Giáp
    tính chuyện thu xếp nơi nghỉ cho khách thì
    Quang Thái bảo:
    17

    - Cảm ơn anh, việc đó sẽ có Cầm, bạn em lo liệu.
    Trời đã cuối thu nhưng tiết giao mùa ở trong
    này có muộn hơn so với ngoài xứ Nghệ. Nắng
    vàng vẫn rải nhẹ trên bờ sông Hương. Hai người
    giữ bước đi cách quãng, tưởng như không hề liên
    quan. Họ nói với nhau trong im lặng, ít ngôn từ
    mà nhiều ký thác.
    Một gốc tùng cổ thụ rũ tóc vàng trong nắng
    thu. Cây đứng bên đường như là quà tặng cho
    những trai thanh, gái lịch để cùng hẹn hò, đổi
    trao. Và, với chàng trai lớn lên ở Đồng Hới, nơi
    giọng nói giàu “ngọt lịm yêu thương” cùng cô gái
    đến từ thành phố bên bờ sông Lam “dạt dào sóng
    nước” thì gốc tùng cũng tựa như người bạn đang
    âm thầm lắng nghe những tâm tình gửi trao giữa
    đôi bên. Tuy họ không nhìn nhau nhưng hai trái
    tim thì lại giao hòa. Chàng thư sinh họ Võ kể cho
    người bạn gái nghe về dòng sông lớn đất Quảng
    Bình, cũng là sông rộng nhất miền Trung của Tổ
    quốc, tức sông Gianh, tên chữ là Linh Giang. Còn
    con sông nhỏ chảy qua làng quê An Xá, huyện Lệ
    Thủy, tỉnh Quảng Bình quê anh, ấy là dòng Kiến
    Giang, cũng gọi là sông Đại. Sông này cũng bắt
    nguồn từ Trường Sơn, chảy len lỏi giữa vùng núi An
    Mã rồi tuôn xuống đồng bằng, tưới mát cho đồng
    điền hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy. Có người
    nói, trong thành ngữ: “Nhất Đồng Nai, nhì Hai
    Huyện” thì địa danh “Hai Huyện” là chỉ Quảng
    Ninh và Lệ Thủy. Có lẽ vì vậy nên có câu ca:
    18

    “Ai về cửa bể Quảng Bình
    Cá ngon, cơm trắng là mình với ta”.
    Về xuôi, Kiến Giang nhập vào phá Hạc Hải rồi
    cùng đổ ra cửa Nhật Lệ. Phá Hạc Hải còn do nhiều
    dòng nước khác tuôn về nên rộng mênh mông. Xung
    quanh phá có những động cát trắng phau. Dưới
    chân những đụn cát là các trảng đất để trồng cói rồi
    mới đến cái đầm nước. Cây cói ở đây được đem sánh
    với lá nón nơi Quy Hậu, Ba Đồn, nên có câu: “Chiếu
    cói An Xá, nón lá Quy Hậu”.
    Tiếng vậy chứ trên bản đồ, người ta chú ý đến
    sông Nhật Lệ nhiều hơn, tuy cả hai cùng hợp lưu
    rồi đổ vào phá Hạc Hải, vì Nhật Lệ chảy qua thị
    xã Đồng Hới. Còn khi nhắc đến cư dân Quảng
    Bình thì người ta nói đó là những người con của
    sông Gianh. Mà sự thật về lịch sử và văn hóa,
    Linh Giang đủ đại diện cho cả Kiến Giang và
    Nhật Lệ.
    Sông Gianh bắt nguồn từ núi Trường Sơn, trên
    một lưu vực rất rộng mà mỗi ngọn nguồn, mỗi bến
    nước đều mang trong mình biết bao câu chuyện
    thần kỳ:
    Núi Truồi ai đắp mà cao
    Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu.
    (Ca dao)
    Võ Nguyên Giáp đưa câu ca đã từ ngàn xưa
    ấy ra hỏi bạn, Quang Thái chịu không trả lời
    được và bảo:

    19

    - Ôi, Đèo Ngang, sông Gianh, Phong Nha rồi cả
    Lũy Thầy nữa, đến quê anh, mỗi bước đường lắng
    đọng mỗi sự tích thần kỳ. Chả biết đất có giúp ta
    học theo được chút gì qua hào khí của cổ nhân.
    Em nghĩ, những chàng trai như các anh phải trả
    lời trước các câu hỏi đó. Còn em, ước gì chúng ta
    cùng nhau có dịp cùng đứng nhìn dòng sông Lam.
    Bấy giờ em sẽ trả lời anh câu hỏi này.
    Lời của Quang Thái bỗng khiến người thanh
    niên Võ Nguyên Giáp nhớ lại và ngẫm nghĩ về vai
    trò “Địa giới” của sông Gianh trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672). Qua cuộc đọ sức
    lâu dài ấy, quân Nguyễn tuy non hơn về binh lực
    nhưng do chủ yếu là chiến đấu trên đất nhà, lại có
    thành lũy kiên cố nên qua bảy lần giao chiến,
    quân Trịnh không sao tiến sâu vào phía trong
    được nên cuối cùng phải chịu giảng hòa, lấy sông
    Gianh làm giới hạn để phân định Đàng Trong Đàng Ngoài.
    Hệ thống đồn lũy ấy được bố trí cách quãng
    trên bốn bức thành chạy dài và vững chãi từ tây
    xuống đông. Trong đó, các bức kiên cố nhất là lũy
    Trường Dục, bắt đầu từ chân Trường Sơn kéo
    xuống tận Hạc Hải và lũy Đông Hồi từ núi Đầu
    Mâu chạy xuôi tới cửa biển Nhật Lệ. Các bức lũy
    ấy đắp từ năm 1630 đến năm 1634 và được gọi
    chung là Lũy Thầy vì do Đào Duy Từ, bậc quân sư
    kiệt xuất đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên tổ
    chức xây đắp.
    20

    Lớn lên trên vùng sông Gianh - Lũy Thầy, dải
    đất một thời binh đao kéo dài rồi bị chia cắt hàng
    trăm năm, Võ Nguyên Giáp đã bắt đầu nghĩ về
    những bài học quân sự của tiền nhân và ít nhiều
    có những nhận thức rằng, sự phân liệt sơn hà của
    những triều đại phong kiến như vậy hẳn đã làm
    cho kinh tế của nước nhà chậm phát triển và các
    thế lực bên ngoài dễ lợi dụng mà len vào. Bài học
    về đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước, tuy
    còn mơ hồ nhưng đã nhen nhóm trong ý thức của
    chàng thanh niên họ Võ, đảng viên Đảng Tân Việt
    hồi ấy.
    Quang Thái đọc được nét suy tư ở người bạn
    trai, cũng là người đồng chí rồi hỏi:
    - Chắc anh đang nghĩ về một điều gì khác?
    - Không, không… cũng là việc chung thôi mà! Chàng trai đáp vội để cô gái yên lòng.
    Quang Thái nhận ra nơi vầng trán rộng và cao
    ở người bạn một chút vẻ tang bồng. Rồi từ trong
    lòng mình, cô muốn hỏi thêm đôi ba câu chuyện
    nhưng thời gian không còn.
    Hai người tạm chia tay nhau ở đó.
    Xa người nhưng gương mặt tươi vui cùng vẻ
    đẹp trang nhã từ miệng cười và đôi mắt diễm lệ
    của nàng thì đọng lại trong hồn của kẻ phải tạm
    cách chia.
    Họ đã thuộc về nhau rồi sao!
    Về việc ngắm dòng sông Lam mà ở phía tả
    ngạn thuộc vùng hạ du có làng Sen, làng Chùa,
    21

    nơi cậu Nguyễn Sinh Cung về sau là lãnh tụ
    Nguyễn Ái Quốc đã cất tiếng khóc chào đời, được
    nuôi lớn rồi bước đến với nhân loại là điều Võ
    Nguyên Giáp hằng ao ước nhưng chưa có dịp
    nào, dù đã vài lần anh từng ngồi trên xe lửa,
    băng qua các con cầu trên sông Cả, sông La.
    Số là kể từ lần đầu, hồi lên trung học, anh được
    học với Giáo sư Đặng Thai Mai. Thầy là con trai
    của Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, người làng
    Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
    Cụ thân sinh ra thầy đã từng hoạt động Văn
    thân, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Cụ đã
    từng sống những ngày “Đặng, Huỳnh, Ngô ba bốn
    bác hàn huyên, khi nhấp rượu, lúc ngâm thơ,
    trước cửa ngục lầm than mà khẳng khái” (Phan
    Bội Châu). Thầy Mai từng theo Nho học, khi đã
    đủ trình độ để thi Hương thì người Pháp buộc
    Chính phủ Nam triều phải bãi bỏ các kỳ thi chữ
    Hán. Lớp nho sinh như thầy ở đất Nghệ có cả
    Nguyễn Sĩ Sách, Tôn Quang Phiệt,... phải chuyển
    sang Tân học. Sau đó, tuy giỏi tiếng Pháp, tốt
    nghiệp Cao đẳng sư phạm, dạy ở trường Quốc học
    nhưng thầy vẫn trau dồi chữ Hán. Thấy anh Giáp
    là người ham học, vào một dịp nghỉ hè, thầy đã rủ
    anh ra Vinh. Và cả hai người đã cùng đến học với
    vị cử nhân Hồ Phi Huyền ở phố Khách.
    Cụ Cử Hồ đổi công cho một số chủ hiệu thuốc
    Bắc bằng cách cụ kê đơn, chỉ cho bệnh nhân mua
    thuốc ngay ở hiệu này; còn chủ hiệu thuốc thì họ
    22

    dành cho cụ một căn phòng ở sát sân nhà ngoài để
    ăn nghỉ và cũng là để “bảo vệ cơ ngơi” cho họ! Có
    điều là cụ không bao giờ để trống thời gian. Ban
    ngày, cụ kê đơn cho gia đình bệnh nhân đến từ
    nhiều làng quê, thậm chí từ những nơi rất xa, vì
    họ nghe tin về sự hiệu nghiệm của những thang
    thuốc do thầy kê đơn. Chủ hiệu thuốc rất mừng
    và thêm quý ông Cử bởi sự giỏi giang và thanh
    bạch. Khi đêm về yên tĩnh, cụ ngồi viết sách. Hai
    tác phẩm nổi tiếng Đạm Trai văn tập và Nhân
    đạo quyền hành được cụ viết tự nơi này. Thầy Mai
    có trình độ cao nên tiếp thu được từ cụ nhiều hơn,
    về sau thầy trở thành con rể của cụ. Với Võ
    Nguyên Giáp, đương nhiên, sức tiếp thu không
    bằng thầy học của mình nhưng đấy là những ngày
    tháng rất bổ ích cho anh. Mỗi lời giảng của cụ Cử
    có chất lý luận (ta thường gọi là lôgích triết học)
    rất cao và thấm đượm tính nhân đạo rất sâu. Cụ
    thường nói với các môn đệ rằng, người không có
    năng lực lý luận thì khi gặp cảnh nguy nan trong
    quan hệ xã hội, họ sẽ khó mà phân biệt rõ đúng,
    sai để định ra được cách xử lý việc đời cho thích
    hợp. Đó cũng là điều mà sau này anh Giáp thường
    nhắc lại với em trai mình là Võ Thuần Nho, cả
    khi ông Nho đã là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
    *
    * *
    Còn về Nguyễn Ái Quốc, người con được sinh ra
    trên bờ sông Lam, khi vừa xuất hiện trên các báo
    23

    chí ở Pari liền được các chính khách ở bên đó tôn
    xưng là “Lơ Patơriốttờ Nguyễn” (Le Patriote
    Nguyên), tức “Ông Nguyễn Yêu nước”. Tin đó
    sớm được truyền về Đông Dương và những bài
    viết của Người. Với anh Giáp, do hoạt động
    trong điều kiện bí mật, nên chỉ biết qua tài liệu
    mà chưa được tiếp xúc và quen biết, nhưng tấm
    hình người thanh niên mặc Âu phục, đội mũ
    phớt, có đôi mắt sáng, kiên nghị, có sức nhìn
    như thấu suốt mọi tình cảnh của nhân gian thì
    anh không thể nào quên.
    Nhớ mấy năm về trước, khi đã bị đuổi học vì
    tham gia bãi khóa, về sống vớí gia đình ở An Xá,
    Võ Nguyên Giáp được Nguyễn Chí Diểu tìm đến
    nhà, trao cho cuốn sách Chủ nghĩa cộng sản viết
    bằng tiếng Pháp, in ở Brúcxen, Bỉ, cùng một số tài
    liệu nói về Liên hiệp các dân tộc bị áp bức trên thế
    giới và mấy văn bản ghi chép từ các cuộc họp của
    những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu
    (Trung Quốc), đặc biệt trong đó có bài nói chuyện
    của đồng chí Lý Thụy. Trước khi ra về, đồng chí
    Diểu còn mách nhỏ để anh Giáp biết, các tài liệu
    ấy được chuyển về là do chủ trương và công sức của
    Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và, Lý Thụy là mật
    danh của Người.
    Có được số tài liệu ấy, anh Giáp lần lượt mang
    ra lùm cây sau vườn, trèo lên chỗ cành rậm, ngồi
    đọc. Cứ sau mỗi đoạn, mỗi chương anh lại liên hệ
    đến cách hành văn của Nguyễn Ái Quốc trong tập
    24

    “Bản án chế độ thực dân Pháp” mà anh Nguyễn
    Khoa Văn1 đã bí mật cho mượn. Sau này, Võ
    Nguyên Giáp viết trong cuốn sách Những chặng
    đường lịch sử: “Lần đầu tiên tôi được đọc một tập
    tài liệu có hệ thống về chủ nghĩa cộng sản và chủ
    nghĩa quốc tế. Có thể nói là, tư tưởng của chủ
    nghĩa cộng sản đã được cắt nghĩa lần lần qua
    từng trang sách. Sau đó, tôi trở lại Huế, lần này
    không phải đi học mà là đi hoạt động cách mạng”.
    Vào quãng thời gian tham gia Đảng Tân Việt
    và làm Báo Tiếng Dân ở đất Kinh kỳ, càng tiếp
    xúc với những tài liệu, báo chí từ cả nước ngoài
    gửi về, anh Giáp càng hình dung đến cây bút viết
    nghị luận và châm biếm sắc sảo Nguyễn Ái Quốc,
    nên anh càng thiết tha được tìm hiểu về con người
    lỗi lạc đó. Chưa được tiếp kiến trực tiếp thì cũng
    phải đi đến vùng quê nơi đã sinh ra và nuôi lớn
    Người, để tự cắt nghĩa được phần nào những băn
    khoăn, thắc mắc của mình, nhằm giải đáp được
    điều bản thân luôn suy nghĩ: Vì sao nước Nam
    này lại có được một nhân vật lớn như vậy? Để sau
    này, nếu may mắn được gặp Người thì mình sẽ
    bớt đi phần nào sự bỡ ngỡ.
    Rồi đến một ngày, chàng thư sinh họ Võ thực
    sự được đến với sông Lam. Cùng với công việc của
    đoàn thể, chàng còn tới để đòi lại “món nợ” mà
    ___________
    1. Bút danh là Hải Triều, nhà lý luận mácxít của Đảng.

    25

    người bạn gái đã hứa là trả trọn khi họ cùng được
    ngắm nhìn dòng sông này.
    Chàng đánh bạo đến thăm nhà của ý trung
    nhân (số 139, đường Thống chế Phốc (Maréchal
    Fock), về sau gọi là phố Ga), lấy cớ là cùng hoạt
    động nên quen biết Quang Thái, nhân có công tác
    phải ra ngoài này, rồi được bạn mời về. Gia đình
    ông Hàn Bình thường vốn đông khách khứa lui tới
    nhưng chàng thư sinh đến từ sông Gianh này quả
    đã để lại cho chủ nhân một ấn tượng đẹp.
    Được phép của ông bà Hàn, hai cô cậu đến bến
    Cửa Tiền, thuê một chuyến đò dọc, đi ngược sông
    Lam. Đến Sa Nam thì họ lên bờ, trà trộn vào buổi
    chợ phiên, giả dạng mua bán, xong rồi lại xuống
    thuyền chứ không dám đi xa. Thế cũng đủ để đôi
    bạn trẻ hình dung ra cả một dải hạ lưu của sông,
    một mạch chảy, nơi đã sản sinh ra biết bao những
    anh hùng, hào kiệt của mỗi thời.
    Vùng Cát Ngạn bên hữu ngạn sông là nơi hồi
    thế kỷ X, quan Thứ sử Đinh Công Trứ đã đóng
    trấn sở. Bà Đàm Thị là Đinh phu nhân đã tới đây
    và có mang trên đất này rồi sinh ra người con
    trai mà về sau đã đánh bại 11 sứ quân khác để
    lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, thống nhất đất
    nước. Ấy là vua Đinh Tiên Hoàng. Bên tả ngạn,
    từ trên xuống, cách ngã ba Cửa Rào (cái rốn của
    cộng đồng dân tộc Mường thuở trước) về xuôi
    không xa là đất Thành Nam. Tương truyền khi
    quân Minh mới sang xâm chiếm nước ta, chúng
    26

    đã bắt Nguyễn Trãi đem vào giam lỏng ở nơi
    này1. Tiếp đến là doanh trại Trà Lân, nơi hồi thế
    kỷ XV, nghĩa binh của Lê Lợi đã đánh tan đạo
    quân xâm lược Minh đồn trú tại đấy. Cứ thế, vẫn
    bên tả ngạn xuôi dưới chân núi Vệ Sơn, tại xã
    Hương Lãm, huyện Nam Đàn là di tích thành
    Vạn An, nơi vào năm 722, Mai Thúc Loan đã
    phất cờ khởi nghĩa rồi từ đó tiến ra Tống Bình
    (Thăng Long sau này) đuổi viên quan đô hộ nhà
    Đường là Quang Sở Khách chạy về Tàu. Đất
    nước được giải phóng, ông lên ngôi hoàng đế. Cứ
    thế, về xuôi, có thôn Đan Nhiệm của Giải nguyên
    Phan Bội Châu và đi về phía tay trái một quãng,
    ấy là làng quê của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
    Cũng ngang chặng ấy, bên hữu ngạn sông là các
    làng quê của hai vị Thám hoa đỗ cùng khoa (Quý
    Sửu -1853). Đó là Thám nhất Nguyễn Đức Đạt
    và Thám nhì Nguyễn Văn Giao. Khuất về phía
    xa tây nam, là nơi ở ẩn của La Sơn Phu tử
    Nguyễn Thiếp, người đã giúp Hoàng đế Quang
    Trung, với “Một lời nói mà nên nổi cơ đồ”. Sau
    đó, sông chảy về xuôi, bên tả là huyện Hưng
    Nguyên, bên phải là phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh). La
    Giang sau khi chảy qua làng quê của Đình
    nguyên là nhà lãnh tụ Cần vương Phan Đình
    Phùng thì theo hướng đông nam mà đổ vào
    Lam Giang. Nơi ngã ba sông ấy, phía hữu ngạn
    ___________
    1. Theo dân gian, thế mới có câu: “Góc Thành Nam/
    Cơm một niêu, lều một gian/ No nước uống, thiếu cơm
    ăn” trong thơ Nguyễn Trãi.

    27

    là Phù Thạch, còn bên tả ngạn là Triều Khẩu, có
    dãy núi Lam Thành đổ bóng. Gọi là Lam Thành
    bởi xưa kia đấy là trấn sở của nhà Trần. Về sau
    (vào thế kỷ XV), tướng giặc Minh là Trương Phụ
    chiếm đóng. Y cho đắp thêm thành và xây cao cột
    cờ để chống lại lực lượng kháng chiến của nhà
    Hậu Trần. Nhưng rồi ngược lại, mấy năm sau,
    chính nơi này, Lê Lợi đã dùng kế vây thành, diệt
    viện để tiến lên đuổi sạch quân xâm lược Minh,
    giải phóng cả nước. Cần nói thêm, ở chặng ấy,
    bên hữu ngạn sông còn có làng quê của vị sứ
    thần Nguyễn Biểu, người đã vì nền độc lập của
    dân tộc mà dám cả gan ăn cỗ đầu người trước
    mặt tướng giặc Minh, dù ngay sau đó ông đã bị
    chúng sát hại. Từ đấy, Lam Giang thêm rộng
    lòng sau khi nhận thêm các ngòi lạch ở vùng Can
    Lộc, quê hương danh sĩ Nguyễn Thiếp, Thám hoa
    Nguyễn Huy Oánh, thân sinh nhà thơ Nguyễn
    Huy Tự. Tiếp đến, khi chảy sát dải đất Nghi
    Xuân là quê hương Nguyễn Du, Nguyễn Công
    Trứ thì sông hòa vào biển cả. Cần nói thêm, khi
    về xuôi, đụng phải núi Hồng Lĩnh thì sông Lam
    mở rộng lòng mà ôm lấy thị xã Vinh - Bến Thủy,
    một trung tâm kỹ nghệ và thương mại lớn của
    khu vực Bắc Trung Kỳ.
    Lam Giang cũng như Linh Giang, mỗi khúc
    sông, mỗi bến nước còn ghi dấu tài thao lược đuổi
    giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi của người xưa. Khi
    đất nước còn bóng kẻ xâm lăng thì bổn phận của
    những người con trai, con gái như Võ Nguyên Giáp,
    28

    Nguyễn Thị Quang Thái,... còn phải vươn lên vì
    nợ nước, thù nh...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !