BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam 1857-1914

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 09h:46' 05-05-2025
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Lời người dịch
    TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
    TÌNH HÌNH GIA TÔ GIÁO TẠI VIỆT NAM VÀ BANG GIAO PHÁP-VIỆT TRƯỚC 1857
    PHẦN MỘT: GIA TÔ GIÁO VÀ CÔNG CUỘC XÂM CHIẾM NAM KỲ
    CHƯƠNG I: CUỘC VIỄN CHINH NAM KỲ: MỘT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
    CHƯƠNG II: MẤT NAM KỲ VÀ THỪA NHẬN GIA TÔ GIÁO
    CHƯƠNG III: NỀN TẢNG GIA TÔ GIÁO CỦA VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ THUỘC
    ĐỊA PHÁP Ở NAM KỲ
    PHẦN HAI: CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC GIÁO SĨ THỪA
    SAI TẠI BẮC KỲ
    CHƯƠNG IV: HUYỀN THOẠI VỀ THUYẾT BẮC KỲ LY KHAI
    CHƯƠNG V: KẾ HOẠCH XÂM LĂNG CỦA ĐÔ ĐỐC DUPRÉ
    CHƯƠNG VI: CUỘC VIỄN CHINH CỦA GARNIER, NỘI CHIẾN VÀ CHÍNH SÁCH
    CỦA PHILASTRE
    CHƯƠNG VII: CÁC KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 9
    CHƯƠNG VIII: TỪ SỰ BẢO TRỢ ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HỘ: HIỆP ƯỚC 1884
    PHẦN BA: ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THỪA SAI TRÊN VIỆC TỔ CHỨC CHẾ
    ĐỘ BẢO HỘ
    CHƯƠNG IX: VĂN THƯ VÀ TIN TỨC TÌNH BÁO CỦA GIÁM MỤC PUGINIER
    CHƯƠNG X: TÁCH RỜI BẮC KỲ KHỎI NƯỚC AN NAM
    CHƯƠNG XI: CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, XÂM LĂNG VÀ SÁT NHẬP
    LỜI KẾT: ALBERT SARRAUT VÀ SỰ NỔI DẬY CỦA PHONG TRÀO DÂN TỘC VIỆT
    NAM
    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Lời người dịch
    Tác phẩm của Giáo sư Cao Huy Thuần, ra đời cách đây 30 năm, vẫn luôn
    luôn mới. Bởi vì đó là một kho tàng tài liệu lịch sử. Và bởi vì công trình
    nghiên cứu này vẫn là sách đầu tay của ai muốn tìm hiểu lịch sử mất chủ
    quyền của Việt Nam hồi thế kỷ 19.
    Tác phẩm này trước hết là một luận án tiến sĩ quốc gia đệ trình trước Đại
    học Paris năm 1969[1]. Trong thời chiến tranh, một bản dịch vội vã được phổ
    biến hạn chế trong nước, ngoài tầm hay biết của tác giả ở xa. Năm 1988, một
    bản dịch lại được xuất bản rộng rãi ở Hoa Kỳ, vẫn ngoài tầm hay biết của tác
    giả lúc sách được phát hành.
    Để tài liệu lịch sử đó không bị những bản dịch vội vã diễn dịch sai lạc, và
    để xác nhận tính cách thuần túy khoa học của công trình nghiên cứu, tác giả
    xuất bản nguyên văn tiếng Pháp, năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale.
    Dưới nhan đề: “Les missionnaires et la politique coloniale française au Viet
    Nam, 1857-1914”, tác phẩm lược bỏ đoạn vào đề của luận án. Chúng tôi giữ
    nguyên phần vào đề ở đây và dịch theo ấn bản Yale.
    Nguyện vọng của tác giả là tự mình dịch tác phẩm của mình như đã dịch
    phần tổng luận. Sức khỏe và công việc bộn bề của ông ở Đại học Amiens
    không cho phép ông thực hiện ý định. Chúng tôi, thấy việc phải làm, không
    ngại khó khăn, tự lấy trách nhiệm cung cấp một bản dịch nghiêm chỉnh.
    Tất nhiên bản dịch chưa phải hoàn hảo, nhiều từ chưa được vừa ý, văn
    phong nhiều chỗ vẫn còn là văn dịch. Nhưng dịch những tài liệu lịch sử thì
    phải dịch càng sát càng tốt, nhiều khi phải hy sinh văn khí. Dịch thế nào để
    bản dịch vừa được đọc trôi chảy, vừa giữ nguyên sự thật lịch sử: đó là cố
    gắng của người dịch.
    Paris, tháng 11 năm 1999
    Nguyên Thuận

    TỔNG LUẬN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
    “Truyền đạo Thiên Chúa... Điều đó có liên quan gì đến chính sách thuộc
    địa không? Chẳng ai trả lời rằng không, trừ khi có định kiến...”. Giám mục
    Guébriant, bề trên của Nha Thừa Sai Paris đã viết như vậy trong tạp chí
    Correspondant số 25/1/1931[2]. Ba mươi bảy năm sau, vào 1968, giữa chiến
    tranh nóng bỏng ở Việt Nam, một bức thư sau đây của các giáo chức ki-tô
    Pháp[3] được gởi đến các đồng nghiệp của họ tại Mỹ: “Phải thừa nhận rằng,
    vì chính sách mà các chính phủ nước họ đã áp dụng, các người ki-tô thường
    bị đồng hóa, trước mắt các dân tộc Á Phi, với đế quốc và thực dân, hôm qua
    cũng như hôm nay. Nhìn vấn đề như vậy thì đơn giản thái quá, và các giáo
    hội ki-tô còn phải tốn nhiều công sức lắm để tái lập sự thật. Nhưng, cho đến
    hôm nay, nhiều hình thức can thiệp khác của các quốc gia được xem là ki-tô
    lại dựng thêm nhiều cản trở mới cho việc du nhập của thánh kinh vào Á Phi.
    Việc ném bom ở miền Bắc Việt Nam không phải là hình thức can thiệp duy
    nhất, nhưng là hình thức lộ liễu nhất.”
    Hai giai đoạn lịch sử khác nhau, hai ngôn ngữ ki-tô khác nhau. Bề trên
    của Nha Thừa Sai Paris, hiện thân của tiếng nói lương tâm bình thản trong
    giai đoạn thuộc địa, nhấn mạnh dây liên hệ nối kết sự truyền giáo với chính
    sách thuộc địa, trong khi các giáo chức ki-tô Pháp, ấm ức trong mặc cảm
    lương tâm của thời hậu thuộc địa, muốn làm trong trắng Nhà thờ bằng cách
    đổ lỗi cho các quốc gia, kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng
    tôn giáo để phục vụ chính sách thuộc địa. Đâu là sự thật?
    Tìm hiểu sự thật lịch sử đâu có phải để kết tội ai hay để gây bất hòa giữa
    tôn giáo này với tôn giáo khác. Ngược lại, hiểu lịch sử chính là để đừng vấp
    nữa những sai lầm trong quá khứ - những sai lầm đến từ bên ngoài đã làm
    máu chảy giữa những người con của cùng dân tộc. Tôn giáo là thiêng liêng,
    và tự do tôn giáo là tự do căn bản của con người. Chính vì tôn trọng sự
    thiêng liêng đó mà mọi lạm dụng tôn giáo vì một mục đích khác, hoặc để
    độc tôn, cần phải đề phòng triệt để.
    Việt Nam là trường hợp điển hình của lạm dụng, là ví dụ tiêu biểu của
    một mô hình thuộc địa lấy tôn giáo vừa làm phương tiện vừa làm cứu cánh
    cho thống trị. Bởi vậy, trước khi đi sâu vào lịch sử Việt Nam, tưởng cũng
    nên nhắc lại sơ lược mô hình đó trong bối cảnh chung của sự bành trướng
    thuộc địa Âu châu. Năm điểm sau đây được xem như nổi bật nhất:
    I. Trước hết, ai cũng thấy sự phát triển song song, trong lịch sử thuộc địa
    Âu châu, giữa hành động thuộc địa và hành động truyền giáo. Nói “song
    song” cũng không đúng hẳn, bởi vì, như một nhà ngoại giao Pháp đã nhận

    xét hóm hỉnh, “đó là hai đường song song vượt qua khỏi mọi luật lệ của hình
    học để gặp nhau hoài”[4]. Nghĩa là, bất cứ ở đâu trong thế giới Á Phi, sự
    truyền giáo đều được phát triển nhờ xâm chiếm thuộc địa, chiếm đóng quân
    sự, cắt nhượng lãnh thổ, trấn áp chính trị.
    Như vậy, giáo xứ Alger đã được dựng lên ở Algérie. “Sự kiện lịch sử này
    thật đáng ghi nhớ, bởi vì giám mục xuất hiện lại, sau nhiều thế kỷ vắng
    bóng, trên đất Phi châu mà ngày xưa thánh Augustin và thánh Cyprien đã
    từng đặt gót”[5]. Như vậy, Trung Quốc đã bị bắt buộc mở ra cho ảnh hưởng
    của đạo Chúa dưới áp lực của Âu châu, nhất là của Pháp, hai lần can thiệp
    liên tiếp để ký hiệp ước 1858, từ đó Trung Quốc phải thừa nhận cho các thừa
    sai toàn quyền tự do truyền đạo. Cũng như vậy, giáo hoàng Pie X tạo mọi sự
    dễ dàng cho việc nước Ý chinh phục Tripolitaine, ở Libye, bởi vì đó cũng là
    chiến tranh chống ngoại đạo. Nhà viết sử Thiên Chúa giáo Paul Lesourd viết:
    “Biết bao nhiêu trường hợp đã cho thấy: các thừa sai không thể làm được gì
    vững chắc nếu không dựa vào sự ủng hộ thông minh của quốc gia thuộc địa,
    dù chỉ là để bảo vệ các tín đồ tân tòng chống lại kẻ thù của họ hay chống lại
    tà giáo như ở châu Úc”[6].
    Vì lý do đó, Giáo hội Thiên Chúa công nhận rành mạch chính nguyên tắc
    của việc xâm chiếm thuộc địa[7]. Xâm chiếm thuộc địa là một “công trình
    giáo dục về kinh tế, xã hội, chính trị”, là “thực hiện chức năng đem lại văn
    minh do luật thiên nhiên ban cho các quốc gia tự do và có ý thức trách
    nhiệm”[8]. Hồng y Verdier nói rõ: xâm chiếm thuộc địa “nằm trong chương
    trình của Thượng Đế, như một hành động bác ái tập thể mà trong một thời
    điểm nào đó, một dân tộc thượng đẳng phải làm đối với các giống dân xấu số
    như một bổn phận phát sinh từ chính văn hóa thượng đẳng của dân tộc
    đó”[9]. Nói một cách khác, các nhà đạo đức Thiên Chúa giáo tìm cách biện
    minh cho một quyền thuộc địa ngay trong cả thời gian mà việc xâm chiếm
    thuộc địa bị chỉ trích toàn bộ[10].
    II. Từ đó, dựa vào nhau là điểm nổi bật thứ hai: nếu sự truyền giáo dựa
    vào đô hộ của Âu châu thì, ngược lại, sự đô hộ này, để được vững chắc, cũng
    phải tìm hậu thuẫn về lý thuyết cũng như về thực hành nơi các thừa sai và
    nơi chính tôn giáo mới.
    1) Trên lý thuyết, tôn giáo mới tạo tính chính đáng cho hành động thuộc
    địa. Về điểm này, hai giai đoạn cần được phân biệt trong lịch sử bành trướng
    Âu châu. Giai đoạn thứ nhất chủ yếu có tính cách tôn giáo. Từ thế kỷ 15,
    giáo hoàng đã đặt ra nghĩa vụ cho các nước Thiên Chúa giáo phải chinh phục
    để cải đạo. Như thế, ông hoàng Henri của Bồ Đào Nha, được gọi là Henri-leNavigateur vì tài vượt biển khám phá đất mới của ông, được giáo hoàng

    Nicolas V, bằng giáo chỉ ban hành năm 1454, ban cho quyền chinh phục tất
    cả xứ sở mà ông đặt chân giữa Phi châu và Ấn Độ. Sau khi nhắc lại bổn phận
    của Henri là phải “chinh phục các xứ không tin đạo và chưa bị nhiễm trùng
    của dịch hạch Hồi giáo, và phải dạy cho họ biết danh hiệu của Thiên Chúa”,
    giáo chỉ 1454 phán: “Trong hiện tại và trong tương lai, tất cả những chinh
    phục trải dài từ mũi Bojador, mũi Non, bờ biển Guinée và tất cả vùng Đông
    đều đặt dưới chủ quyền của vua Alfonse ngay bây giờ và mãi mãi cho đến
    khi tận thế”[11]. Hai năm sau, ngày 13/3/1456, giáo hoàng Calixte III ban
    hành một giáo chỉ thứ hai xác nhận độc quyền của Bồ Đào Nha trên một nửa
    thế giới mới, nửa kia được ban cho Tây Ban Nha. Độc quyền của Bồ lại
    được xác nhận một lần nữa trong giáo chỉ Inter Caetera do giáo hoàng
    Alexandre VI ban hành ngày 4/5/1493. Đất đai là thuộc về Chúa và đại diện
    của Chúa có quyền sử dụng tất cả những đất đai nào không thuộc tín đồ của
    mình, bởi vì những kẻ dị giáo và phản giáo không có một quyền chiếm hữu
    chính đáng nào trên bất cứ mảnh đất nào. Do đó, việc ban cấp đất đai do
    những kẻ đó chiếm hữu mặc nhiên bao hàm nghĩa vụ làm họ thần phục, làm
    họ cải đạo, tự nguyện hay ép buộc, và như vậy là vì phúc lợi tối đa của họ.
    Các vua chúa Âu châu một dạ thừa nhận chân lý hiển nhiên đó. Khi ủy
    nhiệm Jacques Cartier và Roberval đi Canada năm 1540 và 1541, vua
    François 1er ra lệnh các ông ấy phải “giáo dục dân bán khai bản xứ để
    thương và kính Thượng Đế và Chân Lý của Ngài”. Hiến chương mà nữ
    hoàng Elisabeth nước Anh ban hành năm 1660 cho một công ty thuộc địa
    buộc công ty này phải “tôn trọng những bổn phận cao hơn là nghĩa vụ
    thương mại”: bổn phận cải giáo[12]. Cây thập tự thánh hóa những chinh phục
    và hoài bão làm giàu: bởi vậy, lúc tay tàn bạo Fernand Cortez đổ bộ lên bờ
    biển Mễ Tây Cơ năm 1519, ông ta thành lập một thương điếm lấy tên là
    Villa Rica de la Vera Cruz, Thành Phố Phồn Vinh Của Cây Thập Tự Đích
    Thực[13].
    Giai đoạn bành trướng thuộc địa thứ hai tách rời chính trị và tôn giáo trên
    lý thuyết. Đã đành chiến thắng Alger năm 1830, dưới thời vua Charles X,
    mang tính chất tôn giáo chẳng khác gì đợt bành trướng đầu tiên của Pháp - ở
    Canada, ở Louisiana, ở Saint Domingue, ở Đông Ấn, và sau đó ở Sénégal nhưng ông vua cuối cùng rất sùng Thiên Chúa đó bị lật đổ vài tuần sau chiến
    thắng. Bành trướng thuộc địa hồi thế kỷ 19 có lý do chủ yếu là kinh tế - tìm
    thị trường cho kỹ nghệ đang mở mang - hoặc chính trị: không để cho một
    nước Âu châu khác nhanh chân hơn chiếm trước. Tuy vậy, nước nào cũng có
    nhu cầu tìm cho ra một lý thuyết để biện minh và tạo tính chính đáng cho
    hành động thuộc địa. Và bởi vì văn hóa châu Âu là Thiên Chúa giáo, lý
    thuyết đó chỉ có thể lấy hứng từ đó mà thôi. Họ bảo: chinh phục các nước xa

    xôi là để mang ánh sáng của đạo Chúa, mang văn minh Thiên Chúa đến cho
    các giống dân sống trong bóng tối của những tín ngưỡng man di. Bởi vậy,
    khi bà xơ Jahouvey khởi hành đi Guyanne, vua Louis-Philippe đích thân đến
    dự lễ thánh bên cạnh bà. Tác giả G. Goyau viết: với cử chỉ đó, vua muốn
    chứng tỏ rằng “giữa văn minh của nước Pháp và các dân tộc da đen, không
    có chiếc cầu nào khác hơn là Thiên Chúa”[14]. Làm sao giải thích những
    cuộc chiến tranh chinh phục và biện minh cho những tàn bạo của giết chóc?
    “Một văn minh cao hơn mang đến cho vùng đất đẹp đẽ đó đủ để biện minh
    cho hành động của chúng ta trước mắt loài người và trước mắt Thượng Đế”,
    Changarnier trả lời như vậy giữa chiến trận Algérie[15]. Napoléon III có nói
    gì khác hơn đâu sau đó: “Ta phải mang các giống dân ở châu Úc và ở Úc lại
    gần châu Âu và làm cho họ tham dự vào ân huệ của đạo Thiên Chúa và của
    văn minh”. Thuộc địa và văn minh, hai từ ngữ đó không rời nhau được nữa.
    Thuộc địa, đó là thực hiện một chức năng của văn minh và văn minh được
    hiểu chính thức dưới nghĩa Thiên Chúa. Kẻ xâm chiếm thuộc địa, vì vậy,
    khoác một bộ mặt cao quý và đáng yêu; ông ấy đem đến ân huệ, ông ấy hành
    xử một chức năng tâm linh, ông ấy chẳng khác gì một tông đồ[16].
    Lý thuyết đó được đào sâu thêm nữa nhờ các tác giả Thiên Chúa có tài ở
    thế kỷ 20. Linh mục Delos quả quyết rằng việc xâm chiếm thuộc địa phải
    được sự hỗ trợ của đạo Thiên Chúa. “Đã đành văn minh hóa không phải là
    truyền giảng phúc âm. Phúc âm siêu việt các nền văn minh, nhưng không
    một văn minh đích thực nào không cần đến phúc âm. Trong một nước có
    thuộc địa, nền văn minh thượng đẳng chỉ có thể nảy nở trong ánh sáng đó,
    nương tựa vào giáo huấn đó, nâng đỡ bởi ân sủng đó. Văn minh hóa không
    phải là truyền giảng phúc âm, nhưng không ai có thể làm văn minh mà
    không truyền giảng phúc âm”[17].
    Làm thế nào nước có thuộc địa thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ đó? “Trực
    tiếp, bằng cách dần dần thay đổi luật lệ và phong tục để du nhập luật tự
    nhiên. Gián tiếp, gián tiếp mà thôi, bằng cách nâng đỡ việc truyền giáo chứ
    không phải ép buộc theo đạo, để lan truyền tôn giáo đích thực”[18]. Như vậy
    nhà thờ của thừa sai sẽ trở thành yếu tố chính của công tác thuộc địa. “Nếu
    công trình thuộc địa không nâng đỡ sự bành trướng của văn minh Thiên
    Chúa, công trình đó sẽ trở thành chuyện kiếm tiền thấp hèn hoặc chuyện tính
    toán chính trị nông cạn: nó không còn chính đáng nữa”[19].
    2) Về thực tiễn, đạo Chúa, theo các lý thuyết gia Thiên Chúa và các viên
    chức thuộc địa cao cấp, tạo sự gần gũi giữa các dân tộc bản xứ và các nước
    Âu châu: đó là dây liên kết giữa các xã hội bản xứ và xã hội Tây phương.
    Giám mục Guébriant làm sáng tỏ điểm này: “Khi một người bản xứ thuộc

    bất cứ chủng tộc gì, vàng, nâu hoặc đen, cải thành đạo Chúa thì dù cho người
    đó đã nghĩ sai như thế nào, đã có thành kiến gì, đã sợ hãi gì, đã ghét bỏ gì,
    chắc chắn trong đầu người đó không còn một trở ngại gì nữa để gần gũi, hợp
    tác, hòa lẫn với những người theo đạo Chúa trong những chủng tộc khác,
    nhất là với người da trắng, và sẽ hiểu họ tận đáy lòng, nếu đừng có chuyện gì
    xảy ra khiến người đó chướng mắt, thất vọng. Làm gần gũi trí óc và tình cảm
    là kết quả của việc cải giáo, và cải giáo là tận cùng của công sức thừa sai.
    Công việc của dân tộc có thuộc địa, đứng về mặt chính đáng mà xét, sẽ được
    vô cùng dễ dãi. Công việc đó dễ dãi, dù cho số dân đã được cải đạo hãy còn
    rất ít, bởi vì số lượng ít ỏi không phải là cản trở không thể vượt qua đối với
    vai trò làm gạch nối”[20].
    Cùng trong ý tưởng đó, P. Leroy-Beaulieu, một trong những lý thuyết gia
    sáng chói nhất của chủ nghĩa thuộc địa, viết trong cuốn “Về việc khai thác
    thuộc địa đối với những dân tộc tiên tiến”, được xem như tứ thư ngũ kinh
    của các thuộc địa gia: “Nếu nước Pháp phạm một sai lầm khi khai chiến với
    Hồi giáo thì nước Pháp cũng sẽ không biết phòng xa gì hơn nếu không tìm
    cách cải đạo các dân tộc trong tất cả các nước chiếm đóng. Sénégal, Niger,
    Congo, Oubanghi, Madagascar, tất cả đều đang chờ đợi các thừa sai. Hồng y
    Lavigerie, người đang có những dự án lớn, phải đưa đại đa số thừa sai của
    ông, nếu ông muốn đạt những kết quả sâu rộng và vững chắc, đến những
    nước mà Pháp đã cai trị từ lâu hoặc mới chiếm ở Tây Phi và Trung Phi.
    Đừng để mất một năm nào nữa. Có hơn mười triệu người ở đấy cần phải
    chinh phục ngay cho đạo Chúa để đạo Hồi đừng chiếm trước ta vì đạo ấy đã
    du nhập vào rồi”. Leroy-Beaulieu viết tiếp: “Khai hóa tinh thần và vật chất,
    giám hộ với nhân từ, giáo dục với kiên nhẫn các dân tộc - hay nói cho đúng
    hơn, các bộ lạc đó - không thể chỉ duy nhất giao cho các thương gia của
    chúng ta, các viên chức hành chánh của chúng ta, hay các thầy giáo của
    chúng ta, làm như thế là điên rồ... Đạo Chúa, với đức tính dịu dàng, với lòng
    hướng thượng, với tình thương đối với kẻ hèn... là người giáo dục duy nhất
    có thể làm dễ dàng sự tiếp xúc giữa người Âu châu với người bán khai man
    di và có thể từ từ, trong một hai thế hệ, không cần đột biến, với những
    phương pháp giản lược, làm cho các giống dân bán khai man di đó hiểu văn
    minh của chúng ta và góp phần vào việc phát triển văn minh đó”[21].
    Muốn trích hàng ngàn câu như vậy cũng chẳng khó gì, bởi vì điều đó đã
    trở thành hiển nhiên.
    3) Cuối cùng, vẫn trên thực tiễn, đạo Chúa là phương tiện hiệu quả nhất
    để đồng hóa những dân tộc bị trị. Đồng hóa là chính sách cổ truyền của
    Pháp, nói chung là chính sách cổ truyền, thân thuộc, của các nước Latinh[22].
    Toàn quyền Pasquier giải thích: “Quả thật người Pháp dễ dàng trong việc

    tiếp xúc với người bản xứ, đến với người đó, vui vẻ với người đó. Sự dễ
    dàng đó có gốc rễ từ sức mạnh đồng hóa, hoặc bẩm sinh, hoặc do lý giải,
    khiến người Pháp tự mình đến gần người bản xứ, không phải để bắt gặp hay
    hiểu biết tư tưởng của người đó, mà để áp đặt tư tưởng của mình trên người
    đó”[23].
    Lý tưởng đồng hóa đó đã ngự trị lâu đời trên lịch sử, trên đời sống chính
    trị của nước Pháp, bắt nguồn từ tư tưởng cổ điển và từ luật La Mã. Từ
    Montaigne, người Pháp đã học rằng “mỗi người mang trong mình toàn vẹn
    số phận của nhân loại”, rằng “mọi rợ và văn minh chỉ khác nhau có độc cái
    quần”, do đó chỉ cần thay đổi nguyên tắc sống và thói quen là đủ để lập lại
    đồng nhất. Michelet dạy: “Ta thường giải thích chiến tranh là do tính thích
    chinh phục của ta mà ra, và ta đã lầm. Tuy nhiên, tính nhiệt thành hoán cải là
    động cơ thúc bách nhất. Người Pháp ưa nhất là để dấu ấn nhân cách của
    mình trên kẻ bại trận, không phải nhân cách riêng của mình đâu, mà như là
    mẫu mực của thiện và mỹ - niềm tin rất ngây thơ. Người Pháp tin rằng mình
    không thể làm điều gì có lợi cho thế giới hơn là cho tư tưởng của mình,
    phong tục của mình, cách sống của mình. Người Pháp hoán cải những dân
    tộc khác như thế với thanh kiếm nơi tay và, sau khi thắng trận, nửa vì tự phụ
    nửa vì thiện cảm, người Pháp trình bày cho họ thấy họ sẽ có lợi như thế nào
    khi trở thành người Pháp”[24].
    Ít văn chương hơn và cụ thể hơn, Colbert, nhà chính trị lỗi lạc của vua
    Louis XIV, chỉ đạo như sau cho viên chức được phái đi Canada: “Phải giáo
    huấn dân bản xứ bằng châm ngôn của tôn giáo chúng ta và bằng cả phong
    tục của chúng ta, thế nào để dân chúng ở Canada và dân Pháp tập hợp thành
    một dân tộc”[25]. Chính sách đồng hóa, nói theo lời của giám mục Bruno de
    Soluges, là “khuynh hướng tự nhiên của một nhà giáo dục nhân từ, tin chắc
    nơi phương pháp tuyệt diệu đã đào tạo nên mình, muốn áp dụng cho học trò
    của mình để họ cũng thành ra chính mình”[26]. Bởi vậy, dù cho “đồng hóa là
    chính sách cai trị thuộc địa, thật là bất công nếu người ta không xem đó như
    cũng có một giá trị tâm linh”. Hơn thế nữa, như “tiếng vang của Phúc
    âm”[27]. Các tác giả Thiên Chúa giáo tranh nhau đưa phúc âm vào chuyện
    thuộc địa: Phúc âm, nói như Delacommune, “có thể được xem như một
    chính sách thuộc địa tâm linh”[28].
    Hệ luận tất nhiên của chính sách đồng hóa là dẹp bỏ văn minh bản địa,
    công trình mà các thừa sai đã làm với tất cả nhiệt huyết. Ở Á châu, ai cũng
    biết, họ tấn công vào việc thờ cúng tổ tiên. Chỉ trích ra đây một chứng từ
    thôi của G. Curzon: “Trừ một vài nhân vật rất hiếm hoi có đầu óc phóng
    khoáng, các thừa sai lấy thái độ thù nghịch không nhân nhượng đối với tất cả

    tôn giáo và tất cả luân lý bản xứ: họ hoàn toàn bất cần đếm xỉa những khía
    cạnh tích cực và ảnh hưởng đạo đức của những triết lý đó, cũng như sức
    mạnh chi phối đầu óc người Trung Hoa và uy quyền mà các triết lý đó đã un
    đúc từ ngàn xưa. Đó là trường hợp của việc thờ cúng tổ tiên mà các thừa sai
    nhất quyết từ chối không nhân nhượng... Người Trung Hoa vốn bằng lòng
    với tôn giáo của họ và chỉ yêu cầu một điều thôi là cứ để họ sống yên như
    thế, bỗng bị tuyên truyền tấn công tràn ngập mà mũi nhọn đầu tiên là đâm
    vào điều thân thiết nhất của họ... Đối với họ, đạo đức của Khổng giáo bao
    gồm bổn phận của con đối với gia đình và bổn phận đối với quốc gia. Các
    thừa sai buộc họ cải đạo bằng cách từ khước ngay cả bản chất công dân,
    buộc họ phải nhận điều kiện tiên quyết là chối bỏ nguyên tắc đầu tiên làm
    điểm tựa cho mọi đạo đức Khổng giáo...”. Tác giả đặt câu hỏi: “Ví thử có
    người truyền đạo nào đó của một tôn giáo mới nào đó đổ bộ lên nước Anh,
    ví thử người đó thuộc một chủng tộc mà ta ghét và khinh bỉ, và ví thử họ bắt
    đầu tuyên truyền bằng cách tấn công vào quyển Thánh Kinh và bài xích lòng
    tin vào các tông đồ, ta sẽ đón tiếp người đó như thế nào nhỉ?”[29].
    III. Vì công cuộc truyền giáo chỉ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhờ
    chinh phục và mở mang thuộc địa, và vì các nước Âu châu tìm thấy nơi đạo
    Chúa khí giới sắc bén nhất, hậu quả tất nhiên là hợp tác chặt chẽ giữa hành
    động chính trị và hành động tôn giáo: đây là khía cạnh thứ ba của vấn đề.
    Nguyên do gì đã khiến triều đình Louis-Philippe nhận lãnh việc bảo vệ sứ
    mạng thừa sai ở Trung Quốc? Chủ yếu là chính trị. Không cạnh tranh nổi với
    Anh trên địa hạt thương mại, nước Pháp hy vọng tìm thấy nơi việc bảo vệ
    các thừa sai một khí cụ để gây ảnh hưởng, có thể đối phó về mặt chính trị với
    vị thế quan trọng mà Anh đã chiếm được nhờ thương mại. “Nếu đem so sánh
    việc trao đổi mậu dịch giữa Âu châu và Trung Hoa, nước Pháp hoàn toàn
    yếu kém so với Anh, vậy mà uy thế của ta ở Trung Hoa nếu không nói là hơn
    thì cũng bằng uy thế nước Anh. Nước Pháp, nhờ dựa trên uy thế tôn giáo,
    chiếm lại được uy thế thiếu vắng trên địa hạt thương mại”[30].
    Napoléon III suy nghĩ y hệt. Lấy cớ gì mà liên quân Anh-Pháp tấn công
    Trung Quốc năm 1857? Về phía Anh, vì Trung Quốc xâm phạm lá cờ Anh;
    về phía Pháp, vì một thừa sai (Chapdelaine), hoạt động bất hợp pháp, bị giết
    ở Quảng Tây. Các thừa sai Pháp chê chính sách thuộc địa Anh là chỉ biết
    buôn bán, thấp như chân vịt; chính sách thuộc địa Pháp mới cao cả giá trị
    đạo đức và tâm linh. Tờ báo Avenir du Tonkin viết: “Nơi các nước khác, lá
    cờ theo sau thương mại; số mệnh của chúng ta là lá cờ theo sau cây thập
    giá”[31].
    Thế nhưng, đừng nói nước Anh chỉ biết lợi ích thương mại. Nước Anh
    cũng có thừa sai của họ và các vị đó cũng hưởng ân huệ rất hiệu quả của các

    chiến hạm Anh. Sử gia Ấn Độ Panikkar viết như thế này về sự biến ở Tân
    Cương năm 1883: các thừa sai đang tranh chấp với chính quyền Trung Hoa
    về những vấn đề liên quan thuần túy đến tiền bạc của họ, thế rồi hai chiến
    hạm Anh ngược dòng Dương Tử ào đến giải quyết vấn đề chẳng cần thảo
    luận gì cả “phô bày ồ ạt lực lượng mỗi khi chính quyền dám chống lại thừa
    sai”. Panikkar kể thêm: để thành lập một cơ sở thừa sai trong thung lũng
    thượng nguồn Dương Tử năm 1858, Muirhead kéo theo cả một đại đội binh
    sĩ; trong tàu chiến của liên minh, giáo sĩ Mỹ Henri Bodget đổ bộ lên Thiên
    Tân[32]. Nước Đức cũng làm thế thôi: hai thừa sai Đức bị giết, lập tức quân
    đội Đức đổ bộ, và, để đền bù, tách chiếm một phần Sơn Đông[33].
    Ở Ấn Độ, các viên chức cai trị Anh lấy thái độ trung lập, và chính phủ
    Anh, rất thực tế, không hề nâng đỡ thứ tuyên truyền quá thô thiển, độc ác, có
    thể làm tổn thương tình cảm của người Ấn và làm thiệt hại sự trung thành
    của những thành phần cộng tác với chính quyền Anh. Tuy vậy, một cách
    gián tiếp, chính quyền Anh cũng giúp đỡ rất nhiều giáo sĩ của họ. “Luật lệ
    mà người Anh thiết lập công khai bảo vệ những người mới cải đạo; họ được
    hưởng quyền thừa kế, có quyền buộc vợ phải theo tôn giáo mới. Chính
    quyền Anh cũng khuyến khích thừa sai đến công tác tại những bộ lạc bán
    khai, bởi vì họ biết rằng người Ấn không phiền hà gì chuyện đó”[34].
    Về phía người Mỹ, liên minh giữa chính trị và tôn giáo là nét đặc biệt của
    chính sách Mỹ ở Trung Quốc. Gần như một tập tục, họ chọn nhân viên ngoại
    giao và lãnh sự trong hàng thừa sai hoặc cựu thừa sai. Ashmore vừa là thừa
    sai đầy nhiệt huyết vừa là lãnh sự Mỹ tại Sou-Tchéou; viên đại sứ Mỹ cuối
    cùng tại Trung Quốc chưa cộng sản, Leighton Stuard, đã sống tại đấy như
    một thừa sai[35].
    Đó là Á châu. Còn Phi châu thì sao? Giám mục Augouard đã tuyên bố
    như thế này trong tờ La Liberté du Sud-Ouest số 26/8/1921: “Hiểm nguy lớn
    nhất tại Congo đến từ các mục sư Mỹ và Anh. Họ đến hàng loạt, rất đông, đi
    khắp các nước thuộc địa của Pháp, tung vãi đầy tay đô la và đồng bảng Anh.
    Giá như họ hành động vì mục đích tôn giáo! Tôi không tin như thế và Toàn
    quyền Augagneur cũng không tin như thế, bởi vì, trong một phúc trình gởi
    cho bộ trưởng thuộc địa, ông tuyên bố rằng những tuyên truyền mệnh danh
    là tôn giáo kia dường như là một tổ chức thuộc địa đích thực nhắm mục đích
    đặt chân trên đất Phi châu thuộc Pháp. Những hành động tương tự cũng diễn
    ra ở Côte d'Ivoire và Caméroun, nơi mà các cựu thừa sai Đức, nhập tịch
    Thụy Sĩ, vừa trở lại hoạt động như trước 1914...”.
    Đồng ý với giám mục, Revel, thanh tra thuộc địa, phúc trình như sau:
    “Đâu đâu cũng thấy những kẻ bất mãn: ở đây, tại Côte d'Ivoire, họ đoàn kết

    ngàn người như một dưới lá cờ chính trị-tôn giáo của các giáo sĩ, và tin đồn
    lan ra rất nhanh khắp cả nước, chẳng biết từ đâu, theo đó, người Pháp chúng
    ta, trong một thời gian ngắn, sẽ nhượng Côte d'Ivoire cho láng giềng. Từ đó,
    phong trào sôi động và bất phục tùng diễn ra. Xứ Côte d'Ivoire bỗng chia ra
    làm hai phe, phe Gia Tô và phe Tin Lành. Đối với dân bản xứ, Tin Lành có
    nghĩa là Anh hoặc Mỹ, và Gia Tô đồng nghĩa với Pháp...”.
    Kết luận của phúc trình: “Gia Tô hoặc Tin Lành, đó sẽ là Côte d'Ivoire
    của tương lai. Chúng ta có thể nói thêm: Pháp hoặc Anh, bởi vì vấn đề tôn
    giáo được cộng thêm vấn đề chính trị”[36].
    Và như thế, các nước Gia Tô tìm cách gởi đến thuộc địa các thừa sai
    thuộc quốc tịch của mình và đồng thời tìm cách thực hiện quyền giám sát
    trên tất cả thừa sai Gia Tô hoạt động trong những quốc gia hãy còn độc lập.
    Đến nỗi các nhà chính trị chống Vatican nhất, chống giáo hội nhất ở “chính
    quốc”, đóng vai trò bảo vệ nhiệt thành nhất đối với các thừa sai Gia Tô ở
    thuộc địa và yêu cầu Vatican công nhận những đặc ân đặc quyền tương ứng
    với vai trò đó[37]. Nước Pháp, chống tôn giáo từ Cách Mạng 1789 và trung
    lập về tôn giáo từ 1905, đặc biệt thực hiện ở bên ngoài chức năng “trưởng nữ
    của Giáo hội” của mình. Gambetta tuyên bố một câu bất hủ: “Chống cố đạo
    không phải là món hàng xuất cảng”. Suốt thời gian khủng hoảng đầu tiên vì
    cao trào chống cố đạo từ 1880 đến 1889, bang giao giữa Paris và Bộ Truyền
    giáo Vatican tiếp diễn bình thường. Sứ quán Pháp tại Vatican vẫn hoạt động
    không gián đoạn. Giáo hoàng Léon XIII và hồng y Rampolla (bộ trưởng
    ngoại giao) vẫn dành cho nước Pháp thái độ ân cần. Tuy chống cố đạo khét
    tiếng nhất, Jules Ferry không hề từ chối sự giúp đỡ của thừa sai, ngược lại
    còn nâng đỡ hoạt động của giám mục Lavigerie ở Tunisie và Algérie. “Quan
    hệ giữa Lavigerie với lãnh sự Roustan, với bộ trưởng Waddington, với
    Gambetta, với Ferry, mở đường Tunisie cho ảnh hưởng của ta và súng đạn
    của ta. Thừa sai được Paris xem như những người Pháp ái quốc nhất và vô vị
    lợi nhất: chính sách chống cố đạo ở bên trong tương ứng với một sự hợp tác
    chân tình giữa Lavigerie và nước Pháp ở bên ngoài. Ngay sau khi thiết lập
    nền bảo hộ của ta ở Tunisie, Lavigerie được bổ nhiệm cai quản địa phận
    Tunisie vào tháng 6 năm 1881, và chính nhờ những chỉ dẫn của giám mục
    mà Gambetta đã ban hành những quyết định hành chánh đầu tiên tại
    đấy”[38]. Trong đợt khủng hoảng thứ hai vì chính sách chống cố đạo, từ 1901
    đến 1907, tình trạng hợp tác cũng tốt đẹp không khác. “Công trình truyền
    đạo Gia Tô thật là công trình quốc gia”[39], kết luận đó đến từ hai phía, phía
    nhà thờ cũng như phía Nhà nước. “Bất cứ lúc nào, sự thù ghét của kẻ chống
    đạo cũng im tiếng trước danh dự quốc gia và người cầm quyền đã từng trục
    xuất các linh mục Dòng Tên ra khỏi nước Pháp tự tuyên bố mình là bạn, là

    người bảo vệ họ ở Bắc Kinh”[40].
    IV. Thế nhưng không phải không có mâu thuẫn giữa việc cải đạo và chính
    sách thuộc địa. Tại sao? Tại vì, về phía Nhà thờ, họ biết rằng khi dựa vào thế
    lực bên ngoài để bành trướng, họ dễ bị quần chúng bản xứ nhìn họ như công
    cụ của đế quốc, thực dân. Ngược lại, về phía chính quyền thuộc địa, họ biết
    rằng nếu nâng đỡ tôn giáo mới của Âu châu lộ liễu quá, sự chống đối của
    dân chúng trước sự xâm nhập thô bạo của tôn giáo đó sẽ có ảnh hưởng tai
    hại trên việc thu phục nhân tâm mà họ phải làm để củng cố đô hộ thuộc địa.
    Mâu thuẫn giữa lợi ích tôn giáo và lợi ích thuộc địa là khía cạnh thứ tư của
    vấn đề.
    1) Các thừa sai, nhất là các vị được gởi qua Viễn Đông, ý thức được nguy
    cơ của liên minh giữa tôn giáo và chính trị từ lâu. Thừa sai Léon Joly than
    phiền: “Lạ thật, đau đớn thật, rõ ràng thật, Viễn Đông từ khước đạo
    Chúa!”[41]. Linh mục Louvet, sử gia của Nha thừa sai, không nói gì khác
    hơn: “Chẳng cần tự mình che giấu sự thật làm gì: Trung Hoa nhất quyết từ
    chối đạo Chúa. Giới sĩ phu kiêu hãnh thì ghét bỏ chúng ta hơn bao giờ hết,
    khẩu hiệu nẩy lửa kêu gọi dân chúng loại trừ bọn quỷ quái Âu châu xuất hiện
    cùng khắp, và có lẽ không xa nữa đâu cái ngày mà Giáo hội Trung Hoa đẹp
    đẽ này, Giáo hội đã được dựng lên với bao nhiêu công phu khó nhọc, sẽ bị
    ngập trong máu của tông đồ và của con cái họ”. Tại sao đạo Chúa bị từ
    khước như vậy? Louvet công nhận rằng điều đó chẳng phải phát xuất từ lòng
    cuồng tín tôn giáo, bởi vì không có dân tộc nào khoan hòa về tôn giáo như
    Trung Hoa. Chỉ vì người Trung Hoa đồng hóa xâm lược tôn giáo với xâm
    lược đế quốc; chỉ vì “đằng sau...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !