BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Bài giới thiệu Ngày Sách và văn hoá đọc Việt Nam 2026

    Hàn Phi Tử

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 11h:10' 07-05-2025
    Dung lượng: 2.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Hàn Phi Tử
    Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Lời mở đầu


    PHẦN I - Chương 1


    Chương 2


    PHẦN II - Chương 1


    Chương 2


    P3 - Chương 1


    Chương 2


    Chương 3


    Chương 4


    Chương 5


    Chương 6


    Chương 7


    Kết
    PHẦN IV
    PHẦN V
    THIÊN XLIX
    THIÊN XL
    THIÊN XLIII
    THIÊN VII
    THIÊN VI
    THIÊN XLVIII
    THIÊN XVIII
    THIÊN XLV
    THIÊN XLVI
    THIÊN XVII
    THIÊN IX
    THIÊN XIV
    https://thuviensach.vn

    THIÊN XIX
    THIÊN XLVII
    THIÊN XV
    THIÊN XXX
    THIÊN XXXI
    THIÊN XXXII
    THIÊN XXXIII


    THIÊN XXXIV


    THIÊN XXXV


    THIÊN XXXVI


    THIÊN XXXVII
    THIÊN XXXVIII


    THIÊN XXXIX
    THIÊN XXII
    THIÊN XXIII


    THIÊN XLI
    THIÊN XII
    THIÊN III
    THIÊN XI
    THIÊN XIII

    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
    Hàn Phi Tử
    Lời mở đầu
    Hàn Phi Tử là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các
    pháp gia (các nhà cho rằng trị nước, dùng pháp luật có hiệu quả hơn, là
    những người chủ trương pháp trị, trái với Khổng, Mặc chủ trương nhân trị)
    trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời Tống và tư tưởng của Hàn
    Phi, chúng tôi ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương diện xã
    hội, chính trị và học thuật, lược thuật tư tưởng và chính sách của các pháp
    gia trước Hàn Phi: Quản Trọng, Tử Sản, Lý Khôi, Ngô Khởi, Thân Bất
    Hại, Thận Đáo, Thương Uởng.

    Ba điểm chính trong học thuyết của Hàn là:

    - Trọng cái thế: Người cầm quyền không cần phải hiền và trí, mà cần có
    quyền thế và địa vị. Hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà
    quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền. Trọng thế thì tất nhiên
    trọng sự cưỡng chế: vua nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, và
    phải được tôn trọng triệt để, bắt chết thì phải chết.

    - Trọng pháp luật: Mà pháp luật phải hợp thời, dễ biết dễ thi hành, phải
    công bằng.

    - Trọng thuật trừ gian: Dùng người, điểm này rất quan trọng. Hàn đưa ra
    nhiều thuật tàn nhẫn rồi dùng nhiều cố sự để dẫn chứng, đại khái cũng như
    Kautilya ở Ấn Độ sau cuộc xâm lăng Ấn của Alexandre le Grand, một thế
    kỷ trước Hàn Phi; và như Machiavel, tác giả cuốn Le prince ở Ý cuối thế kỷ
    XV.

    Học thuyết của Hàn giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, nhưng
    từ đời Hán ảnh hưởng của Hàn giảm nhiều, ảnh hưởng của Khổng học lại
    mạnh lên.

    https://thuviensach.vn

    Từ năm 1977, được nhàn rỗi, tôi lại tiếp tục nghiên cứu hết các triết gia
    lớn đời Tiên Tần, để thực hiện xong chương trình tôi đã vạch từ sáu năm
    trước, và soạn thên năm cuốn nữa: Mặc Học, Lão Tử, Luận Ngữ, Khổng
    Tử, Kinh Dịch.


    (theo hồi ký Nguyễn Hiến Lê)


    *****

     

    Đây là 1 cuốn sách rất khó đánh, đặc biệt là những đoạn Hán Việt, nên các
    bạn đều đã phải bỏ nhiều công sức và sự kiên nhẫn vào đó.


    Rất mong website nào đăng lại cuốn Hàn Phi Tử nhớ kèm theo danh sách
    này


     Đặc biệt xin ghi nhận sự giúp đỡ của hai bạn cunhoi và heo_mapyeu, lúc
    nào cũng vui lòng nhận hết những phần việc khi thiếu người đánh. Cảm ơn
    tất cả các bạn.

    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
    Hàn Phi Tử
    PHẦN I - Chương 1
    THỜI XUÂN THU VÀ CHIẾN QUỐC

    TÌNH HÌNH XÃ HỘI
    Hàn Phi là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các Pháp
    gia trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời sống cùng tư tưởng của
    ông, chúng tôi nghĩ cần ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương
    diện xã hội, chính trị và học thuật. Có sách cho vua Văn Vương là người
    khai sáng nhà Chu; sự thực ông chỉ là một chư hầu (Tây Bá) có tài có đức
    dưới quyền vua Trụ nhà Thương (cũng gọi là nhà Ân). Chính con ông, Võ
    Vương, mới diệt Trụ mà lên ngôi, mở đầu cho nhà Chu (năm -1122)[1].

    Qua đời sau, con Võ Vương là Thành Vương còn nhỏ[2], Chu công tên là
    Đán, em Võ Vương (tức là chú của Thành Vương) làm chức Trủng Tể, coi
    việc nước, sửa sang lại chế độ, nhạc lễ, giáo hoá, làm cho nhà Chu cường
    thịnh, văn minh. Từ đó chế độ phong kiến lần lần thay chế độ thị tộc. Sử
    chép đầu đời Chu có tới 1600 chư hầu, chúng tôi nghĩ là những bộ lạc, chưa
    thật sự là chư hầu như giữa đời Tây Chu trở đi[3].

    Theo bộ Mạnh Tử (Vạn chương hạ - bài 2) đại khái chế độ phong kiến đời
    Chu như sau:

    Về tước vị các vua trong thiên hạ có 5 bậc: 1- Thiên Tử, 2- Công, 3- Hầu,
    4- Bá và 5 - Tử với Nam cùng bậc.

    Về phép phong đất thì có 5 hạng: 1- đất của Thiên Tử vuông vức một ngàn
    dặm; 2- đất của Công và Hầu vuông vức trăm dặm; 3- đất của Bá bảy chục
    dặm; 4- đất của Tử và Nam năm chục dặm.

    Binh lực cũng quy định tuỳ theo nước lớn nhỏ. Thời đó chỉ dùng chiến xa,
    chưa có bộ binh và kỵ binh. Mỗi chiến xa có 4 ngựa, một người đánh xe ở
    giữa, một quân bắn cung ở bên trái, và một quân cầm thương ở bên phải.
    Nước của Thiên Tử có vạn chiến xa, nước của Công Hầu có ngàn chiến xa,
    https://thuviensach.vn

    dưới nữa là trăm chiến xa.

    Chư hầu có bổn phận tuân lệnh, trung thành với thiên tử; ngược lại thiên tử
    có bổn phận che chở, giúp đỡ chư hầu. Đúng một kỳ hạn nào đó, các chư
    hầu phải tới triều cống thiên tử; và theo lệ, cứ năm năm một lần, thiên tử đi
    thăm khắp các chư hầu, xem xét chính tích của họ, tình hình trong xứ: đời
    sống của dân chúng, lễ nhạc, nhất là ca dao, vì nỗi vui buồn, lo lắng của
    dân hiện rõ trong ca dao hơn hết (kinh Thi sở dĩ được trọng ngang kinh
    Thư, kinh Lễ là vì vậy)


    Chế độ chia đất cày cho dân, chế độ "tỉnh điền" có lẽ xuất hiện từ đời
    Hạ[4], sang đời Chu được chỉnh đốn lại, mỗi miếng đất vuông vức 900 mẫu
    (mỗi mẫu theo Wieger, bằng khoảng 600 mét vuông) chia làm 9 phần bằng
    nhau như hình trên, mỗi phần 100 mẫu. Tám phần chung quanh chia đều
    cho 8 gia đình; phần ở giữa để lại một ít làm chỗ ở cho 8 gia đình, còn bao
    nhiêu 8 gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua. Hình miếng đất khi
    chia như vậy, giống chữ 井 nên gọi là phép tỉnh điền.

    Ngoài công việc canh nông đó ra, dân còn phải săn chồn, trồng dâu, nuôi
    tằm, dệt lụa để quý tộc may y phục.


    https://thuviensach.vn

    Ấy là chưa kể lâu lâu phải lại nhà quý tộc hầu hạ nữa. Đời họ vất vả thật,
    nhưng xã hội được tổ chức nên đời sống cũng được bảo đảm ít nhiều. Đất
    còn rộng, dân còn thưa, gặp những lãnh chúa tốt thì những năm không có
    chiến tranh và mưa gió thuận hoà, họ có thể đủ ăn, đủ mặc, sống vui vẻ.

    Chế độ phong kiến đó tập trung quyền hành trong tay quý tộc, làm cho
    hạng này được ăn sung mặc sướng, có thì giờ nhàn rỗi học hành, trau dồi
    văn thơ nghệ thuật, nhờ vậy mà văn minh Trung Hoa dưới đời Chu phát
    triển. Để được hưởng thụ, giới quý tộc thích sống ở thành thị hơn, và ở đâu
    họ cũng khuyến khích công nghệ, thương mại, do đó thành thị mọc nhiều
    và mau thịnh.

    Nhược điểm của chế độ đó là nền tảng không vững được lâu, phải dựa trên
    uy quyền của quý tộc. Uy quyền đó mà suy nhược, hoặc bọn cầm quyền mà
    tham nhũng, là nội loạn nổi lên liền: chư hầu không tuân lệnh thiên tử, dân
    không tuân lệnh các quan, kẻ mạnh hùng cứ một phương, thôn tính kẻ yếu
    ở chung quanh mà làm bá chủ. Số bộ lạc nhỏ cứ giảm dần từ 1600 xuống
    1000, 500, vài trăm, một trăm... mà các chư hầu hùng cường, đất đai mỗi
    ngày một rộng, dân chúng mỗi ngày một đông, gấp năm gấp mười của thiên
    tử.

    Nhà Chu chỉ thịnh trên một thế kỷ, từ đời Võ Vương đến hết đời Chiêu
    Vương. Qua đời Mục Vương ("trước Tây lịch" -1001 - 936) đã bắt đầu suy,
    tới đời U Vương (thế kỷ thứ 8 trước T.L.) thì triều đình loạn, U Vương bị
    rợ Khuyển Nhung giết; thái tử nối ngôi là Bình Vương, sợ các rợ phía Tây
    (Tây Nhung) lại uy hiếp nữa, phải dời đô qua Lạc Ấp (-700) ở phía đông,
    trong sử gọi là đời Đông Chu(-700 – 221). Từ đó vua Chu tuy vẫn còn giữ
    cái danh thiên tử, nhưng mất hết cả quyền hành, thường bị chư hầu lấn áp
    mà chế độ phong kiến lần lần lung lay.

    Trong Chiến Quốc sách, phần 1 trang 100 (Lá Bối 1973) chúng tôi đã nói
    rằng sự phân chia đời Đông Chu chia thành hai thời kỳ

    https://thuviensach.vn

    - Thời Xuân Thu (-700 - 403) từ đời Chu Bình Vương tới gần cuối đời Chu
    Uy Liệt Vương.

    - Thời Chiến Quốc (-403 - 221) từ gần cuối đời Uy Liệt Vương tới khi Tần
    diệt Tề và thống nhất Trung Quốc có một điểm gượng: năm -403 không
    đánh dấu một biến cố gì quan trọng đủ để mở đầu một thời đại, chỉ là năm
    ba đại phu nước Tấn: Hàn Kiều, Triệu Tích, Ngụy Tư được vua Chu phong
    hầu (do đó mà sau Tấn tách ra thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy), còn xã
    hội, lịch sử Trung Hoa vẫn biến chuyển liên tục, không bị gián đoạn, từ chế
    độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân tán tới
    tình trạng thống nhất. Tuy nhiên có điều này hiển nhiên là càng về sau xã
    hội càng loạn, biến cố càng dồn dập, và xét chung thì thời Chiến Quốc quả
    có nhiều điểm khác thời Xuân Thu.

    Về kinh tế, canh nông, phương pháp canh tác rất tiến bộ. Thời Ân người ta
    dùng lưỡi cày bằng gỗ, thời Tây Chu đã có lưỡi cày bằng đồng đỏ; cuối
    thời Xuân Thu ở Ngô và Việt, người ta đã tìm ra sắt. Sắt lúc đó gọi là "ác
    kim" (vàng, bạc, đồng là mỹ kim) và chỉ dùng chế tạo những đồ dùng tầm
    thường như lưỡi cày, lưỡi cuốc... Năm -513 vua Tấn bắt mỗi người dân
    phải nộp một ít sắt để đúc những đỉnh ghi hình luật. Cũng vào khoảng đó
    xuất hiện những truyền thuyết về hai thanh gươm Can Tương và Mạc Da,
    bén hơn những thanh gươm thường dùng nhiều, chỉ vì đúc bằng sắt và từ
    đó sắt mới được dùng làm binh khí. Có xưởng đúc phải dùng tới ba trăm
    người kéo bễ cho lò đủ nóng mà làm chảy được sắt. Tới thời Chiến Quốc,
    sắt đã thông dụng, và sách Mạnh Tử, Thiên Đằng Vân Công thượng, bài 4,
    chép một câu Mạnh Tử hỏi Trần Tương: "Hứa Tử có dùng nồi đồng, trách
    đất nấu ăn không, có dùng (lưỡi cày bằng) sắt mà cày không?" (Hứa Tử dĩ
    phủ tắng thoán, dĩ thiết canh hồ?).

    Nhớ lưỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, mà cày sâu hơn, nhanh
    hơn, đỡ tốn sức hơn. Người ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kinh dẫn
    nước. Nước chư hầu nào cũng muốn phú cường để thôn tính các nước bên
    cạnh, mà muốn phú cường thì trước hết phải khuếch trương canh nông,
    nghĩa là phải vừa cải tiến phương pháp canh tác vừa khuyến khích khai phá
    đất đai mới, vừa thay đổi cách đánh thuế.

    https://thuviensach.vn

    Sự khai phá đất đai mới có hiệu quả hơn hết mà cũng cấp thiết nhất vì dân
    số tăng lên khá mau (tổng số nhân khẩu thất quốc đời Đông Chu độ hai
    chục triệu, tới đầu kỷ nguyên Kitô, tăng lên sáu chục triệu) tới nỗi Mạnh Tử
    đã lo thiếu thực phẩm và nguyên liệu, nên phải khuyên các nhà cầm quyền
    cấm dân bủa lưới mắt nhỏ quá trong các bưng, hồ, cấm đốn cây phá rừng
    sái mùa, (Lương Huệ Vương - bài 3); và một trăm năm sau Hàn Phi đã phải
    phàn nàn dân số tăng lên quá mau, (theo cấp số nhân, chẳng hạn một người
    có 5 người con trai, mỗi người con trai lại có 5 người con trai nữa, thành
    thử chỉ trong hai thế hệ, khoảng bốn năm chục năm, một người thành ra hai
    mươi lăm người), thực phẩm mỗi ngày một khó kiếm.

    Muốn mở mang đất đai thì nên khuyến khích hoặc bắt buộc thanh niên
    thoát ly gia đình đi tìm đất mới, và đừng hạn chế số đất canh tác của mỗi
    gia đình. Vì vậy chế độ tỉnh điền không hợp thời nữa, dù Mạnh Tử bênh
    vực nó đến mấy thì nó cũng phải bỏ; mà sở dĩ ông hăng hái binh vực nó
    chính vì nó đã bị bỏ ở vài nước rồi. Theo Maspéro trong La Chine Antique
    (PUF -1965) thì Tấn là nước đầu tiên bỏ chính sách tỉnh điền từ thời Xuân
    Thu, trước thời Mạnh Tử một hai trăm năm. Sau Mạnh Tử, Tấn Hiến Công
    nghe lời khuyên của Thương Ưởng bỏ chính sách đó từ năm -350, cho dân
    được tự do khai hoang canh tác. Bỏ chính sách tỉnh điền thì đồng thời cũng
    bỏ luôn phép đánh thuế thời đó gọi là trợ (giúp): tám gia đình làm giúp một
    khoảng ruộng công ở giữa cho chủ điền (tức là cho chính phủ, cho quý tộc),
    mà thay bằng thứ thuế thường bằng một phần mười huê lợi,huê lợi có khi
    tính từng năm một, có khi lấy số trung bình của nhiều năm. Lối sau này bất
    lợi cho nông dân: năm được mùa, lúa thóc dư nhiều, chính phủ có thể thu
    nhiều mà lại thu ít, dân tiêu pha hết không chịu để dành; tới năm mất mùa,
    huê lợi chỉ đủ trả phí tổn canh tác thì chính phủ lại bắt nộp đủ số, dân đói
    phải vay nặng lãi của chủ điền, của con buôn, có kẻ trả nợ suốt đời không
    hết, như ở Ấn Độ gần đây. Gần thời Chiến Quốc, các ông vua chư hầu cần
    tiền mua khí giới, nuôi binh lính, đánh thuế rất nặng, có nơi bằng 50% huê
    lợi của dân, dân tình cực điêu đứng. Tuy nhiên chính sách đóng thuế vào
    huê lợi cũng có lợi cho nông dân về mặt khác: họ tương đối được tự do,
    độc lập hơn đối với chủ điền, không bị "cột" vào công điền nữa.

    https://thuviensach.vn

    Công nghệ đầu đời Chu còn thô sơ: dân chúng đa số chế tạo lấy đồ dùng
    trong nhà và đồ làm ruộng; một số nô lệ chuyên môn chế tạo khí giới và
    các đồ dùng đẹp và quý cho giai cấp quý tộc, làm việc trong các xưởng của
    quốc gia hoặc trong những gia đình lớn. Đọc tiểu thuyết của Gogol, Tolstoi,
    Tourgueniev, ta thấy thế kỷ XIX ở Nga có lối công nghệ đó, các đại điền
    chủ Nga có hàng ngàn, hàng vạn "linh hồn” (tức nông nô), và trong điền
    trang của họ, có hàng chục, hàng trăm nông nô đàn ông và đàn bà chuyên
    xây cất, đóng xe, dệt vải, chế tạo nông cụ và dụng cụ cho chủ. Rất ít khi
    điền chủ mua đồ đạc ở thị trấn - thường rất xa - chở về điền trang dùng.

    Tới thời Xuân Thu, công nghệ phát triển hơn, các đồ đồng bằng đồng đỏ,
    các đồ cẩn, khảm đã đạt được kỹ thuật cao, đồ bạc và bằng ngọc đã xuất
    hiện.

    Qua thời Chiến Quốc, thêm đồ sơn, đồ thuỷ tinh; kỹ thuật đồ gốm, kỹ thuật
    dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới bảy màu), rất tiến bộ và người ta
    đã tìm được những hợp kim để chế tạo những tấm gương soi mặt rất tốt.
    Ngoài ra, chính sách thực sản của Quản Trọng ở nước Tề (thời Xuân Thu) :
    khai mỏ, đúc tiền, nấu nước bể làm muối, lập kho lẫm... có nhiều kết quả,
    làm cho Tề phú cường, và qua thời Chiến Quốc, nước nào cũng chịu ảnh
    hưởng của Tề. Thương mại còn phát triển hơn công nghệ nữa. Nhũng nơi
    như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở
    Nguỵ đều là những thị trần thương mại rất đông dân và thịnh vượng.

    Sử còn chép tên những thương gia danh tiếng như Ý Đốn, người nước Lỗ,
    Đoan Mộc Tử (tức Tử Cống, một môn đệ của Khổng Tử), cả hai đều ở cuối
    đời Xuân Thu; qua thời Chiến Quốc có những phú thương rất có thế lực,
    giao thiệp với hạng vua chúa, có kẻ được giao phó chức tướng quốc nữa
    như Lã Bất Vi. Một người buôn súc vật ở Trịnh, tên là Huyền Cao, trong
    khi đem súc vật ra chợ bán, gặp một đạo quân của Tấn muốn xâm chiếm
    nước mình, bèn giả làm sứ giả của vua Trịnh, dâng đạo quân đó tiền bạc và
    súc vật để xin họ đừng tiến quân nữa; vậy mà họ tin, đủ biết bọn phú
    thương được trọng ra sao.

    Thương gia nổi tiếng nhất ở đầu thế kỷ thứ V là Phạm Lãi. Ông vốn là một
    trung thần của Việt Vương Câu Tiễn, giúp Câu Tiễn báo thù Ngô Vương
    https://thuviensach.vn

    Phù Sai; khi đã toại chí, ông không thích làm một quan lớn trong triều đình
    Việt, vì sợ luỵ đến thân, bỏ nước Việt, qua nước Đào, đổi tên là Đào Chu
    Công, kinh doanh buôn bán mà giàu lớn. Quy tắc làm giàu của ông là áp
    dụng luật cung cầu để biết lúc nào nên trữ hàng, lúc nào nên bán ra. Như
    năm hạn hán, thuyền rẻ, nên mua trữ để sang năm ngập lụt bán ra; trái lại
    năm ngập lụt nên mua trữ xe để năm hạn hán bán ra. Ông tính rằng trong
    12 năm thế nào cũng có một năm đói lớn, và trung bình cứ một năm được
    mùa, lại có một năm mất mùa. Ông còn bỏ vốn vào việc khai thác mỏ sắt
    và bất kỳ công việc nào có lợi, không bao giờ để tiền nằm yên trong nhà,
    mà cho nó lưu thông không ngừng, cho nên chỉ trong ít năm gây được một
    sản nghiệp vĩ đại. Thật là một chính trị gia kiêm một nhà kinh doanh đại tài
    của Trung Hoa thời Tiên Tần.

    Hạng con buôn nhỏ, chẳng cần mạo hiểm kinh doanh, cứ bỏ tiền cho vay
    lãi cũng đủ sung sướng, chẳng cần cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa mà cũng ăn
    ngon mặc đẹp; nông dân khi túng tiền, cần bán nông cụ cho họ, họ mua rẻ,
    bằng nửa giá; rồi tới ngày mùa, cần chuộc nông cụ về, họ bắt trả gấp đôi.

    Có lẽ chính vì bọn đó mà dân tộc Trung Hoa đặt giai cấp thương dân sau ba
    giai cấp sỹ, nông, công; chứ hạng đại kinh doanh như Phạm Lãi thì không
    bao giờ bị khinh, mà trái lại bọn quý tộc còn muốn làm quen với họ, mời họ
    "ngồi cùng xe" nữa.

    Về chính trị và xã hội, thời Chiến Quốc khác thời Xuân Thu cũng rõ rệt, có
    phần rõ rệt hơn về kinh tế nữa, vì kinh tế biến chuyển đều đều, còn chính trị
    có thể ở vài nước như Sở, Tần có những bước nhảy vọt.

    - Chế độ phong kiến suy vi. Trong Chiến Quốc sách (trang 10,11) chúng tôi
    đã viết: từ khi dời đô sang phía đông (Lạc Ấp), nhà Chu suy nhược lần lần,
    đất đai thì phải chia cắt để phong cho các chư hầu công khanh, nên mỗi
    ngày mỗi thu hẹp lại (hoá ra nghèo), chỉ còn trông cậy vào sự cống hiến của
    các chư hầu mà chư hầu như nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba
    lần: không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên tử, đôi khi còn phải giúp
    lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.

    Nhà Chu suy nhưng một số chư hầu mỗi ngày một mạnh vì chính trị tốt,
    kinh tế phát đạt như Tề, hoặc vì thôn tính được những nước nhỏ hơn, khai
    https://thuviensach.vn

    thác được những đất mới như Sở, Tần. Số chư hầu trước kia còn ngàn rưởi,
    tới thời Đông Chu (Xuân Thu) chỉ còn lại trên một trăm, qua thời Chiến
    Quốc, giảm xuống nữa, còn dưới một chục: Tề, Tần, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu,
    Yên; trong số thất hùng, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai đã rộng (nhất
    là Sở) mà tài nguyên lại nhiều. Gần cuối thời Chiến Quốc họ thành những
    quốc gia độc lập, không phục tùng nhà Chu nữa, không chịu xưng bá mà tự
    xưng vương (tức tự coi mình ngang với nhà Chu) như Tề, Ngụy năm -334,
    Tần năm -325, Hàn, Yên năm -323...; sau Tần Chiêu Tương vương còn tự
    xưng là đế (Tây Đế) - năm -228 - sai sứ lập vua Tề làm Đông Đế nữa,
    nghĩa là coi Trung Quốc không còn nhà Chu, chỉ còn Tần và Tề là đáng
    làm thiên tử của các chư hầu thôi, Tần làm chủ phương Tây, Tề làm chủ
    phương Đông. Họ thành những quốc gia độc lập.

    Trong quốc gia của họ, họ cũng bỏ chế độ phong kiến mà dùng chế độ quận
    huyện. Tấn là nước đầu tiên lập ra một huyện, huyện Khuê Trung thời
    Xuân Thu (cuối thế kỷ thứ VII), sau khi chiếm được một miền của một rợ
    về phía tây. Sau đó là các nước Sở, Tề, Ngô, nhưng những quận huyện thời
    đó vẫn còn có vài nét thái ấp, vì quyền cai trị vẫn còn cha truyền con nối.
    Qua thời Chiến Quốc, nhất là từ năm -350, Thương Ưởng làm tướng quốc
    ở Tần, chế độ quận huyện thực sự mới được phổ biến và mất hẳn tích cách
    thái ấp, nghĩa là viên quan cai trị do chính quyền trung ương bổ nhiệm, có
    thể bị thay thế bất kỳ lúc nào, y như một công chức thời nay. Đó là một tiến
    bộ lớn đưa tới chế độ quân chủ chuyên chế các đời sau này.

    - Mỗi khi một nước chư hầu bị thôn tính - mà suốt đời Xuân Thu và Chiến
    Quốc, có hàng trăm nước như vậy- thì một bọn quý tộc mất địa vị, tức như
    trường hợp Khổng Tử. Tổ tiên ông vốn người nước Tống. vì bị một quyền
    thừa áp bức, họ Khổng phải dời qua nước Lỗ, được năm đời thì sinh ra ông.
    Gia đình sa sút, mười tám tuổi chưa có một chức vụ gì cả, mười chín tuổi
    thành gia thất rồi mới nhận chức ủy lại, coi việc gạt thóc ở kho, sau làm tư
    chức lại (chức tư lại?), coi việc nuôi bò dê để dùng vào việc cúng tế, đều là
    những chức thấp nhất trong chính quyền. Mạnh Tử cũng giống ông, thuộc
    giòng dõi công tộc Mạnh Tôn ở nước Lỗ, nhưng đến đời ông cha đã sa sút,
    tuy là quý tộc mà sống như bình dân.

    https://thuviensach.vn

    Qua thời Chiến Quốc, một số vua chư hầu muốn tước quyền của bọn quý
    tộc, một mặt không phong thái ấp cho họ nữa, một mặt thâu tước lộc của
    con cháu những người đã được phong, như nước Sở dưới triều Điệu Vương
    đầu thế kỷ thứ IV, Ngô Khởi vạch cho Điệu Vương thấy cái hại của bọn đại
    thần được phong quá đông, khiến cho nước nghèo, binh yếu, nên khuyên
    Điệu Vương sau ba đời thì thâu tước lộc lại. Điệu Vương nghe theo, bỏ các
    chức quan không cần thiết, bớt lương bổng của một số khác, để lấy tiền
    nuôi chiến sỹ. Bọn quý tộc bất mãn, khi Điệu Vương chết, bèn hùa nhau
    hãm hại Ngô Khởi, giết và chặt chân tay Ngô Khởi. Giữa thế kỷ thứ IV,
    Tần còn làm mạnh hơn nữa, đặt ra bốn mươi mốt quận huyện trong khắp
    nước, hằng trăm gia đình quý tộc mất địa vị.

    Tóm lại thời Chiến Quốc, gia cấp quý tộc cũ lần lần tan rã, không nắm
    quyền hành nữa, và một giới hữu sản mới lên thay: họ là những người khai
    phá những đất mới, những thương nhân làm giàu rồi mua đất và thành
    những tân địa chủ, lối sống cũng như bọn quý tộc cũ, nhưng tư tưởng tiến
    bộ hơn, và một số có tài nhảy ra làm chính trị. Thời Xuân Thu đã có một số
    ít người trong giai cấp đó chiếm được những địa vị cao: như Bách Lý Hề,
    Quản Trọng, Ninh Thích..., nhưng thời Chiến Quốc mới thực là thời của họ
    tung hoành. Họ là những kẻ sỹ áo vải[5] giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh
    tế hay võ bị, làm quân sư hoặc tướng quốc cho các vua chúa. Họ là Tô Tần,
    Trương Nghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi, Lã Bất Vi, Lý
    Tư...

    Họ thông minh, có chí, quyết lập nên sự nghiệp, trau dồi kiến thức, tìm hiểu
    tình hình mỗi nước, rồi đi kiếm một ông vua để thờ. Họ phải chờ người giới
    thiệu hay đút lót mua chuộc bọn hầu cận nhà vua để xin đuợc tiếp kiến.
    Được tiếp kiến, họ phải dùng ba tất lưỡi để thuyết phục nhà vua - coi thiên
    Thuế nan (trong phần dịch ở sau), độc giả sẽ thấy thuật thuyết phục đó khó
    khăn và nguy hiểm ra sao. Khi thuyết phục được rồi, nghĩa là nhà vua chịu
    nghe theo kế hoạch của họ, tin dùng họ, thì một bước họ nhảy lên chức
    https://thuviensach.vn

    tướng quốc. Nhưng muốn giữ địa vị đó, họ phải đánh át ảnh hưởng của bọn
    "cha anh" nhà vua, tức bọn quý tộc cũ, bọn này vốn bảo thủ, muốn bám lấy
    quyền lợi, ghét mọi sự cải cách, ghen quyền hành của họ, nên nhiều khi làm
    cho họ mất mạng, như trường hợp Ngô Khởi, Thương Ưởng - coi thiên Cô
    phẫn trong phần dịch. Sự thăng tiến đó của kẻ sỹ là một nét đặc biệt trong
    thời Chiến Quốc.

    - Một nét đặc biệt nữa là thời Xuân Thu, các vua chúa còn trọng nhân
    nghĩa, vài ba ông còn dùng nhân nghĩa để trị dân; qua thời Chiến Quốc, họ
    chỉ dùng thuật. Như vậy một phần do xu thế của đương thời, một phần cũng
    do sự thúc đẩy của bọn sỹ kể trên.

    Ngươi ta thấy chính sách "nhân chính" dùng nhân nghĩa để trị dân của
    Nghiêu, Thuấn mà Khổng, Mạnh đề cao nếu không phải là vu khoát thì
    cũng chậm có kết quả, không thể thi hành được.

    Tới thời Mạnh Tử còn có một số vua chư hầu thích nghe thuyết nhân chính,
    như Tề Tuyên Vương, Lương Huệ Vương, nhưng họ chỉ nghe thôi, chứ
    không đủ kiên nhẫn để theo. Như Lương Huệ Vương phàn nàn với Mạnh
    Tử rằng đã hết lòng trị nước theo nhân nghĩa, cứu giúp dân nghèo mà sao
    kết quả không hơn gì các nước láng giềng, dân số vẫn không đông hơn các
    nước ấy. Mạnh Tử đem trận chiến ra giải thích, bảo:

    - "Quân hai bên giao chiến, mà quân của nhà vua thua, cởi bỏ áo giáp, kéo
    đao thương mà chạy, kẻ chạy trăm bước mà ngừng, kẻ năm chục bước rồi
    ngừng. Kẻ chạy năm chục bước có quyền chê kẻ chạy trăm bước không?"

    Huệ Vương không đáp, và Mạnh Tử kết luận:

    -"Vậy thì nhà vua cũng đừng nên mong nước nhà vua đông dân hơn các
    nước chung quanh".

    Nghĩa là chưa thấy kết quả chỉ tại chưa thi hành nhân nghĩa đến nơi đến
    chốn, còn phải kiên nhẫn nhiều, gắng sức nhiều nữa, mới bấy nhiêu tuy đã
    khá hơn các vua khác, nhưng chưa đủ.

    Ngay như Đằng Văn Công thành tâm tin thuyết nhân chính, gắng sức thi
    hành, nhưng bị Tề, Sở ép ở hai bên, lăm le thôn tính, nên luôn luôn lo sợ
    mất nước, mấy lần khẩn khoản xin Mạnh Tử chỉ cho cách đối phó. Mạnh
    Tử chẳng đưa ra kế hoạch nào hay cả, trước sau cũng chỉ khuyên ráng cùng
    https://thuviensach.vn

    với dân kháng chiến, kháng chiến không được thì bỏ nước mà đi. Lời đó
    càng làm Đằng Văn Công lo thêm. Bí quá Mạnh Tử đành phải bảo: "Nhà
    vua cứ làm điều thiện đi, đời sau sẽ có người lập được nghiệp vương mà
    thống trị thiên hạ". Thật là một lời vô trách nhiệm, nước sắp mất đây, dân
    sắp làm nô lệ đây, mạng mình không biết còn hay không đây, mà hy vọng ở
    đời sau!

    Không có lời nào tỏ được sự thất bại của chính sách nhân chính và tả được
    tâm trạng xót xa của các Nho gia thời Chiến Quốc bằng lời Mạnh Tử trách
    Tề Tuyên Vương dưới đây:

    "Có người hồi nhỏ học đạo (trị quốc) của thánh hiền, lớn lên mong thi hành
    sở học của mình. Nhưng nhà vua lại bảo: “Khoan, hãy để qua một bên sở
    học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã". Như vậy mới làm sao! Nay nhà
    vua có một hạt ngọc chưa mài, dù đáng vạn dật thì cũng giao cho thợ ngọc
    mài dũa. Đến việc trị nước thì nhà vua lại bảo: "Khoan, hãy để qua một bên
    sở học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã! Sao hành động lại khác khi giao
    ngọc cho thợ mài dũa?" (Lương Huệ Vương, hạ -9).

    Hành động phải khác chứ, sao lại không? Hạt ngọc đem mài dũa ngay thì
    nó đẹp lên ngay, chứ không hại gì cả. Còn dùng sở học của Mạnh Tử tức
    nhân chính, để trị nước Tề thì Tề đã không thể mạnh lên ngay được mà còn
    có thể bị Tần, Sở đánh bại nữa. Mạnh Tử có tật ví von, thành thử lý luận
    của ông nhiều khi bông lông, không thực tế.
    Thời Chiến Quốc là thời bảy người đuổi bắt một con hươu, kẻ nào mưu mô,
    nhanh chân khéo tay là được. Nhân nghĩa đôi khi cũng có ích đấy, nhung
    không đủ, phải làm sao cho nước mau giàu, mau mạnh, phải dùng thuật thuật hiểu theo hai nghĩa: kỹ thuật và tâm thuật (tức thủ đoạn). Cho nên bọn
    Ngô Khởi, Thương Ưởng, Tô Tần, Trương Nghi... tư cách kém xa Mạnh
    Tử, Tuân Tử mà được trọng dụng, làm cho Tần, Sở mau hùng cường.

    Trong khi Nho gia chỉ bàn về nhân nghĩa, chê kỹ thuật (Khổng tử chê một
    môn đồ là quê mùa vì hỏi ông về nghề nông), cho sự cải cách chế độ, kinh
    tế là tầm thường (Mạnh Tử chê sự nghiệp của Quản Trọng là thấp kém) thì
    bọn sỹ kia tìm cách cải thiện chính trị, canh nông, binh bị, dùng thuật ngoại
    giao làm hậu thuẫn, dùng thuật kiểm soát, điều khiển bề tôi để củng cố
    https://thuviensach.vn

    quân quyền, kết quả chỉ trong năm, mười năm là thấy rõ, nên ông vua nào
    mà chẳng tin họ?

    - Quan trọng nhất là sự cải thiện kỹ thuật chiến tranh. Thời Xuân Thu chiến
    tranh còn theo luật quân tử.

    Đọc Tam Quốc Chí chúng ta mỉm cười khi thấy hai bên dàn trận rồi, tướng
    bên này xông ra, múa giáo thách đố, có khi sỉ vả hoặc mỉa mai khuyên nhủ
    tướng bên kia; họ đối đáp với nhau một hồi rồi mới xáp lại đọ sức nhau,
    trong khi quân lính ở đàng sau ngó. Không biết thời Tam Quốc người ta
    đánh nhau như vậy có thật không, nhưng thời Xuân Thu thì chắc chắn như
    vậy, có khi người ta cực kỳ lễ độ với nhau là khác. Marcel Granet, tác giả
    cuốn La Civilisation chinoise (Albin Michel - Paris - 1948) trong một
    chương rất lý thú, chương La vie publique, cho ta biết thời Xuân Thu, trước
    khi lâm chiến, tướng hai bên phái sứ giả định giờ giao tranh. Khi ra trận,
    tướng hai bên đứng trên chiến xa cúi đầu ba lần để chào nhau; nếu tướng
    bên đây thấy tướng bên kia chức tước hoặc danh tiếng lớn hơn mình nhiều
    thì xuống xe, lột mũ trụ để chào nữa. Có khi họ còn trao đổi thức ăn và
    rượu với nhau. Một nhà quý tộc mà ra trận thì chỉ giết nhiều lắm là ba tên
    địch chứ không giết hơn. Có kẻ nhắm mắt mà bắn địch, nếu lỡ mà trúng thì
    là tại số phận của địch. Nực cười nhất là trong một cuộc giao chiến giữa
    Tấn và Sở, một chiến xa của Tấn sa lầy, tiến không được, tình cảnh nguy
    ngập, tướng Tấn loay hoay không biết làm sao. Tướng Sở đứng bên ngó,
    rồi chỉ cho cách gỡ bỏ bớt then ngang cùng cờ và khí giới đi, quân Tấn
    nghe theo thoát ra khỏi chỗ lầy được.

    Dĩ nhiên cũng có nhiều lúc họ hăng hái chém giết nhau, nhưng không bao
    giờ người ta muốn tận diệt quân địch, và có người không muốn thừa lúc
    địch chưa chuẩn bị kịp mà tấn công ngay, cho vậy là không quân tử. Chẳng
    hạn một lần Tống và Sở giao tranh ở Trác Cốc. Quân Sở đương qua sông.
    Quân Tống đòi thừa dịp tấn công ngay. Tống Tướng công không cho, bảo
    để địch qua sông đã. Khi quân Sở qua sông hết rồi, quân Tống lại xin tấn
    công. Tướng công cũng bảo: "Khoan, đợi chúng dàn trận xong đã". Sở dàn
    trận xong, đánh bại Tống, Tướng công bị thương, mà còn bảo:" Bậc quân
    tử không đánh quân địch khi họ ở trong bước cùng khốn". Truyện đó chép
    https://thuviensach.vn

    trong thiên XXXII sách Hàn Phi tử, sẽ dịch ở sau.

    Tấn Văn công đồng thời với Tống Tướng công (ông này mất năm -637 thì
    năm sau Văn công lên ngôi) cũng vì ham cái tiếng nhân nghĩa mà có một
    hành động mâu thuẫn: trong chiến tranh với Sở, Hồ Yển khuyên ông nên
    dùng mưu gạt Sở, còn Ung Quý khuyên ông đừng, kẻo mất chữ tín, trái
    đạo. Ông theo Hồ Yển, thắng Sở rồi thì thưởng công Ung Quý hậu hơn Hồ
    Yển, vì theo ông, Ung Quý biết "cái lợi muôn đời" còn Hồ Yển thì chỉ nghĩ
    đến cái lợi nhất thời mà thôi. (Hàn Phi chê thái độ đó trong thiên XXXVI coi phần dịch.)

    Chiến tranh thời Xuân Thu chắc chết ít người lắm.

    Nhưng qua thời Chiến Quốc thì khác hẳn. Mạnh Tử đã phải phàn nàn rằng
    các chư hầu đều "tranh thành dĩ chiến, tranh địa dĩ chiến", "sát nhân doanh
    dã, sát nhân doanh thành”. Hết cái luật quân tử, mà chỉ còn cái luật rừng rú:
    chém giết cho thật nhiều, để cướp bóc cho thật nhiều.

    Kỹ thuật chiến tranh, khí giới được cải thiện. Người ta dùng nỏ giương
    bằng chân, bắn được xa hơn, tương truyền là bắn được kẻ thù cách xa non
    một cây số.

    Kỵ binh xuất hiện; nhờ rút kinh nghiệm của Hung Nô, người ta vừa phi
    ngựa vừa bắn. Năm -307, Triệu Võ Linh vương có lẽ là ông vua đầu tiên ăn
    mặc như người Hồ, cưỡi ngựa bắn cung như người Hồ, nghĩa là dùng kỵ
    binh như người Hồ để chống lại họ. (coi Chiến Quốc sách - Triệu II.4 - Lá
    Bối - 1972). Bộ binh cũng xuất hiện và thành binh chủng quan trọng nhất.
    Có những đạo quân hàng trăm ngàn người. Ngay từ thế kỷ thứ IV, Tần là
    nước đầu tiên bắt buộc mọi người mạnh mẽ phải đi lính. Người ta chế
    những cái thang mây, những cái tháp để công phá thành địch; có những
    cuộc công phá kéo dài tới hai, ba năm. Người ta dùng thuật do thám, tuyên
    truyền, nghĩa là dùng cả chiến tranh tâm lý.

    Càng về cuối thời Chiến Quốc, chiến tranh càng tàn khốc; kinh tởm nhất là
    tướng Tần Bạch Khởi chôn sống bốn chục vạn quân Triệu đã đầu hàng
    (năm -260)

    - Do đó tình hình dân chúng thật điêu đứng. Già nửa dân phải đi lính, kẻ ở
    nhà phải nộp thuế có khi tới ba phần tư hoa lợi. Những năm được mùa, dân
    https://thuviensach.vn

    cũng không được hưởng vì triều đình thu hết lúa để nuôi lính; mà những
    năm mất mùa thì kẻ già, người bệnh chết hàng loạt trên đường, trong ruộng.

    Dù chiến tranh chấm dứt thì họa cũng kéo dài hàng chục năm, "vì tổn phí
    vào chiến tranh, mười năm thu lúa cũng chưa đủ bù. Quân đội mà chiến
    đấu xong thì mâu và kích gẫy, vòng và dây cung đứt, nỏ hao tổn, xe hư
    hỏng, ngựa mệt mỏi, tên mất đi già nửa, áo giáp cùng binh khí triều đình đã
    phát ra, kẻ sỹ và đại phu dấu đi một phần, sĩ tốt lấy trộm đi một phần, dù
    thu thuế ruộng mười năm cũng chưa đủ bù vào" (Chiến Quốc sách - Tề
    V.I). Ấy là chưa kể bao nhiêu người chết, bao nhiêu đất đai bị bỏ ho...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !