Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam 1857-1914

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 09h:46' 05-05-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 09h:46' 05-05-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời người dịch
TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
TÌNH HÌNH GIA TÔ GIÁO TẠI VIỆT NAM VÀ BANG GIAO PHÁP-VIỆT TRƯỚC 1857
PHẦN MỘT: GIA TÔ GIÁO VÀ CÔNG CUỘC XÂM CHIẾM NAM KỲ
CHƯƠNG I: CUỘC VIỄN CHINH NAM KỲ: MỘT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
CHƯƠNG II: MẤT NAM KỲ VÀ THỪA NHẬN GIA TÔ GIÁO
CHƯƠNG III: NỀN TẢNG GIA TÔ GIÁO CỦA VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ THUỘC
ĐỊA PHÁP Ở NAM KỲ
PHẦN HAI: CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC GIÁO SĨ THỪA
SAI TẠI BẮC KỲ
CHƯƠNG IV: HUYỀN THOẠI VỀ THUYẾT BẮC KỲ LY KHAI
CHƯƠNG V: KẾ HOẠCH XÂM LĂNG CỦA ĐÔ ĐỐC DUPRÉ
CHƯƠNG VI: CUỘC VIỄN CHINH CỦA GARNIER, NỘI CHIẾN VÀ CHÍNH SÁCH
CỦA PHILASTRE
CHƯƠNG VII: CÁC KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 9
CHƯƠNG VIII: TỪ SỰ BẢO TRỢ ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HỘ: HIỆP ƯỚC 1884
PHẦN BA: ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THỪA SAI TRÊN VIỆC TỔ CHỨC CHẾ
ĐỘ BẢO HỘ
CHƯƠNG IX: VĂN THƯ VÀ TIN TỨC TÌNH BÁO CỦA GIÁM MỤC PUGINIER
CHƯƠNG X: TÁCH RỜI BẮC KỲ KHỎI NƯỚC AN NAM
CHƯƠNG XI: CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, XÂM LĂNG VÀ SÁT NHẬP
LỜI KẾT: ALBERT SARRAUT VÀ SỰ NỔI DẬY CỦA PHONG TRÀO DÂN TỘC VIỆT
NAM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lời người dịch
Tác phẩm của Giáo sư Cao Huy Thuần, ra đời cách đây 30 năm, vẫn luôn
luôn mới. Bởi vì đó là một kho tàng tài liệu lịch sử. Và bởi vì công trình
nghiên cứu này vẫn là sách đầu tay của ai muốn tìm hiểu lịch sử mất chủ
quyền của Việt Nam hồi thế kỷ 19.
Tác phẩm này trước hết là một luận án tiến sĩ quốc gia đệ trình trước Đại
học Paris năm 1969[1]. Trong thời chiến tranh, một bản dịch vội vã được phổ
biến hạn chế trong nước, ngoài tầm hay biết của tác giả ở xa. Năm 1988, một
bản dịch lại được xuất bản rộng rãi ở Hoa Kỳ, vẫn ngoài tầm hay biết của tác
giả lúc sách được phát hành.
Để tài liệu lịch sử đó không bị những bản dịch vội vã diễn dịch sai lạc, và
để xác nhận tính cách thuần túy khoa học của công trình nghiên cứu, tác giả
xuất bản nguyên văn tiếng Pháp, năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale.
Dưới nhan đề: “Les missionnaires et la politique coloniale française au Viet
Nam, 1857-1914”, tác phẩm lược bỏ đoạn vào đề của luận án. Chúng tôi giữ
nguyên phần vào đề ở đây và dịch theo ấn bản Yale.
Nguyện vọng của tác giả là tự mình dịch tác phẩm của mình như đã dịch
phần tổng luận. Sức khỏe và công việc bộn bề của ông ở Đại học Amiens
không cho phép ông thực hiện ý định. Chúng tôi, thấy việc phải làm, không
ngại khó khăn, tự lấy trách nhiệm cung cấp một bản dịch nghiêm chỉnh.
Tất nhiên bản dịch chưa phải hoàn hảo, nhiều từ chưa được vừa ý, văn
phong nhiều chỗ vẫn còn là văn dịch. Nhưng dịch những tài liệu lịch sử thì
phải dịch càng sát càng tốt, nhiều khi phải hy sinh văn khí. Dịch thế nào để
bản dịch vừa được đọc trôi chảy, vừa giữ nguyên sự thật lịch sử: đó là cố
gắng của người dịch.
Paris, tháng 11 năm 1999
Nguyên Thuận
TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
“Truyền đạo Thiên Chúa... Điều đó có liên quan gì đến chính sách thuộc
địa không? Chẳng ai trả lời rằng không, trừ khi có định kiến...”. Giám mục
Guébriant, bề trên của Nha Thừa Sai Paris đã viết như vậy trong tạp chí
Correspondant số 25/1/1931[2]. Ba mươi bảy năm sau, vào 1968, giữa chiến
tranh nóng bỏng ở Việt Nam, một bức thư sau đây của các giáo chức ki-tô
Pháp[3] được gởi đến các đồng nghiệp của họ tại Mỹ: “Phải thừa nhận rằng,
vì chính sách mà các chính phủ nước họ đã áp dụng, các người ki-tô thường
bị đồng hóa, trước mắt các dân tộc Á Phi, với đế quốc và thực dân, hôm qua
cũng như hôm nay. Nhìn vấn đề như vậy thì đơn giản thái quá, và các giáo
hội ki-tô còn phải tốn nhiều công sức lắm để tái lập sự thật. Nhưng, cho đến
hôm nay, nhiều hình thức can thiệp khác của các quốc gia được xem là ki-tô
lại dựng thêm nhiều cản trở mới cho việc du nhập của thánh kinh vào Á Phi.
Việc ném bom ở miền Bắc Việt Nam không phải là hình thức can thiệp duy
nhất, nhưng là hình thức lộ liễu nhất.”
Hai giai đoạn lịch sử khác nhau, hai ngôn ngữ ki-tô khác nhau. Bề trên
của Nha Thừa Sai Paris, hiện thân của tiếng nói lương tâm bình thản trong
giai đoạn thuộc địa, nhấn mạnh dây liên hệ nối kết sự truyền giáo với chính
sách thuộc địa, trong khi các giáo chức ki-tô Pháp, ấm ức trong mặc cảm
lương tâm của thời hậu thuộc địa, muốn làm trong trắng Nhà thờ bằng cách
đổ lỗi cho các quốc gia, kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng
tôn giáo để phục vụ chính sách thuộc địa. Đâu là sự thật?
Tìm hiểu sự thật lịch sử đâu có phải để kết tội ai hay để gây bất hòa giữa
tôn giáo này với tôn giáo khác. Ngược lại, hiểu lịch sử chính là để đừng vấp
nữa những sai lầm trong quá khứ - những sai lầm đến từ bên ngoài đã làm
máu chảy giữa những người con của cùng dân tộc. Tôn giáo là thiêng liêng,
và tự do tôn giáo là tự do căn bản của con người. Chính vì tôn trọng sự
thiêng liêng đó mà mọi lạm dụng tôn giáo vì một mục đích khác, hoặc để
độc tôn, cần phải đề phòng triệt để.
Việt Nam là trường hợp điển hình của lạm dụng, là ví dụ tiêu biểu của
một mô hình thuộc địa lấy tôn giáo vừa làm phương tiện vừa làm cứu cánh
cho thống trị. Bởi vậy, trước khi đi sâu vào lịch sử Việt Nam, tưởng cũng
nên nhắc lại sơ lược mô hình đó trong bối cảnh chung của sự bành trướng
thuộc địa Âu châu. Năm điểm sau đây được xem như nổi bật nhất:
I. Trước hết, ai cũng thấy sự phát triển song song, trong lịch sử thuộc địa
Âu châu, giữa hành động thuộc địa và hành động truyền giáo. Nói “song
song” cũng không đúng hẳn, bởi vì, như một nhà ngoại giao Pháp đã nhận
xét hóm hỉnh, “đó là hai đường song song vượt qua khỏi mọi luật lệ của hình
học để gặp nhau hoài”[4]. Nghĩa là, bất cứ ở đâu trong thế giới Á Phi, sự
truyền giáo đều được phát triển nhờ xâm chiếm thuộc địa, chiếm đóng quân
sự, cắt nhượng lãnh thổ, trấn áp chính trị.
Như vậy, giáo xứ Alger đã được dựng lên ở Algérie. “Sự kiện lịch sử này
thật đáng ghi nhớ, bởi vì giám mục xuất hiện lại, sau nhiều thế kỷ vắng
bóng, trên đất Phi châu mà ngày xưa thánh Augustin và thánh Cyprien đã
từng đặt gót”[5]. Như vậy, Trung Quốc đã bị bắt buộc mở ra cho ảnh hưởng
của đạo Chúa dưới áp lực của Âu châu, nhất là của Pháp, hai lần can thiệp
liên tiếp để ký hiệp ước 1858, từ đó Trung Quốc phải thừa nhận cho các thừa
sai toàn quyền tự do truyền đạo. Cũng như vậy, giáo hoàng Pie X tạo mọi sự
dễ dàng cho việc nước Ý chinh phục Tripolitaine, ở Libye, bởi vì đó cũng là
chiến tranh chống ngoại đạo. Nhà viết sử Thiên Chúa giáo Paul Lesourd viết:
“Biết bao nhiêu trường hợp đã cho thấy: các thừa sai không thể làm được gì
vững chắc nếu không dựa vào sự ủng hộ thông minh của quốc gia thuộc địa,
dù chỉ là để bảo vệ các tín đồ tân tòng chống lại kẻ thù của họ hay chống lại
tà giáo như ở châu Úc”[6].
Vì lý do đó, Giáo hội Thiên Chúa công nhận rành mạch chính nguyên tắc
của việc xâm chiếm thuộc địa[7]. Xâm chiếm thuộc địa là một “công trình
giáo dục về kinh tế, xã hội, chính trị”, là “thực hiện chức năng đem lại văn
minh do luật thiên nhiên ban cho các quốc gia tự do và có ý thức trách
nhiệm”[8]. Hồng y Verdier nói rõ: xâm chiếm thuộc địa “nằm trong chương
trình của Thượng Đế, như một hành động bác ái tập thể mà trong một thời
điểm nào đó, một dân tộc thượng đẳng phải làm đối với các giống dân xấu số
như một bổn phận phát sinh từ chính văn hóa thượng đẳng của dân tộc
đó”[9]. Nói một cách khác, các nhà đạo đức Thiên Chúa giáo tìm cách biện
minh cho một quyền thuộc địa ngay trong cả thời gian mà việc xâm chiếm
thuộc địa bị chỉ trích toàn bộ[10].
II. Từ đó, dựa vào nhau là điểm nổi bật thứ hai: nếu sự truyền giáo dựa
vào đô hộ của Âu châu thì, ngược lại, sự đô hộ này, để được vững chắc, cũng
phải tìm hậu thuẫn về lý thuyết cũng như về thực hành nơi các thừa sai và
nơi chính tôn giáo mới.
1) Trên lý thuyết, tôn giáo mới tạo tính chính đáng cho hành động thuộc
địa. Về điểm này, hai giai đoạn cần được phân biệt trong lịch sử bành trướng
Âu châu. Giai đoạn thứ nhất chủ yếu có tính cách tôn giáo. Từ thế kỷ 15,
giáo hoàng đã đặt ra nghĩa vụ cho các nước Thiên Chúa giáo phải chinh phục
để cải đạo. Như thế, ông hoàng Henri của Bồ Đào Nha, được gọi là Henri-leNavigateur vì tài vượt biển khám phá đất mới của ông, được giáo hoàng
Nicolas V, bằng giáo chỉ ban hành năm 1454, ban cho quyền chinh phục tất
cả xứ sở mà ông đặt chân giữa Phi châu và Ấn Độ. Sau khi nhắc lại bổn phận
của Henri là phải “chinh phục các xứ không tin đạo và chưa bị nhiễm trùng
của dịch hạch Hồi giáo, và phải dạy cho họ biết danh hiệu của Thiên Chúa”,
giáo chỉ 1454 phán: “Trong hiện tại và trong tương lai, tất cả những chinh
phục trải dài từ mũi Bojador, mũi Non, bờ biển Guinée và tất cả vùng Đông
đều đặt dưới chủ quyền của vua Alfonse ngay bây giờ và mãi mãi cho đến
khi tận thế”[11]. Hai năm sau, ngày 13/3/1456, giáo hoàng Calixte III ban
hành một giáo chỉ thứ hai xác nhận độc quyền của Bồ Đào Nha trên một nửa
thế giới mới, nửa kia được ban cho Tây Ban Nha. Độc quyền của Bồ lại
được xác nhận một lần nữa trong giáo chỉ Inter Caetera do giáo hoàng
Alexandre VI ban hành ngày 4/5/1493. Đất đai là thuộc về Chúa và đại diện
của Chúa có quyền sử dụng tất cả những đất đai nào không thuộc tín đồ của
mình, bởi vì những kẻ dị giáo và phản giáo không có một quyền chiếm hữu
chính đáng nào trên bất cứ mảnh đất nào. Do đó, việc ban cấp đất đai do
những kẻ đó chiếm hữu mặc nhiên bao hàm nghĩa vụ làm họ thần phục, làm
họ cải đạo, tự nguyện hay ép buộc, và như vậy là vì phúc lợi tối đa của họ.
Các vua chúa Âu châu một dạ thừa nhận chân lý hiển nhiên đó. Khi ủy
nhiệm Jacques Cartier và Roberval đi Canada năm 1540 và 1541, vua
François 1er ra lệnh các ông ấy phải “giáo dục dân bán khai bản xứ để
thương và kính Thượng Đế và Chân Lý của Ngài”. Hiến chương mà nữ
hoàng Elisabeth nước Anh ban hành năm 1660 cho một công ty thuộc địa
buộc công ty này phải “tôn trọng những bổn phận cao hơn là nghĩa vụ
thương mại”: bổn phận cải giáo[12]. Cây thập tự thánh hóa những chinh phục
và hoài bão làm giàu: bởi vậy, lúc tay tàn bạo Fernand Cortez đổ bộ lên bờ
biển Mễ Tây Cơ năm 1519, ông ta thành lập một thương điếm lấy tên là
Villa Rica de la Vera Cruz, Thành Phố Phồn Vinh Của Cây Thập Tự Đích
Thực[13].
Giai đoạn bành trướng thuộc địa thứ hai tách rời chính trị và tôn giáo trên
lý thuyết. Đã đành chiến thắng Alger năm 1830, dưới thời vua Charles X,
mang tính chất tôn giáo chẳng khác gì đợt bành trướng đầu tiên của Pháp - ở
Canada, ở Louisiana, ở Saint Domingue, ở Đông Ấn, và sau đó ở Sénégal nhưng ông vua cuối cùng rất sùng Thiên Chúa đó bị lật đổ vài tuần sau chiến
thắng. Bành trướng thuộc địa hồi thế kỷ 19 có lý do chủ yếu là kinh tế - tìm
thị trường cho kỹ nghệ đang mở mang - hoặc chính trị: không để cho một
nước Âu châu khác nhanh chân hơn chiếm trước. Tuy vậy, nước nào cũng có
nhu cầu tìm cho ra một lý thuyết để biện minh và tạo tính chính đáng cho
hành động thuộc địa. Và bởi vì văn hóa châu Âu là Thiên Chúa giáo, lý
thuyết đó chỉ có thể lấy hứng từ đó mà thôi. Họ bảo: chinh phục các nước xa
xôi là để mang ánh sáng của đạo Chúa, mang văn minh Thiên Chúa đến cho
các giống dân sống trong bóng tối của những tín ngưỡng man di. Bởi vậy,
khi bà xơ Jahouvey khởi hành đi Guyanne, vua Louis-Philippe đích thân đến
dự lễ thánh bên cạnh bà. Tác giả G. Goyau viết: với cử chỉ đó, vua muốn
chứng tỏ rằng “giữa văn minh của nước Pháp và các dân tộc da đen, không
có chiếc cầu nào khác hơn là Thiên Chúa”[14]. Làm sao giải thích những
cuộc chiến tranh chinh phục và biện minh cho những tàn bạo của giết chóc?
“Một văn minh cao hơn mang đến cho vùng đất đẹp đẽ đó đủ để biện minh
cho hành động của chúng ta trước mắt loài người và trước mắt Thượng Đế”,
Changarnier trả lời như vậy giữa chiến trận Algérie[15]. Napoléon III có nói
gì khác hơn đâu sau đó: “Ta phải mang các giống dân ở châu Úc và ở Úc lại
gần châu Âu và làm cho họ tham dự vào ân huệ của đạo Thiên Chúa và của
văn minh”. Thuộc địa và văn minh, hai từ ngữ đó không rời nhau được nữa.
Thuộc địa, đó là thực hiện một chức năng của văn minh và văn minh được
hiểu chính thức dưới nghĩa Thiên Chúa. Kẻ xâm chiếm thuộc địa, vì vậy,
khoác một bộ mặt cao quý và đáng yêu; ông ấy đem đến ân huệ, ông ấy hành
xử một chức năng tâm linh, ông ấy chẳng khác gì một tông đồ[16].
Lý thuyết đó được đào sâu thêm nữa nhờ các tác giả Thiên Chúa có tài ở
thế kỷ 20. Linh mục Delos quả quyết rằng việc xâm chiếm thuộc địa phải
được sự hỗ trợ của đạo Thiên Chúa. “Đã đành văn minh hóa không phải là
truyền giảng phúc âm. Phúc âm siêu việt các nền văn minh, nhưng không
một văn minh đích thực nào không cần đến phúc âm. Trong một nước có
thuộc địa, nền văn minh thượng đẳng chỉ có thể nảy nở trong ánh sáng đó,
nương tựa vào giáo huấn đó, nâng đỡ bởi ân sủng đó. Văn minh hóa không
phải là truyền giảng phúc âm, nhưng không ai có thể làm văn minh mà
không truyền giảng phúc âm”[17].
Làm thế nào nước có thuộc địa thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ đó? “Trực
tiếp, bằng cách dần dần thay đổi luật lệ và phong tục để du nhập luật tự
nhiên. Gián tiếp, gián tiếp mà thôi, bằng cách nâng đỡ việc truyền giáo chứ
không phải ép buộc theo đạo, để lan truyền tôn giáo đích thực”[18]. Như vậy
nhà thờ của thừa sai sẽ trở thành yếu tố chính của công tác thuộc địa. “Nếu
công trình thuộc địa không nâng đỡ sự bành trướng của văn minh Thiên
Chúa, công trình đó sẽ trở thành chuyện kiếm tiền thấp hèn hoặc chuyện tính
toán chính trị nông cạn: nó không còn chính đáng nữa”[19].
2) Về thực tiễn, đạo Chúa, theo các lý thuyết gia Thiên Chúa và các viên
chức thuộc địa cao cấp, tạo sự gần gũi giữa các dân tộc bản xứ và các nước
Âu châu: đó là dây liên kết giữa các xã hội bản xứ và xã hội Tây phương.
Giám mục Guébriant làm sáng tỏ điểm này: “Khi một người bản xứ thuộc
bất cứ chủng tộc gì, vàng, nâu hoặc đen, cải thành đạo Chúa thì dù cho người
đó đã nghĩ sai như thế nào, đã có thành kiến gì, đã sợ hãi gì, đã ghét bỏ gì,
chắc chắn trong đầu người đó không còn một trở ngại gì nữa để gần gũi, hợp
tác, hòa lẫn với những người theo đạo Chúa trong những chủng tộc khác,
nhất là với người da trắng, và sẽ hiểu họ tận đáy lòng, nếu đừng có chuyện gì
xảy ra khiến người đó chướng mắt, thất vọng. Làm gần gũi trí óc và tình cảm
là kết quả của việc cải giáo, và cải giáo là tận cùng của công sức thừa sai.
Công việc của dân tộc có thuộc địa, đứng về mặt chính đáng mà xét, sẽ được
vô cùng dễ dãi. Công việc đó dễ dãi, dù cho số dân đã được cải đạo hãy còn
rất ít, bởi vì số lượng ít ỏi không phải là cản trở không thể vượt qua đối với
vai trò làm gạch nối”[20].
Cùng trong ý tưởng đó, P. Leroy-Beaulieu, một trong những lý thuyết gia
sáng chói nhất của chủ nghĩa thuộc địa, viết trong cuốn “Về việc khai thác
thuộc địa đối với những dân tộc tiên tiến”, được xem như tứ thư ngũ kinh
của các thuộc địa gia: “Nếu nước Pháp phạm một sai lầm khi khai chiến với
Hồi giáo thì nước Pháp cũng sẽ không biết phòng xa gì hơn nếu không tìm
cách cải đạo các dân tộc trong tất cả các nước chiếm đóng. Sénégal, Niger,
Congo, Oubanghi, Madagascar, tất cả đều đang chờ đợi các thừa sai. Hồng y
Lavigerie, người đang có những dự án lớn, phải đưa đại đa số thừa sai của
ông, nếu ông muốn đạt những kết quả sâu rộng và vững chắc, đến những
nước mà Pháp đã cai trị từ lâu hoặc mới chiếm ở Tây Phi và Trung Phi.
Đừng để mất một năm nào nữa. Có hơn mười triệu người ở đấy cần phải
chinh phục ngay cho đạo Chúa để đạo Hồi đừng chiếm trước ta vì đạo ấy đã
du nhập vào rồi”. Leroy-Beaulieu viết tiếp: “Khai hóa tinh thần và vật chất,
giám hộ với nhân từ, giáo dục với kiên nhẫn các dân tộc - hay nói cho đúng
hơn, các bộ lạc đó - không thể chỉ duy nhất giao cho các thương gia của
chúng ta, các viên chức hành chánh của chúng ta, hay các thầy giáo của
chúng ta, làm như thế là điên rồ... Đạo Chúa, với đức tính dịu dàng, với lòng
hướng thượng, với tình thương đối với kẻ hèn... là người giáo dục duy nhất
có thể làm dễ dàng sự tiếp xúc giữa người Âu châu với người bán khai man
di và có thể từ từ, trong một hai thế hệ, không cần đột biến, với những
phương pháp giản lược, làm cho các giống dân bán khai man di đó hiểu văn
minh của chúng ta và góp phần vào việc phát triển văn minh đó”[21].
Muốn trích hàng ngàn câu như vậy cũng chẳng khó gì, bởi vì điều đó đã
trở thành hiển nhiên.
3) Cuối cùng, vẫn trên thực tiễn, đạo Chúa là phương tiện hiệu quả nhất
để đồng hóa những dân tộc bị trị. Đồng hóa là chính sách cổ truyền của
Pháp, nói chung là chính sách cổ truyền, thân thuộc, của các nước Latinh[22].
Toàn quyền Pasquier giải thích: “Quả thật người Pháp dễ dàng trong việc
tiếp xúc với người bản xứ, đến với người đó, vui vẻ với người đó. Sự dễ
dàng đó có gốc rễ từ sức mạnh đồng hóa, hoặc bẩm sinh, hoặc do lý giải,
khiến người Pháp tự mình đến gần người bản xứ, không phải để bắt gặp hay
hiểu biết tư tưởng của người đó, mà để áp đặt tư tưởng của mình trên người
đó”[23].
Lý tưởng đồng hóa đó đã ngự trị lâu đời trên lịch sử, trên đời sống chính
trị của nước Pháp, bắt nguồn từ tư tưởng cổ điển và từ luật La Mã. Từ
Montaigne, người Pháp đã học rằng “mỗi người mang trong mình toàn vẹn
số phận của nhân loại”, rằng “mọi rợ và văn minh chỉ khác nhau có độc cái
quần”, do đó chỉ cần thay đổi nguyên tắc sống và thói quen là đủ để lập lại
đồng nhất. Michelet dạy: “Ta thường giải thích chiến tranh là do tính thích
chinh phục của ta mà ra, và ta đã lầm. Tuy nhiên, tính nhiệt thành hoán cải là
động cơ thúc bách nhất. Người Pháp ưa nhất là để dấu ấn nhân cách của
mình trên kẻ bại trận, không phải nhân cách riêng của mình đâu, mà như là
mẫu mực của thiện và mỹ - niềm tin rất ngây thơ. Người Pháp tin rằng mình
không thể làm điều gì có lợi cho thế giới hơn là cho tư tưởng của mình,
phong tục của mình, cách sống của mình. Người Pháp hoán cải những dân
tộc khác như thế với thanh kiếm nơi tay và, sau khi thắng trận, nửa vì tự phụ
nửa vì thiện cảm, người Pháp trình bày cho họ thấy họ sẽ có lợi như thế nào
khi trở thành người Pháp”[24].
Ít văn chương hơn và cụ thể hơn, Colbert, nhà chính trị lỗi lạc của vua
Louis XIV, chỉ đạo như sau cho viên chức được phái đi Canada: “Phải giáo
huấn dân bản xứ bằng châm ngôn của tôn giáo chúng ta và bằng cả phong
tục của chúng ta, thế nào để dân chúng ở Canada và dân Pháp tập hợp thành
một dân tộc”[25]. Chính sách đồng hóa, nói theo lời của giám mục Bruno de
Soluges, là “khuynh hướng tự nhiên của một nhà giáo dục nhân từ, tin chắc
nơi phương pháp tuyệt diệu đã đào tạo nên mình, muốn áp dụng cho học trò
của mình để họ cũng thành ra chính mình”[26]. Bởi vậy, dù cho “đồng hóa là
chính sách cai trị thuộc địa, thật là bất công nếu người ta không xem đó như
cũng có một giá trị tâm linh”. Hơn thế nữa, như “tiếng vang của Phúc
âm”[27]. Các tác giả Thiên Chúa giáo tranh nhau đưa phúc âm vào chuyện
thuộc địa: Phúc âm, nói như Delacommune, “có thể được xem như một
chính sách thuộc địa tâm linh”[28].
Hệ luận tất nhiên của chính sách đồng hóa là dẹp bỏ văn minh bản địa,
công trình mà các thừa sai đã làm với tất cả nhiệt huyết. Ở Á châu, ai cũng
biết, họ tấn công vào việc thờ cúng tổ tiên. Chỉ trích ra đây một chứng từ
thôi của G. Curzon: “Trừ một vài nhân vật rất hiếm hoi có đầu óc phóng
khoáng, các thừa sai lấy thái độ thù nghịch không nhân nhượng đối với tất cả
tôn giáo và tất cả luân lý bản xứ: họ hoàn toàn bất cần đếm xỉa những khía
cạnh tích cực và ảnh hưởng đạo đức của những triết lý đó, cũng như sức
mạnh chi phối đầu óc người Trung Hoa và uy quyền mà các triết lý đó đã un
đúc từ ngàn xưa. Đó là trường hợp của việc thờ cúng tổ tiên mà các thừa sai
nhất quyết từ chối không nhân nhượng... Người Trung Hoa vốn bằng lòng
với tôn giáo của họ và chỉ yêu cầu một điều thôi là cứ để họ sống yên như
thế, bỗng bị tuyên truyền tấn công tràn ngập mà mũi nhọn đầu tiên là đâm
vào điều thân thiết nhất của họ... Đối với họ, đạo đức của Khổng giáo bao
gồm bổn phận của con đối với gia đình và bổn phận đối với quốc gia. Các
thừa sai buộc họ cải đạo bằng cách từ khước ngay cả bản chất công dân,
buộc họ phải nhận điều kiện tiên quyết là chối bỏ nguyên tắc đầu tiên làm
điểm tựa cho mọi đạo đức Khổng giáo...”. Tác giả đặt câu hỏi: “Ví thử có
người truyền đạo nào đó của một tôn giáo mới nào đó đổ bộ lên nước Anh,
ví thử người đó thuộc một chủng tộc mà ta ghét và khinh bỉ, và ví thử họ bắt
đầu tuyên truyền bằng cách tấn công vào quyển Thánh Kinh và bài xích lòng
tin vào các tông đồ, ta sẽ đón tiếp người đó như thế nào nhỉ?”[29].
III. Vì công cuộc truyền giáo chỉ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhờ
chinh phục và mở mang thuộc địa, và vì các nước Âu châu tìm thấy nơi đạo
Chúa khí giới sắc bén nhất, hậu quả tất nhiên là hợp tác chặt chẽ giữa hành
động chính trị và hành động tôn giáo: đây là khía cạnh thứ ba của vấn đề.
Nguyên do gì đã khiến triều đình Louis-Philippe nhận lãnh việc bảo vệ sứ
mạng thừa sai ở Trung Quốc? Chủ yếu là chính trị. Không cạnh tranh nổi với
Anh trên địa hạt thương mại, nước Pháp hy vọng tìm thấy nơi việc bảo vệ
các thừa sai một khí cụ để gây ảnh hưởng, có thể đối phó về mặt chính trị với
vị thế quan trọng mà Anh đã chiếm được nhờ thương mại. “Nếu đem so sánh
việc trao đổi mậu dịch giữa Âu châu và Trung Hoa, nước Pháp hoàn toàn
yếu kém so với Anh, vậy mà uy thế của ta ở Trung Hoa nếu không nói là hơn
thì cũng bằng uy thế nước Anh. Nước Pháp, nhờ dựa trên uy thế tôn giáo,
chiếm lại được uy thế thiếu vắng trên địa hạt thương mại”[30].
Napoléon III suy nghĩ y hệt. Lấy cớ gì mà liên quân Anh-Pháp tấn công
Trung Quốc năm 1857? Về phía Anh, vì Trung Quốc xâm phạm lá cờ Anh;
về phía Pháp, vì một thừa sai (Chapdelaine), hoạt động bất hợp pháp, bị giết
ở Quảng Tây. Các thừa sai Pháp chê chính sách thuộc địa Anh là chỉ biết
buôn bán, thấp như chân vịt; chính sách thuộc địa Pháp mới cao cả giá trị
đạo đức và tâm linh. Tờ báo Avenir du Tonkin viết: “Nơi các nước khác, lá
cờ theo sau thương mại; số mệnh của chúng ta là lá cờ theo sau cây thập
giá”[31].
Thế nhưng, đừng nói nước Anh chỉ biết lợi ích thương mại. Nước Anh
cũng có thừa sai của họ và các vị đó cũng hưởng ân huệ rất hiệu quả của các
chiến hạm Anh. Sử gia Ấn Độ Panikkar viết như thế này về sự biến ở Tân
Cương năm 1883: các thừa sai đang tranh chấp với chính quyền Trung Hoa
về những vấn đề liên quan thuần túy đến tiền bạc của họ, thế rồi hai chiến
hạm Anh ngược dòng Dương Tử ào đến giải quyết vấn đề chẳng cần thảo
luận gì cả “phô bày ồ ạt lực lượng mỗi khi chính quyền dám chống lại thừa
sai”. Panikkar kể thêm: để thành lập một cơ sở thừa sai trong thung lũng
thượng nguồn Dương Tử năm 1858, Muirhead kéo theo cả một đại đội binh
sĩ; trong tàu chiến của liên minh, giáo sĩ Mỹ Henri Bodget đổ bộ lên Thiên
Tân[32]. Nước Đức cũng làm thế thôi: hai thừa sai Đức bị giết, lập tức quân
đội Đức đổ bộ, và, để đền bù, tách chiếm một phần Sơn Đông[33].
Ở Ấn Độ, các viên chức cai trị Anh lấy thái độ trung lập, và chính phủ
Anh, rất thực tế, không hề nâng đỡ thứ tuyên truyền quá thô thiển, độc ác, có
thể làm tổn thương tình cảm của người Ấn và làm thiệt hại sự trung thành
của những thành phần cộng tác với chính quyền Anh. Tuy vậy, một cách
gián tiếp, chính quyền Anh cũng giúp đỡ rất nhiều giáo sĩ của họ. “Luật lệ
mà người Anh thiết lập công khai bảo vệ những người mới cải đạo; họ được
hưởng quyền thừa kế, có quyền buộc vợ phải theo tôn giáo mới. Chính
quyền Anh cũng khuyến khích thừa sai đến công tác tại những bộ lạc bán
khai, bởi vì họ biết rằng người Ấn không phiền hà gì chuyện đó”[34].
Về phía người Mỹ, liên minh giữa chính trị và tôn giáo là nét đặc biệt của
chính sách Mỹ ở Trung Quốc. Gần như một tập tục, họ chọn nhân viên ngoại
giao và lãnh sự trong hàng thừa sai hoặc cựu thừa sai. Ashmore vừa là thừa
sai đầy nhiệt huyết vừa là lãnh sự Mỹ tại Sou-Tchéou; viên đại sứ Mỹ cuối
cùng tại Trung Quốc chưa cộng sản, Leighton Stuard, đã sống tại đấy như
một thừa sai[35].
Đó là Á châu. Còn Phi châu thì sao? Giám mục Augouard đã tuyên bố
như thế này trong tờ La Liberté du Sud-Ouest số 26/8/1921: “Hiểm nguy lớn
nhất tại Congo đến từ các mục sư Mỹ và Anh. Họ đến hàng loạt, rất đông, đi
khắp các nước thuộc địa của Pháp, tung vãi đầy tay đô la và đồng bảng Anh.
Giá như họ hành động vì mục đích tôn giáo! Tôi không tin như thế và Toàn
quyền Augagneur cũng không tin như thế, bởi vì, trong một phúc trình gởi
cho bộ trưởng thuộc địa, ông tuyên bố rằng những tuyên truyền mệnh danh
là tôn giáo kia dường như là một tổ chức thuộc địa đích thực nhắm mục đích
đặt chân trên đất Phi châu thuộc Pháp. Những hành động tương tự cũng diễn
ra ở Côte d'Ivoire và Caméroun, nơi mà các cựu thừa sai Đức, nhập tịch
Thụy Sĩ, vừa trở lại hoạt động như trước 1914...”.
Đồng ý với giám mục, Revel, thanh tra thuộc địa, phúc trình như sau:
“Đâu đâu cũng thấy những kẻ bất mãn: ở đây, tại Côte d'Ivoire, họ đoàn kết
ngàn người như một dưới lá cờ chính trị-tôn giáo của các giáo sĩ, và tin đồn
lan ra rất nhanh khắp cả nước, chẳng biết từ đâu, theo đó, người Pháp chúng
ta, trong một thời gian ngắn, sẽ nhượng Côte d'Ivoire cho láng giềng. Từ đó,
phong trào sôi động và bất phục tùng diễn ra. Xứ Côte d'Ivoire bỗng chia ra
làm hai phe, phe Gia Tô và phe Tin Lành. Đối với dân bản xứ, Tin Lành có
nghĩa là Anh hoặc Mỹ, và Gia Tô đồng nghĩa với Pháp...”.
Kết luận của phúc trình: “Gia Tô hoặc Tin Lành, đó sẽ là Côte d'Ivoire
của tương lai. Chúng ta có thể nói thêm: Pháp hoặc Anh, bởi vì vấn đề tôn
giáo được cộng thêm vấn đề chính trị”[36].
Và như thế, các nước Gia Tô tìm cách gởi đến thuộc địa các thừa sai
thuộc quốc tịch của mình và đồng thời tìm cách thực hiện quyền giám sát
trên tất cả thừa sai Gia Tô hoạt động trong những quốc gia hãy còn độc lập.
Đến nỗi các nhà chính trị chống Vatican nhất, chống giáo hội nhất ở “chính
quốc”, đóng vai trò bảo vệ nhiệt thành nhất đối với các thừa sai Gia Tô ở
thuộc địa và yêu cầu Vatican công nhận những đặc ân đặc quyền tương ứng
với vai trò đó[37]. Nước Pháp, chống tôn giáo từ Cách Mạng 1789 và trung
lập về tôn giáo từ 1905, đặc biệt thực hiện ở bên ngoài chức năng “trưởng nữ
của Giáo hội” của mình. Gambetta tuyên bố một câu bất hủ: “Chống cố đạo
không phải là món hàng xuất cảng”. Suốt thời gian khủng hoảng đầu tiên vì
cao trào chống cố đạo từ 1880 đến 1889, bang giao giữa Paris và Bộ Truyền
giáo Vatican tiếp diễn bình thường. Sứ quán Pháp tại Vatican vẫn hoạt động
không gián đoạn. Giáo hoàng Léon XIII và hồng y Rampolla (bộ trưởng
ngoại giao) vẫn dành cho nước Pháp thái độ ân cần. Tuy chống cố đạo khét
tiếng nhất, Jules Ferry không hề từ chối sự giúp đỡ của thừa sai, ngược lại
còn nâng đỡ hoạt động của giám mục Lavigerie ở Tunisie và Algérie. “Quan
hệ giữa Lavigerie với lãnh sự Roustan, với bộ trưởng Waddington, với
Gambetta, với Ferry, mở đường Tunisie cho ảnh hưởng của ta và súng đạn
của ta. Thừa sai được Paris xem như những người Pháp ái quốc nhất và vô vị
lợi nhất: chính sách chống cố đạo ở bên trong tương ứng với một sự hợp tác
chân tình giữa Lavigerie và nước Pháp ở bên ngoài. Ngay sau khi thiết lập
nền bảo hộ của ta ở Tunisie, Lavigerie được bổ nhiệm cai quản địa phận
Tunisie vào tháng 6 năm 1881, và chính nhờ những chỉ dẫn của giám mục
mà Gambetta đã ban hành những quyết định hành chánh đầu tiên tại
đấy”[38]. Trong đợt khủng hoảng thứ hai vì chính sách chống cố đạo, từ 1901
đến 1907, tình trạng hợp tác cũng tốt đẹp không khác. “Công trình truyền
đạo Gia Tô thật là công trình quốc gia”[39], kết luận đó đến từ hai phía, phía
nhà thờ cũng như phía Nhà nước. “Bất cứ lúc nào, sự thù ghét của kẻ chống
đạo cũng im tiếng trước danh dự quốc gia và người cầm quyền đã từng trục
xuất các linh mục Dòng Tên ra khỏi nước Pháp tự tuyên bố mình là bạn, là
người bảo vệ họ ở Bắc Kinh”[40].
IV. Thế nhưng không phải không có mâu thuẫn giữa việc cải đạo và chính
sách thuộc địa. Tại sao? Tại vì, về phía Nhà thờ, họ biết rằng khi dựa vào thế
lực bên ngoài để bành trướng, họ dễ bị quần chúng bản xứ nhìn họ như công
cụ của đế quốc, thực dân. Ngược lại, về phía chính quyền thuộc địa, họ biết
rằng nếu nâng đỡ tôn giáo mới của Âu châu lộ liễu quá, sự chống đối của
dân chúng trước sự xâm nhập thô bạo của tôn giáo đó sẽ có ảnh hưởng tai
hại trên việc thu phục nhân tâm mà họ phải làm để củng cố đô hộ thuộc địa.
Mâu thuẫn giữa lợi ích tôn giáo và lợi ích thuộc địa là khía cạnh thứ tư của
vấn đề.
1) Các thừa sai, nhất là các vị được gởi qua Viễn Đông, ý thức được nguy
cơ của liên minh giữa tôn giáo và chính trị từ lâu. Thừa sai Léon Joly than
phiền: “Lạ thật, đau đớn thật, rõ ràng thật, Viễn Đông từ khước đạo
Chúa!”[41]. Linh mục Louvet, sử gia của Nha thừa sai, không nói gì khác
hơn: “Chẳng cần tự mình che giấu sự thật làm gì: Trung Hoa nhất quyết từ
chối đạo Chúa. Giới sĩ phu kiêu hãnh thì ghét bỏ chúng ta hơn bao giờ hết,
khẩu hiệu nẩy lửa kêu gọi dân chúng loại trừ bọn quỷ quái Âu châu xuất hiện
cùng khắp, và có lẽ không xa nữa đâu cái ngày mà Giáo hội Trung Hoa đẹp
đẽ này, Giáo hội đã được dựng lên với bao nhiêu công phu khó nhọc, sẽ bị
ngập trong máu của tông đồ và của con cái họ”. Tại sao đạo Chúa bị từ
khước như vậy? Louvet công nhận rằng điều đó chẳng phải phát xuất từ lòng
cuồng tín tôn giáo, bởi vì không có dân tộc nào khoan hòa về tôn giáo như
Trung Hoa. Chỉ vì người Trung Hoa đồng hóa xâm lược tôn giáo với xâm
lược đế quốc; chỉ vì “đằng sau...
Lời người dịch
TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
TÌNH HÌNH GIA TÔ GIÁO TẠI VIỆT NAM VÀ BANG GIAO PHÁP-VIỆT TRƯỚC 1857
PHẦN MỘT: GIA TÔ GIÁO VÀ CÔNG CUỘC XÂM CHIẾM NAM KỲ
CHƯƠNG I: CUỘC VIỄN CHINH NAM KỲ: MỘT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
CHƯƠNG II: MẤT NAM KỲ VÀ THỪA NHẬN GIA TÔ GIÁO
CHƯƠNG III: NỀN TẢNG GIA TÔ GIÁO CỦA VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ THUỘC
ĐỊA PHÁP Ở NAM KỲ
PHẦN HAI: CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC GIÁO SĨ THỪA
SAI TẠI BẮC KỲ
CHƯƠNG IV: HUYỀN THOẠI VỀ THUYẾT BẮC KỲ LY KHAI
CHƯƠNG V: KẾ HOẠCH XÂM LĂNG CỦA ĐÔ ĐỐC DUPRÉ
CHƯƠNG VI: CUỘC VIỄN CHINH CỦA GARNIER, NỘI CHIẾN VÀ CHÍNH SÁCH
CỦA PHILASTRE
CHƯƠNG VII: CÁC KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 9
CHƯƠNG VIII: TỪ SỰ BẢO TRỢ ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HỘ: HIỆP ƯỚC 1884
PHẦN BA: ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THỪA SAI TRÊN VIỆC TỔ CHỨC CHẾ
ĐỘ BẢO HỘ
CHƯƠNG IX: VĂN THƯ VÀ TIN TỨC TÌNH BÁO CỦA GIÁM MỤC PUGINIER
CHƯƠNG X: TÁCH RỜI BẮC KỲ KHỎI NƯỚC AN NAM
CHƯƠNG XI: CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, XÂM LĂNG VÀ SÁT NHẬP
LỜI KẾT: ALBERT SARRAUT VÀ SỰ NỔI DẬY CỦA PHONG TRÀO DÂN TỘC VIỆT
NAM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lời người dịch
Tác phẩm của Giáo sư Cao Huy Thuần, ra đời cách đây 30 năm, vẫn luôn
luôn mới. Bởi vì đó là một kho tàng tài liệu lịch sử. Và bởi vì công trình
nghiên cứu này vẫn là sách đầu tay của ai muốn tìm hiểu lịch sử mất chủ
quyền của Việt Nam hồi thế kỷ 19.
Tác phẩm này trước hết là một luận án tiến sĩ quốc gia đệ trình trước Đại
học Paris năm 1969[1]. Trong thời chiến tranh, một bản dịch vội vã được phổ
biến hạn chế trong nước, ngoài tầm hay biết của tác giả ở xa. Năm 1988, một
bản dịch lại được xuất bản rộng rãi ở Hoa Kỳ, vẫn ngoài tầm hay biết của tác
giả lúc sách được phát hành.
Để tài liệu lịch sử đó không bị những bản dịch vội vã diễn dịch sai lạc, và
để xác nhận tính cách thuần túy khoa học của công trình nghiên cứu, tác giả
xuất bản nguyên văn tiếng Pháp, năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale.
Dưới nhan đề: “Les missionnaires et la politique coloniale française au Viet
Nam, 1857-1914”, tác phẩm lược bỏ đoạn vào đề của luận án. Chúng tôi giữ
nguyên phần vào đề ở đây và dịch theo ấn bản Yale.
Nguyện vọng của tác giả là tự mình dịch tác phẩm của mình như đã dịch
phần tổng luận. Sức khỏe và công việc bộn bề của ông ở Đại học Amiens
không cho phép ông thực hiện ý định. Chúng tôi, thấy việc phải làm, không
ngại khó khăn, tự lấy trách nhiệm cung cấp một bản dịch nghiêm chỉnh.
Tất nhiên bản dịch chưa phải hoàn hảo, nhiều từ chưa được vừa ý, văn
phong nhiều chỗ vẫn còn là văn dịch. Nhưng dịch những tài liệu lịch sử thì
phải dịch càng sát càng tốt, nhiều khi phải hy sinh văn khí. Dịch thế nào để
bản dịch vừa được đọc trôi chảy, vừa giữ nguyên sự thật lịch sử: đó là cố
gắng của người dịch.
Paris, tháng 11 năm 1999
Nguyên Thuận
TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
“Truyền đạo Thiên Chúa... Điều đó có liên quan gì đến chính sách thuộc
địa không? Chẳng ai trả lời rằng không, trừ khi có định kiến...”. Giám mục
Guébriant, bề trên của Nha Thừa Sai Paris đã viết như vậy trong tạp chí
Correspondant số 25/1/1931[2]. Ba mươi bảy năm sau, vào 1968, giữa chiến
tranh nóng bỏng ở Việt Nam, một bức thư sau đây của các giáo chức ki-tô
Pháp[3] được gởi đến các đồng nghiệp của họ tại Mỹ: “Phải thừa nhận rằng,
vì chính sách mà các chính phủ nước họ đã áp dụng, các người ki-tô thường
bị đồng hóa, trước mắt các dân tộc Á Phi, với đế quốc và thực dân, hôm qua
cũng như hôm nay. Nhìn vấn đề như vậy thì đơn giản thái quá, và các giáo
hội ki-tô còn phải tốn nhiều công sức lắm để tái lập sự thật. Nhưng, cho đến
hôm nay, nhiều hình thức can thiệp khác của các quốc gia được xem là ki-tô
lại dựng thêm nhiều cản trở mới cho việc du nhập của thánh kinh vào Á Phi.
Việc ném bom ở miền Bắc Việt Nam không phải là hình thức can thiệp duy
nhất, nhưng là hình thức lộ liễu nhất.”
Hai giai đoạn lịch sử khác nhau, hai ngôn ngữ ki-tô khác nhau. Bề trên
của Nha Thừa Sai Paris, hiện thân của tiếng nói lương tâm bình thản trong
giai đoạn thuộc địa, nhấn mạnh dây liên hệ nối kết sự truyền giáo với chính
sách thuộc địa, trong khi các giáo chức ki-tô Pháp, ấm ức trong mặc cảm
lương tâm của thời hậu thuộc địa, muốn làm trong trắng Nhà thờ bằng cách
đổ lỗi cho các quốc gia, kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng
tôn giáo để phục vụ chính sách thuộc địa. Đâu là sự thật?
Tìm hiểu sự thật lịch sử đâu có phải để kết tội ai hay để gây bất hòa giữa
tôn giáo này với tôn giáo khác. Ngược lại, hiểu lịch sử chính là để đừng vấp
nữa những sai lầm trong quá khứ - những sai lầm đến từ bên ngoài đã làm
máu chảy giữa những người con của cùng dân tộc. Tôn giáo là thiêng liêng,
và tự do tôn giáo là tự do căn bản của con người. Chính vì tôn trọng sự
thiêng liêng đó mà mọi lạm dụng tôn giáo vì một mục đích khác, hoặc để
độc tôn, cần phải đề phòng triệt để.
Việt Nam là trường hợp điển hình của lạm dụng, là ví dụ tiêu biểu của
một mô hình thuộc địa lấy tôn giáo vừa làm phương tiện vừa làm cứu cánh
cho thống trị. Bởi vậy, trước khi đi sâu vào lịch sử Việt Nam, tưởng cũng
nên nhắc lại sơ lược mô hình đó trong bối cảnh chung của sự bành trướng
thuộc địa Âu châu. Năm điểm sau đây được xem như nổi bật nhất:
I. Trước hết, ai cũng thấy sự phát triển song song, trong lịch sử thuộc địa
Âu châu, giữa hành động thuộc địa và hành động truyền giáo. Nói “song
song” cũng không đúng hẳn, bởi vì, như một nhà ngoại giao Pháp đã nhận
xét hóm hỉnh, “đó là hai đường song song vượt qua khỏi mọi luật lệ của hình
học để gặp nhau hoài”[4]. Nghĩa là, bất cứ ở đâu trong thế giới Á Phi, sự
truyền giáo đều được phát triển nhờ xâm chiếm thuộc địa, chiếm đóng quân
sự, cắt nhượng lãnh thổ, trấn áp chính trị.
Như vậy, giáo xứ Alger đã được dựng lên ở Algérie. “Sự kiện lịch sử này
thật đáng ghi nhớ, bởi vì giám mục xuất hiện lại, sau nhiều thế kỷ vắng
bóng, trên đất Phi châu mà ngày xưa thánh Augustin và thánh Cyprien đã
từng đặt gót”[5]. Như vậy, Trung Quốc đã bị bắt buộc mở ra cho ảnh hưởng
của đạo Chúa dưới áp lực của Âu châu, nhất là của Pháp, hai lần can thiệp
liên tiếp để ký hiệp ước 1858, từ đó Trung Quốc phải thừa nhận cho các thừa
sai toàn quyền tự do truyền đạo. Cũng như vậy, giáo hoàng Pie X tạo mọi sự
dễ dàng cho việc nước Ý chinh phục Tripolitaine, ở Libye, bởi vì đó cũng là
chiến tranh chống ngoại đạo. Nhà viết sử Thiên Chúa giáo Paul Lesourd viết:
“Biết bao nhiêu trường hợp đã cho thấy: các thừa sai không thể làm được gì
vững chắc nếu không dựa vào sự ủng hộ thông minh của quốc gia thuộc địa,
dù chỉ là để bảo vệ các tín đồ tân tòng chống lại kẻ thù của họ hay chống lại
tà giáo như ở châu Úc”[6].
Vì lý do đó, Giáo hội Thiên Chúa công nhận rành mạch chính nguyên tắc
của việc xâm chiếm thuộc địa[7]. Xâm chiếm thuộc địa là một “công trình
giáo dục về kinh tế, xã hội, chính trị”, là “thực hiện chức năng đem lại văn
minh do luật thiên nhiên ban cho các quốc gia tự do và có ý thức trách
nhiệm”[8]. Hồng y Verdier nói rõ: xâm chiếm thuộc địa “nằm trong chương
trình của Thượng Đế, như một hành động bác ái tập thể mà trong một thời
điểm nào đó, một dân tộc thượng đẳng phải làm đối với các giống dân xấu số
như một bổn phận phát sinh từ chính văn hóa thượng đẳng của dân tộc
đó”[9]. Nói một cách khác, các nhà đạo đức Thiên Chúa giáo tìm cách biện
minh cho một quyền thuộc địa ngay trong cả thời gian mà việc xâm chiếm
thuộc địa bị chỉ trích toàn bộ[10].
II. Từ đó, dựa vào nhau là điểm nổi bật thứ hai: nếu sự truyền giáo dựa
vào đô hộ của Âu châu thì, ngược lại, sự đô hộ này, để được vững chắc, cũng
phải tìm hậu thuẫn về lý thuyết cũng như về thực hành nơi các thừa sai và
nơi chính tôn giáo mới.
1) Trên lý thuyết, tôn giáo mới tạo tính chính đáng cho hành động thuộc
địa. Về điểm này, hai giai đoạn cần được phân biệt trong lịch sử bành trướng
Âu châu. Giai đoạn thứ nhất chủ yếu có tính cách tôn giáo. Từ thế kỷ 15,
giáo hoàng đã đặt ra nghĩa vụ cho các nước Thiên Chúa giáo phải chinh phục
để cải đạo. Như thế, ông hoàng Henri của Bồ Đào Nha, được gọi là Henri-leNavigateur vì tài vượt biển khám phá đất mới của ông, được giáo hoàng
Nicolas V, bằng giáo chỉ ban hành năm 1454, ban cho quyền chinh phục tất
cả xứ sở mà ông đặt chân giữa Phi châu và Ấn Độ. Sau khi nhắc lại bổn phận
của Henri là phải “chinh phục các xứ không tin đạo và chưa bị nhiễm trùng
của dịch hạch Hồi giáo, và phải dạy cho họ biết danh hiệu của Thiên Chúa”,
giáo chỉ 1454 phán: “Trong hiện tại và trong tương lai, tất cả những chinh
phục trải dài từ mũi Bojador, mũi Non, bờ biển Guinée và tất cả vùng Đông
đều đặt dưới chủ quyền của vua Alfonse ngay bây giờ và mãi mãi cho đến
khi tận thế”[11]. Hai năm sau, ngày 13/3/1456, giáo hoàng Calixte III ban
hành một giáo chỉ thứ hai xác nhận độc quyền của Bồ Đào Nha trên một nửa
thế giới mới, nửa kia được ban cho Tây Ban Nha. Độc quyền của Bồ lại
được xác nhận một lần nữa trong giáo chỉ Inter Caetera do giáo hoàng
Alexandre VI ban hành ngày 4/5/1493. Đất đai là thuộc về Chúa và đại diện
của Chúa có quyền sử dụng tất cả những đất đai nào không thuộc tín đồ của
mình, bởi vì những kẻ dị giáo và phản giáo không có một quyền chiếm hữu
chính đáng nào trên bất cứ mảnh đất nào. Do đó, việc ban cấp đất đai do
những kẻ đó chiếm hữu mặc nhiên bao hàm nghĩa vụ làm họ thần phục, làm
họ cải đạo, tự nguyện hay ép buộc, và như vậy là vì phúc lợi tối đa của họ.
Các vua chúa Âu châu một dạ thừa nhận chân lý hiển nhiên đó. Khi ủy
nhiệm Jacques Cartier và Roberval đi Canada năm 1540 và 1541, vua
François 1er ra lệnh các ông ấy phải “giáo dục dân bán khai bản xứ để
thương và kính Thượng Đế và Chân Lý của Ngài”. Hiến chương mà nữ
hoàng Elisabeth nước Anh ban hành năm 1660 cho một công ty thuộc địa
buộc công ty này phải “tôn trọng những bổn phận cao hơn là nghĩa vụ
thương mại”: bổn phận cải giáo[12]. Cây thập tự thánh hóa những chinh phục
và hoài bão làm giàu: bởi vậy, lúc tay tàn bạo Fernand Cortez đổ bộ lên bờ
biển Mễ Tây Cơ năm 1519, ông ta thành lập một thương điếm lấy tên là
Villa Rica de la Vera Cruz, Thành Phố Phồn Vinh Của Cây Thập Tự Đích
Thực[13].
Giai đoạn bành trướng thuộc địa thứ hai tách rời chính trị và tôn giáo trên
lý thuyết. Đã đành chiến thắng Alger năm 1830, dưới thời vua Charles X,
mang tính chất tôn giáo chẳng khác gì đợt bành trướng đầu tiên của Pháp - ở
Canada, ở Louisiana, ở Saint Domingue, ở Đông Ấn, và sau đó ở Sénégal nhưng ông vua cuối cùng rất sùng Thiên Chúa đó bị lật đổ vài tuần sau chiến
thắng. Bành trướng thuộc địa hồi thế kỷ 19 có lý do chủ yếu là kinh tế - tìm
thị trường cho kỹ nghệ đang mở mang - hoặc chính trị: không để cho một
nước Âu châu khác nhanh chân hơn chiếm trước. Tuy vậy, nước nào cũng có
nhu cầu tìm cho ra một lý thuyết để biện minh và tạo tính chính đáng cho
hành động thuộc địa. Và bởi vì văn hóa châu Âu là Thiên Chúa giáo, lý
thuyết đó chỉ có thể lấy hứng từ đó mà thôi. Họ bảo: chinh phục các nước xa
xôi là để mang ánh sáng của đạo Chúa, mang văn minh Thiên Chúa đến cho
các giống dân sống trong bóng tối của những tín ngưỡng man di. Bởi vậy,
khi bà xơ Jahouvey khởi hành đi Guyanne, vua Louis-Philippe đích thân đến
dự lễ thánh bên cạnh bà. Tác giả G. Goyau viết: với cử chỉ đó, vua muốn
chứng tỏ rằng “giữa văn minh của nước Pháp và các dân tộc da đen, không
có chiếc cầu nào khác hơn là Thiên Chúa”[14]. Làm sao giải thích những
cuộc chiến tranh chinh phục và biện minh cho những tàn bạo của giết chóc?
“Một văn minh cao hơn mang đến cho vùng đất đẹp đẽ đó đủ để biện minh
cho hành động của chúng ta trước mắt loài người và trước mắt Thượng Đế”,
Changarnier trả lời như vậy giữa chiến trận Algérie[15]. Napoléon III có nói
gì khác hơn đâu sau đó: “Ta phải mang các giống dân ở châu Úc và ở Úc lại
gần châu Âu và làm cho họ tham dự vào ân huệ của đạo Thiên Chúa và của
văn minh”. Thuộc địa và văn minh, hai từ ngữ đó không rời nhau được nữa.
Thuộc địa, đó là thực hiện một chức năng của văn minh và văn minh được
hiểu chính thức dưới nghĩa Thiên Chúa. Kẻ xâm chiếm thuộc địa, vì vậy,
khoác một bộ mặt cao quý và đáng yêu; ông ấy đem đến ân huệ, ông ấy hành
xử một chức năng tâm linh, ông ấy chẳng khác gì một tông đồ[16].
Lý thuyết đó được đào sâu thêm nữa nhờ các tác giả Thiên Chúa có tài ở
thế kỷ 20. Linh mục Delos quả quyết rằng việc xâm chiếm thuộc địa phải
được sự hỗ trợ của đạo Thiên Chúa. “Đã đành văn minh hóa không phải là
truyền giảng phúc âm. Phúc âm siêu việt các nền văn minh, nhưng không
một văn minh đích thực nào không cần đến phúc âm. Trong một nước có
thuộc địa, nền văn minh thượng đẳng chỉ có thể nảy nở trong ánh sáng đó,
nương tựa vào giáo huấn đó, nâng đỡ bởi ân sủng đó. Văn minh hóa không
phải là truyền giảng phúc âm, nhưng không ai có thể làm văn minh mà
không truyền giảng phúc âm”[17].
Làm thế nào nước có thuộc địa thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ đó? “Trực
tiếp, bằng cách dần dần thay đổi luật lệ và phong tục để du nhập luật tự
nhiên. Gián tiếp, gián tiếp mà thôi, bằng cách nâng đỡ việc truyền giáo chứ
không phải ép buộc theo đạo, để lan truyền tôn giáo đích thực”[18]. Như vậy
nhà thờ của thừa sai sẽ trở thành yếu tố chính của công tác thuộc địa. “Nếu
công trình thuộc địa không nâng đỡ sự bành trướng của văn minh Thiên
Chúa, công trình đó sẽ trở thành chuyện kiếm tiền thấp hèn hoặc chuyện tính
toán chính trị nông cạn: nó không còn chính đáng nữa”[19].
2) Về thực tiễn, đạo Chúa, theo các lý thuyết gia Thiên Chúa và các viên
chức thuộc địa cao cấp, tạo sự gần gũi giữa các dân tộc bản xứ và các nước
Âu châu: đó là dây liên kết giữa các xã hội bản xứ và xã hội Tây phương.
Giám mục Guébriant làm sáng tỏ điểm này: “Khi một người bản xứ thuộc
bất cứ chủng tộc gì, vàng, nâu hoặc đen, cải thành đạo Chúa thì dù cho người
đó đã nghĩ sai như thế nào, đã có thành kiến gì, đã sợ hãi gì, đã ghét bỏ gì,
chắc chắn trong đầu người đó không còn một trở ngại gì nữa để gần gũi, hợp
tác, hòa lẫn với những người theo đạo Chúa trong những chủng tộc khác,
nhất là với người da trắng, và sẽ hiểu họ tận đáy lòng, nếu đừng có chuyện gì
xảy ra khiến người đó chướng mắt, thất vọng. Làm gần gũi trí óc và tình cảm
là kết quả của việc cải giáo, và cải giáo là tận cùng của công sức thừa sai.
Công việc của dân tộc có thuộc địa, đứng về mặt chính đáng mà xét, sẽ được
vô cùng dễ dãi. Công việc đó dễ dãi, dù cho số dân đã được cải đạo hãy còn
rất ít, bởi vì số lượng ít ỏi không phải là cản trở không thể vượt qua đối với
vai trò làm gạch nối”[20].
Cùng trong ý tưởng đó, P. Leroy-Beaulieu, một trong những lý thuyết gia
sáng chói nhất của chủ nghĩa thuộc địa, viết trong cuốn “Về việc khai thác
thuộc địa đối với những dân tộc tiên tiến”, được xem như tứ thư ngũ kinh
của các thuộc địa gia: “Nếu nước Pháp phạm một sai lầm khi khai chiến với
Hồi giáo thì nước Pháp cũng sẽ không biết phòng xa gì hơn nếu không tìm
cách cải đạo các dân tộc trong tất cả các nước chiếm đóng. Sénégal, Niger,
Congo, Oubanghi, Madagascar, tất cả đều đang chờ đợi các thừa sai. Hồng y
Lavigerie, người đang có những dự án lớn, phải đưa đại đa số thừa sai của
ông, nếu ông muốn đạt những kết quả sâu rộng và vững chắc, đến những
nước mà Pháp đã cai trị từ lâu hoặc mới chiếm ở Tây Phi và Trung Phi.
Đừng để mất một năm nào nữa. Có hơn mười triệu người ở đấy cần phải
chinh phục ngay cho đạo Chúa để đạo Hồi đừng chiếm trước ta vì đạo ấy đã
du nhập vào rồi”. Leroy-Beaulieu viết tiếp: “Khai hóa tinh thần và vật chất,
giám hộ với nhân từ, giáo dục với kiên nhẫn các dân tộc - hay nói cho đúng
hơn, các bộ lạc đó - không thể chỉ duy nhất giao cho các thương gia của
chúng ta, các viên chức hành chánh của chúng ta, hay các thầy giáo của
chúng ta, làm như thế là điên rồ... Đạo Chúa, với đức tính dịu dàng, với lòng
hướng thượng, với tình thương đối với kẻ hèn... là người giáo dục duy nhất
có thể làm dễ dàng sự tiếp xúc giữa người Âu châu với người bán khai man
di và có thể từ từ, trong một hai thế hệ, không cần đột biến, với những
phương pháp giản lược, làm cho các giống dân bán khai man di đó hiểu văn
minh của chúng ta và góp phần vào việc phát triển văn minh đó”[21].
Muốn trích hàng ngàn câu như vậy cũng chẳng khó gì, bởi vì điều đó đã
trở thành hiển nhiên.
3) Cuối cùng, vẫn trên thực tiễn, đạo Chúa là phương tiện hiệu quả nhất
để đồng hóa những dân tộc bị trị. Đồng hóa là chính sách cổ truyền của
Pháp, nói chung là chính sách cổ truyền, thân thuộc, của các nước Latinh[22].
Toàn quyền Pasquier giải thích: “Quả thật người Pháp dễ dàng trong việc
tiếp xúc với người bản xứ, đến với người đó, vui vẻ với người đó. Sự dễ
dàng đó có gốc rễ từ sức mạnh đồng hóa, hoặc bẩm sinh, hoặc do lý giải,
khiến người Pháp tự mình đến gần người bản xứ, không phải để bắt gặp hay
hiểu biết tư tưởng của người đó, mà để áp đặt tư tưởng của mình trên người
đó”[23].
Lý tưởng đồng hóa đó đã ngự trị lâu đời trên lịch sử, trên đời sống chính
trị của nước Pháp, bắt nguồn từ tư tưởng cổ điển và từ luật La Mã. Từ
Montaigne, người Pháp đã học rằng “mỗi người mang trong mình toàn vẹn
số phận của nhân loại”, rằng “mọi rợ và văn minh chỉ khác nhau có độc cái
quần”, do đó chỉ cần thay đổi nguyên tắc sống và thói quen là đủ để lập lại
đồng nhất. Michelet dạy: “Ta thường giải thích chiến tranh là do tính thích
chinh phục của ta mà ra, và ta đã lầm. Tuy nhiên, tính nhiệt thành hoán cải là
động cơ thúc bách nhất. Người Pháp ưa nhất là để dấu ấn nhân cách của
mình trên kẻ bại trận, không phải nhân cách riêng của mình đâu, mà như là
mẫu mực của thiện và mỹ - niềm tin rất ngây thơ. Người Pháp tin rằng mình
không thể làm điều gì có lợi cho thế giới hơn là cho tư tưởng của mình,
phong tục của mình, cách sống của mình. Người Pháp hoán cải những dân
tộc khác như thế với thanh kiếm nơi tay và, sau khi thắng trận, nửa vì tự phụ
nửa vì thiện cảm, người Pháp trình bày cho họ thấy họ sẽ có lợi như thế nào
khi trở thành người Pháp”[24].
Ít văn chương hơn và cụ thể hơn, Colbert, nhà chính trị lỗi lạc của vua
Louis XIV, chỉ đạo như sau cho viên chức được phái đi Canada: “Phải giáo
huấn dân bản xứ bằng châm ngôn của tôn giáo chúng ta và bằng cả phong
tục của chúng ta, thế nào để dân chúng ở Canada và dân Pháp tập hợp thành
một dân tộc”[25]. Chính sách đồng hóa, nói theo lời của giám mục Bruno de
Soluges, là “khuynh hướng tự nhiên của một nhà giáo dục nhân từ, tin chắc
nơi phương pháp tuyệt diệu đã đào tạo nên mình, muốn áp dụng cho học trò
của mình để họ cũng thành ra chính mình”[26]. Bởi vậy, dù cho “đồng hóa là
chính sách cai trị thuộc địa, thật là bất công nếu người ta không xem đó như
cũng có một giá trị tâm linh”. Hơn thế nữa, như “tiếng vang của Phúc
âm”[27]. Các tác giả Thiên Chúa giáo tranh nhau đưa phúc âm vào chuyện
thuộc địa: Phúc âm, nói như Delacommune, “có thể được xem như một
chính sách thuộc địa tâm linh”[28].
Hệ luận tất nhiên của chính sách đồng hóa là dẹp bỏ văn minh bản địa,
công trình mà các thừa sai đã làm với tất cả nhiệt huyết. Ở Á châu, ai cũng
biết, họ tấn công vào việc thờ cúng tổ tiên. Chỉ trích ra đây một chứng từ
thôi của G. Curzon: “Trừ một vài nhân vật rất hiếm hoi có đầu óc phóng
khoáng, các thừa sai lấy thái độ thù nghịch không nhân nhượng đối với tất cả
tôn giáo và tất cả luân lý bản xứ: họ hoàn toàn bất cần đếm xỉa những khía
cạnh tích cực và ảnh hưởng đạo đức của những triết lý đó, cũng như sức
mạnh chi phối đầu óc người Trung Hoa và uy quyền mà các triết lý đó đã un
đúc từ ngàn xưa. Đó là trường hợp của việc thờ cúng tổ tiên mà các thừa sai
nhất quyết từ chối không nhân nhượng... Người Trung Hoa vốn bằng lòng
với tôn giáo của họ và chỉ yêu cầu một điều thôi là cứ để họ sống yên như
thế, bỗng bị tuyên truyền tấn công tràn ngập mà mũi nhọn đầu tiên là đâm
vào điều thân thiết nhất của họ... Đối với họ, đạo đức của Khổng giáo bao
gồm bổn phận của con đối với gia đình và bổn phận đối với quốc gia. Các
thừa sai buộc họ cải đạo bằng cách từ khước ngay cả bản chất công dân,
buộc họ phải nhận điều kiện tiên quyết là chối bỏ nguyên tắc đầu tiên làm
điểm tựa cho mọi đạo đức Khổng giáo...”. Tác giả đặt câu hỏi: “Ví thử có
người truyền đạo nào đó của một tôn giáo mới nào đó đổ bộ lên nước Anh,
ví thử người đó thuộc một chủng tộc mà ta ghét và khinh bỉ, và ví thử họ bắt
đầu tuyên truyền bằng cách tấn công vào quyển Thánh Kinh và bài xích lòng
tin vào các tông đồ, ta sẽ đón tiếp người đó như thế nào nhỉ?”[29].
III. Vì công cuộc truyền giáo chỉ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhờ
chinh phục và mở mang thuộc địa, và vì các nước Âu châu tìm thấy nơi đạo
Chúa khí giới sắc bén nhất, hậu quả tất nhiên là hợp tác chặt chẽ giữa hành
động chính trị và hành động tôn giáo: đây là khía cạnh thứ ba của vấn đề.
Nguyên do gì đã khiến triều đình Louis-Philippe nhận lãnh việc bảo vệ sứ
mạng thừa sai ở Trung Quốc? Chủ yếu là chính trị. Không cạnh tranh nổi với
Anh trên địa hạt thương mại, nước Pháp hy vọng tìm thấy nơi việc bảo vệ
các thừa sai một khí cụ để gây ảnh hưởng, có thể đối phó về mặt chính trị với
vị thế quan trọng mà Anh đã chiếm được nhờ thương mại. “Nếu đem so sánh
việc trao đổi mậu dịch giữa Âu châu và Trung Hoa, nước Pháp hoàn toàn
yếu kém so với Anh, vậy mà uy thế của ta ở Trung Hoa nếu không nói là hơn
thì cũng bằng uy thế nước Anh. Nước Pháp, nhờ dựa trên uy thế tôn giáo,
chiếm lại được uy thế thiếu vắng trên địa hạt thương mại”[30].
Napoléon III suy nghĩ y hệt. Lấy cớ gì mà liên quân Anh-Pháp tấn công
Trung Quốc năm 1857? Về phía Anh, vì Trung Quốc xâm phạm lá cờ Anh;
về phía Pháp, vì một thừa sai (Chapdelaine), hoạt động bất hợp pháp, bị giết
ở Quảng Tây. Các thừa sai Pháp chê chính sách thuộc địa Anh là chỉ biết
buôn bán, thấp như chân vịt; chính sách thuộc địa Pháp mới cao cả giá trị
đạo đức và tâm linh. Tờ báo Avenir du Tonkin viết: “Nơi các nước khác, lá
cờ theo sau thương mại; số mệnh của chúng ta là lá cờ theo sau cây thập
giá”[31].
Thế nhưng, đừng nói nước Anh chỉ biết lợi ích thương mại. Nước Anh
cũng có thừa sai của họ và các vị đó cũng hưởng ân huệ rất hiệu quả của các
chiến hạm Anh. Sử gia Ấn Độ Panikkar viết như thế này về sự biến ở Tân
Cương năm 1883: các thừa sai đang tranh chấp với chính quyền Trung Hoa
về những vấn đề liên quan thuần túy đến tiền bạc của họ, thế rồi hai chiến
hạm Anh ngược dòng Dương Tử ào đến giải quyết vấn đề chẳng cần thảo
luận gì cả “phô bày ồ ạt lực lượng mỗi khi chính quyền dám chống lại thừa
sai”. Panikkar kể thêm: để thành lập một cơ sở thừa sai trong thung lũng
thượng nguồn Dương Tử năm 1858, Muirhead kéo theo cả một đại đội binh
sĩ; trong tàu chiến của liên minh, giáo sĩ Mỹ Henri Bodget đổ bộ lên Thiên
Tân[32]. Nước Đức cũng làm thế thôi: hai thừa sai Đức bị giết, lập tức quân
đội Đức đổ bộ, và, để đền bù, tách chiếm một phần Sơn Đông[33].
Ở Ấn Độ, các viên chức cai trị Anh lấy thái độ trung lập, và chính phủ
Anh, rất thực tế, không hề nâng đỡ thứ tuyên truyền quá thô thiển, độc ác, có
thể làm tổn thương tình cảm của người Ấn và làm thiệt hại sự trung thành
của những thành phần cộng tác với chính quyền Anh. Tuy vậy, một cách
gián tiếp, chính quyền Anh cũng giúp đỡ rất nhiều giáo sĩ của họ. “Luật lệ
mà người Anh thiết lập công khai bảo vệ những người mới cải đạo; họ được
hưởng quyền thừa kế, có quyền buộc vợ phải theo tôn giáo mới. Chính
quyền Anh cũng khuyến khích thừa sai đến công tác tại những bộ lạc bán
khai, bởi vì họ biết rằng người Ấn không phiền hà gì chuyện đó”[34].
Về phía người Mỹ, liên minh giữa chính trị và tôn giáo là nét đặc biệt của
chính sách Mỹ ở Trung Quốc. Gần như một tập tục, họ chọn nhân viên ngoại
giao và lãnh sự trong hàng thừa sai hoặc cựu thừa sai. Ashmore vừa là thừa
sai đầy nhiệt huyết vừa là lãnh sự Mỹ tại Sou-Tchéou; viên đại sứ Mỹ cuối
cùng tại Trung Quốc chưa cộng sản, Leighton Stuard, đã sống tại đấy như
một thừa sai[35].
Đó là Á châu. Còn Phi châu thì sao? Giám mục Augouard đã tuyên bố
như thế này trong tờ La Liberté du Sud-Ouest số 26/8/1921: “Hiểm nguy lớn
nhất tại Congo đến từ các mục sư Mỹ và Anh. Họ đến hàng loạt, rất đông, đi
khắp các nước thuộc địa của Pháp, tung vãi đầy tay đô la và đồng bảng Anh.
Giá như họ hành động vì mục đích tôn giáo! Tôi không tin như thế và Toàn
quyền Augagneur cũng không tin như thế, bởi vì, trong một phúc trình gởi
cho bộ trưởng thuộc địa, ông tuyên bố rằng những tuyên truyền mệnh danh
là tôn giáo kia dường như là một tổ chức thuộc địa đích thực nhắm mục đích
đặt chân trên đất Phi châu thuộc Pháp. Những hành động tương tự cũng diễn
ra ở Côte d'Ivoire và Caméroun, nơi mà các cựu thừa sai Đức, nhập tịch
Thụy Sĩ, vừa trở lại hoạt động như trước 1914...”.
Đồng ý với giám mục, Revel, thanh tra thuộc địa, phúc trình như sau:
“Đâu đâu cũng thấy những kẻ bất mãn: ở đây, tại Côte d'Ivoire, họ đoàn kết
ngàn người như một dưới lá cờ chính trị-tôn giáo của các giáo sĩ, và tin đồn
lan ra rất nhanh khắp cả nước, chẳng biết từ đâu, theo đó, người Pháp chúng
ta, trong một thời gian ngắn, sẽ nhượng Côte d'Ivoire cho láng giềng. Từ đó,
phong trào sôi động và bất phục tùng diễn ra. Xứ Côte d'Ivoire bỗng chia ra
làm hai phe, phe Gia Tô và phe Tin Lành. Đối với dân bản xứ, Tin Lành có
nghĩa là Anh hoặc Mỹ, và Gia Tô đồng nghĩa với Pháp...”.
Kết luận của phúc trình: “Gia Tô hoặc Tin Lành, đó sẽ là Côte d'Ivoire
của tương lai. Chúng ta có thể nói thêm: Pháp hoặc Anh, bởi vì vấn đề tôn
giáo được cộng thêm vấn đề chính trị”[36].
Và như thế, các nước Gia Tô tìm cách gởi đến thuộc địa các thừa sai
thuộc quốc tịch của mình và đồng thời tìm cách thực hiện quyền giám sát
trên tất cả thừa sai Gia Tô hoạt động trong những quốc gia hãy còn độc lập.
Đến nỗi các nhà chính trị chống Vatican nhất, chống giáo hội nhất ở “chính
quốc”, đóng vai trò bảo vệ nhiệt thành nhất đối với các thừa sai Gia Tô ở
thuộc địa và yêu cầu Vatican công nhận những đặc ân đặc quyền tương ứng
với vai trò đó[37]. Nước Pháp, chống tôn giáo từ Cách Mạng 1789 và trung
lập về tôn giáo từ 1905, đặc biệt thực hiện ở bên ngoài chức năng “trưởng nữ
của Giáo hội” của mình. Gambetta tuyên bố một câu bất hủ: “Chống cố đạo
không phải là món hàng xuất cảng”. Suốt thời gian khủng hoảng đầu tiên vì
cao trào chống cố đạo từ 1880 đến 1889, bang giao giữa Paris và Bộ Truyền
giáo Vatican tiếp diễn bình thường. Sứ quán Pháp tại Vatican vẫn hoạt động
không gián đoạn. Giáo hoàng Léon XIII và hồng y Rampolla (bộ trưởng
ngoại giao) vẫn dành cho nước Pháp thái độ ân cần. Tuy chống cố đạo khét
tiếng nhất, Jules Ferry không hề từ chối sự giúp đỡ của thừa sai, ngược lại
còn nâng đỡ hoạt động của giám mục Lavigerie ở Tunisie và Algérie. “Quan
hệ giữa Lavigerie với lãnh sự Roustan, với bộ trưởng Waddington, với
Gambetta, với Ferry, mở đường Tunisie cho ảnh hưởng của ta và súng đạn
của ta. Thừa sai được Paris xem như những người Pháp ái quốc nhất và vô vị
lợi nhất: chính sách chống cố đạo ở bên trong tương ứng với một sự hợp tác
chân tình giữa Lavigerie và nước Pháp ở bên ngoài. Ngay sau khi thiết lập
nền bảo hộ của ta ở Tunisie, Lavigerie được bổ nhiệm cai quản địa phận
Tunisie vào tháng 6 năm 1881, và chính nhờ những chỉ dẫn của giám mục
mà Gambetta đã ban hành những quyết định hành chánh đầu tiên tại
đấy”[38]. Trong đợt khủng hoảng thứ hai vì chính sách chống cố đạo, từ 1901
đến 1907, tình trạng hợp tác cũng tốt đẹp không khác. “Công trình truyền
đạo Gia Tô thật là công trình quốc gia”[39], kết luận đó đến từ hai phía, phía
nhà thờ cũng như phía Nhà nước. “Bất cứ lúc nào, sự thù ghét của kẻ chống
đạo cũng im tiếng trước danh dự quốc gia và người cầm quyền đã từng trục
xuất các linh mục Dòng Tên ra khỏi nước Pháp tự tuyên bố mình là bạn, là
người bảo vệ họ ở Bắc Kinh”[40].
IV. Thế nhưng không phải không có mâu thuẫn giữa việc cải đạo và chính
sách thuộc địa. Tại sao? Tại vì, về phía Nhà thờ, họ biết rằng khi dựa vào thế
lực bên ngoài để bành trướng, họ dễ bị quần chúng bản xứ nhìn họ như công
cụ của đế quốc, thực dân. Ngược lại, về phía chính quyền thuộc địa, họ biết
rằng nếu nâng đỡ tôn giáo mới của Âu châu lộ liễu quá, sự chống đối của
dân chúng trước sự xâm nhập thô bạo của tôn giáo đó sẽ có ảnh hưởng tai
hại trên việc thu phục nhân tâm mà họ phải làm để củng cố đô hộ thuộc địa.
Mâu thuẫn giữa lợi ích tôn giáo và lợi ích thuộc địa là khía cạnh thứ tư của
vấn đề.
1) Các thừa sai, nhất là các vị được gởi qua Viễn Đông, ý thức được nguy
cơ của liên minh giữa tôn giáo và chính trị từ lâu. Thừa sai Léon Joly than
phiền: “Lạ thật, đau đớn thật, rõ ràng thật, Viễn Đông từ khước đạo
Chúa!”[41]. Linh mục Louvet, sử gia của Nha thừa sai, không nói gì khác
hơn: “Chẳng cần tự mình che giấu sự thật làm gì: Trung Hoa nhất quyết từ
chối đạo Chúa. Giới sĩ phu kiêu hãnh thì ghét bỏ chúng ta hơn bao giờ hết,
khẩu hiệu nẩy lửa kêu gọi dân chúng loại trừ bọn quỷ quái Âu châu xuất hiện
cùng khắp, và có lẽ không xa nữa đâu cái ngày mà Giáo hội Trung Hoa đẹp
đẽ này, Giáo hội đã được dựng lên với bao nhiêu công phu khó nhọc, sẽ bị
ngập trong máu của tông đồ và của con cái họ”. Tại sao đạo Chúa bị từ
khước như vậy? Louvet công nhận rằng điều đó chẳng phải phát xuất từ lòng
cuồng tín tôn giáo, bởi vì không có dân tộc nào khoan hòa về tôn giáo như
Trung Hoa. Chỉ vì người Trung Hoa đồng hóa xâm lược tôn giáo với xâm
lược đế quốc; chỉ vì “đằng sau...
 





