Bài giới thiệu Ngày Sách và văn hoá đọc Việt Nam 2026
Hàn Phi Tử

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 11h:10' 07-05-2025
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 11h:10' 07-05-2025
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Hàn Phi Tử
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời mở đầu
PHẦN I - Chương 1
Chương 2
PHẦN II - Chương 1
Chương 2
P3 - Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Kết
PHẦN IV
PHẦN V
THIÊN XLIX
THIÊN XL
THIÊN XLIII
THIÊN VII
THIÊN VI
THIÊN XLVIII
THIÊN XVIII
THIÊN XLV
THIÊN XLVI
THIÊN XVII
THIÊN IX
THIÊN XIV
https://thuviensach.vn
THIÊN XIX
THIÊN XLVII
THIÊN XV
THIÊN XXX
THIÊN XXXI
THIÊN XXXII
THIÊN XXXIII
THIÊN XXXIV
THIÊN XXXV
THIÊN XXXVI
THIÊN XXXVII
THIÊN XXXVIII
THIÊN XXXIX
THIÊN XXII
THIÊN XXIII
THIÊN XLI
THIÊN XII
THIÊN III
THIÊN XI
THIÊN XIII
https://thuviensach.vn
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
Lời mở đầu
Hàn Phi Tử là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các
pháp gia (các nhà cho rằng trị nước, dùng pháp luật có hiệu quả hơn, là
những người chủ trương pháp trị, trái với Khổng, Mặc chủ trương nhân trị)
trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời Tống và tư tưởng của Hàn
Phi, chúng tôi ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương diện xã
hội, chính trị và học thuật, lược thuật tư tưởng và chính sách của các pháp
gia trước Hàn Phi: Quản Trọng, Tử Sản, Lý Khôi, Ngô Khởi, Thân Bất
Hại, Thận Đáo, Thương Uởng.
Ba điểm chính trong học thuyết của Hàn là:
- Trọng cái thế: Người cầm quyền không cần phải hiền và trí, mà cần có
quyền thế và địa vị. Hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà
quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền. Trọng thế thì tất nhiên
trọng sự cưỡng chế: vua nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, và
phải được tôn trọng triệt để, bắt chết thì phải chết.
- Trọng pháp luật: Mà pháp luật phải hợp thời, dễ biết dễ thi hành, phải
công bằng.
- Trọng thuật trừ gian: Dùng người, điểm này rất quan trọng. Hàn đưa ra
nhiều thuật tàn nhẫn rồi dùng nhiều cố sự để dẫn chứng, đại khái cũng như
Kautilya ở Ấn Độ sau cuộc xâm lăng Ấn của Alexandre le Grand, một thế
kỷ trước Hàn Phi; và như Machiavel, tác giả cuốn Le prince ở Ý cuối thế kỷ
XV.
Học thuyết của Hàn giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, nhưng
từ đời Hán ảnh hưởng của Hàn giảm nhiều, ảnh hưởng của Khổng học lại
mạnh lên.
https://thuviensach.vn
Từ năm 1977, được nhàn rỗi, tôi lại tiếp tục nghiên cứu hết các triết gia
lớn đời Tiên Tần, để thực hiện xong chương trình tôi đã vạch từ sáu năm
trước, và soạn thên năm cuốn nữa: Mặc Học, Lão Tử, Luận Ngữ, Khổng
Tử, Kinh Dịch.
(theo hồi ký Nguyễn Hiến Lê)
*****
Đây là 1 cuốn sách rất khó đánh, đặc biệt là những đoạn Hán Việt, nên các
bạn đều đã phải bỏ nhiều công sức và sự kiên nhẫn vào đó.
Rất mong website nào đăng lại cuốn Hàn Phi Tử nhớ kèm theo danh sách
này
Đặc biệt xin ghi nhận sự giúp đỡ của hai bạn cunhoi và heo_mapyeu, lúc
nào cũng vui lòng nhận hết những phần việc khi thiếu người đánh. Cảm ơn
tất cả các bạn.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
PHẦN I - Chương 1
THỜI XUÂN THU VÀ CHIẾN QUỐC
TÌNH HÌNH XÃ HỘI
Hàn Phi là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các Pháp
gia trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời sống cùng tư tưởng của
ông, chúng tôi nghĩ cần ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương
diện xã hội, chính trị và học thuật. Có sách cho vua Văn Vương là người
khai sáng nhà Chu; sự thực ông chỉ là một chư hầu (Tây Bá) có tài có đức
dưới quyền vua Trụ nhà Thương (cũng gọi là nhà Ân). Chính con ông, Võ
Vương, mới diệt Trụ mà lên ngôi, mở đầu cho nhà Chu (năm -1122)[1].
Qua đời sau, con Võ Vương là Thành Vương còn nhỏ[2], Chu công tên là
Đán, em Võ Vương (tức là chú của Thành Vương) làm chức Trủng Tể, coi
việc nước, sửa sang lại chế độ, nhạc lễ, giáo hoá, làm cho nhà Chu cường
thịnh, văn minh. Từ đó chế độ phong kiến lần lần thay chế độ thị tộc. Sử
chép đầu đời Chu có tới 1600 chư hầu, chúng tôi nghĩ là những bộ lạc, chưa
thật sự là chư hầu như giữa đời Tây Chu trở đi[3].
Theo bộ Mạnh Tử (Vạn chương hạ - bài 2) đại khái chế độ phong kiến đời
Chu như sau:
Về tước vị các vua trong thiên hạ có 5 bậc: 1- Thiên Tử, 2- Công, 3- Hầu,
4- Bá và 5 - Tử với Nam cùng bậc.
Về phép phong đất thì có 5 hạng: 1- đất của Thiên Tử vuông vức một ngàn
dặm; 2- đất của Công và Hầu vuông vức trăm dặm; 3- đất của Bá bảy chục
dặm; 4- đất của Tử và Nam năm chục dặm.
Binh lực cũng quy định tuỳ theo nước lớn nhỏ. Thời đó chỉ dùng chiến xa,
chưa có bộ binh và kỵ binh. Mỗi chiến xa có 4 ngựa, một người đánh xe ở
giữa, một quân bắn cung ở bên trái, và một quân cầm thương ở bên phải.
Nước của Thiên Tử có vạn chiến xa, nước của Công Hầu có ngàn chiến xa,
https://thuviensach.vn
dưới nữa là trăm chiến xa.
Chư hầu có bổn phận tuân lệnh, trung thành với thiên tử; ngược lại thiên tử
có bổn phận che chở, giúp đỡ chư hầu. Đúng một kỳ hạn nào đó, các chư
hầu phải tới triều cống thiên tử; và theo lệ, cứ năm năm một lần, thiên tử đi
thăm khắp các chư hầu, xem xét chính tích của họ, tình hình trong xứ: đời
sống của dân chúng, lễ nhạc, nhất là ca dao, vì nỗi vui buồn, lo lắng của
dân hiện rõ trong ca dao hơn hết (kinh Thi sở dĩ được trọng ngang kinh
Thư, kinh Lễ là vì vậy)
Chế độ chia đất cày cho dân, chế độ "tỉnh điền" có lẽ xuất hiện từ đời
Hạ[4], sang đời Chu được chỉnh đốn lại, mỗi miếng đất vuông vức 900 mẫu
(mỗi mẫu theo Wieger, bằng khoảng 600 mét vuông) chia làm 9 phần bằng
nhau như hình trên, mỗi phần 100 mẫu. Tám phần chung quanh chia đều
cho 8 gia đình; phần ở giữa để lại một ít làm chỗ ở cho 8 gia đình, còn bao
nhiêu 8 gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua. Hình miếng đất khi
chia như vậy, giống chữ 井 nên gọi là phép tỉnh điền.
Ngoài công việc canh nông đó ra, dân còn phải săn chồn, trồng dâu, nuôi
tằm, dệt lụa để quý tộc may y phục.
https://thuviensach.vn
Ấy là chưa kể lâu lâu phải lại nhà quý tộc hầu hạ nữa. Đời họ vất vả thật,
nhưng xã hội được tổ chức nên đời sống cũng được bảo đảm ít nhiều. Đất
còn rộng, dân còn thưa, gặp những lãnh chúa tốt thì những năm không có
chiến tranh và mưa gió thuận hoà, họ có thể đủ ăn, đủ mặc, sống vui vẻ.
Chế độ phong kiến đó tập trung quyền hành trong tay quý tộc, làm cho
hạng này được ăn sung mặc sướng, có thì giờ nhàn rỗi học hành, trau dồi
văn thơ nghệ thuật, nhờ vậy mà văn minh Trung Hoa dưới đời Chu phát
triển. Để được hưởng thụ, giới quý tộc thích sống ở thành thị hơn, và ở đâu
họ cũng khuyến khích công nghệ, thương mại, do đó thành thị mọc nhiều
và mau thịnh.
Nhược điểm của chế độ đó là nền tảng không vững được lâu, phải dựa trên
uy quyền của quý tộc. Uy quyền đó mà suy nhược, hoặc bọn cầm quyền mà
tham nhũng, là nội loạn nổi lên liền: chư hầu không tuân lệnh thiên tử, dân
không tuân lệnh các quan, kẻ mạnh hùng cứ một phương, thôn tính kẻ yếu
ở chung quanh mà làm bá chủ. Số bộ lạc nhỏ cứ giảm dần từ 1600 xuống
1000, 500, vài trăm, một trăm... mà các chư hầu hùng cường, đất đai mỗi
ngày một rộng, dân chúng mỗi ngày một đông, gấp năm gấp mười của thiên
tử.
Nhà Chu chỉ thịnh trên một thế kỷ, từ đời Võ Vương đến hết đời Chiêu
Vương. Qua đời Mục Vương ("trước Tây lịch" -1001 - 936) đã bắt đầu suy,
tới đời U Vương (thế kỷ thứ 8 trước T.L.) thì triều đình loạn, U Vương bị
rợ Khuyển Nhung giết; thái tử nối ngôi là Bình Vương, sợ các rợ phía Tây
(Tây Nhung) lại uy hiếp nữa, phải dời đô qua Lạc Ấp (-700) ở phía đông,
trong sử gọi là đời Đông Chu(-700 – 221). Từ đó vua Chu tuy vẫn còn giữ
cái danh thiên tử, nhưng mất hết cả quyền hành, thường bị chư hầu lấn áp
mà chế độ phong kiến lần lần lung lay.
Trong Chiến Quốc sách, phần 1 trang 100 (Lá Bối 1973) chúng tôi đã nói
rằng sự phân chia đời Đông Chu chia thành hai thời kỳ
https://thuviensach.vn
- Thời Xuân Thu (-700 - 403) từ đời Chu Bình Vương tới gần cuối đời Chu
Uy Liệt Vương.
- Thời Chiến Quốc (-403 - 221) từ gần cuối đời Uy Liệt Vương tới khi Tần
diệt Tề và thống nhất Trung Quốc có một điểm gượng: năm -403 không
đánh dấu một biến cố gì quan trọng đủ để mở đầu một thời đại, chỉ là năm
ba đại phu nước Tấn: Hàn Kiều, Triệu Tích, Ngụy Tư được vua Chu phong
hầu (do đó mà sau Tấn tách ra thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy), còn xã
hội, lịch sử Trung Hoa vẫn biến chuyển liên tục, không bị gián đoạn, từ chế
độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân tán tới
tình trạng thống nhất. Tuy nhiên có điều này hiển nhiên là càng về sau xã
hội càng loạn, biến cố càng dồn dập, và xét chung thì thời Chiến Quốc quả
có nhiều điểm khác thời Xuân Thu.
Về kinh tế, canh nông, phương pháp canh tác rất tiến bộ. Thời Ân người ta
dùng lưỡi cày bằng gỗ, thời Tây Chu đã có lưỡi cày bằng đồng đỏ; cuối
thời Xuân Thu ở Ngô và Việt, người ta đã tìm ra sắt. Sắt lúc đó gọi là "ác
kim" (vàng, bạc, đồng là mỹ kim) và chỉ dùng chế tạo những đồ dùng tầm
thường như lưỡi cày, lưỡi cuốc... Năm -513 vua Tấn bắt mỗi người dân
phải nộp một ít sắt để đúc những đỉnh ghi hình luật. Cũng vào khoảng đó
xuất hiện những truyền thuyết về hai thanh gươm Can Tương và Mạc Da,
bén hơn những thanh gươm thường dùng nhiều, chỉ vì đúc bằng sắt và từ
đó sắt mới được dùng làm binh khí. Có xưởng đúc phải dùng tới ba trăm
người kéo bễ cho lò đủ nóng mà làm chảy được sắt. Tới thời Chiến Quốc,
sắt đã thông dụng, và sách Mạnh Tử, Thiên Đằng Vân Công thượng, bài 4,
chép một câu Mạnh Tử hỏi Trần Tương: "Hứa Tử có dùng nồi đồng, trách
đất nấu ăn không, có dùng (lưỡi cày bằng) sắt mà cày không?" (Hứa Tử dĩ
phủ tắng thoán, dĩ thiết canh hồ?).
Nhớ lưỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, mà cày sâu hơn, nhanh
hơn, đỡ tốn sức hơn. Người ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kinh dẫn
nước. Nước chư hầu nào cũng muốn phú cường để thôn tính các nước bên
cạnh, mà muốn phú cường thì trước hết phải khuếch trương canh nông,
nghĩa là phải vừa cải tiến phương pháp canh tác vừa khuyến khích khai phá
đất đai mới, vừa thay đổi cách đánh thuế.
https://thuviensach.vn
Sự khai phá đất đai mới có hiệu quả hơn hết mà cũng cấp thiết nhất vì dân
số tăng lên khá mau (tổng số nhân khẩu thất quốc đời Đông Chu độ hai
chục triệu, tới đầu kỷ nguyên Kitô, tăng lên sáu chục triệu) tới nỗi Mạnh Tử
đã lo thiếu thực phẩm và nguyên liệu, nên phải khuyên các nhà cầm quyền
cấm dân bủa lưới mắt nhỏ quá trong các bưng, hồ, cấm đốn cây phá rừng
sái mùa, (Lương Huệ Vương - bài 3); và một trăm năm sau Hàn Phi đã phải
phàn nàn dân số tăng lên quá mau, (theo cấp số nhân, chẳng hạn một người
có 5 người con trai, mỗi người con trai lại có 5 người con trai nữa, thành
thử chỉ trong hai thế hệ, khoảng bốn năm chục năm, một người thành ra hai
mươi lăm người), thực phẩm mỗi ngày một khó kiếm.
Muốn mở mang đất đai thì nên khuyến khích hoặc bắt buộc thanh niên
thoát ly gia đình đi tìm đất mới, và đừng hạn chế số đất canh tác của mỗi
gia đình. Vì vậy chế độ tỉnh điền không hợp thời nữa, dù Mạnh Tử bênh
vực nó đến mấy thì nó cũng phải bỏ; mà sở dĩ ông hăng hái binh vực nó
chính vì nó đã bị bỏ ở vài nước rồi. Theo Maspéro trong La Chine Antique
(PUF -1965) thì Tấn là nước đầu tiên bỏ chính sách tỉnh điền từ thời Xuân
Thu, trước thời Mạnh Tử một hai trăm năm. Sau Mạnh Tử, Tấn Hiến Công
nghe lời khuyên của Thương Ưởng bỏ chính sách đó từ năm -350, cho dân
được tự do khai hoang canh tác. Bỏ chính sách tỉnh điền thì đồng thời cũng
bỏ luôn phép đánh thuế thời đó gọi là trợ (giúp): tám gia đình làm giúp một
khoảng ruộng công ở giữa cho chủ điền (tức là cho chính phủ, cho quý tộc),
mà thay bằng thứ thuế thường bằng một phần mười huê lợi,huê lợi có khi
tính từng năm một, có khi lấy số trung bình của nhiều năm. Lối sau này bất
lợi cho nông dân: năm được mùa, lúa thóc dư nhiều, chính phủ có thể thu
nhiều mà lại thu ít, dân tiêu pha hết không chịu để dành; tới năm mất mùa,
huê lợi chỉ đủ trả phí tổn canh tác thì chính phủ lại bắt nộp đủ số, dân đói
phải vay nặng lãi của chủ điền, của con buôn, có kẻ trả nợ suốt đời không
hết, như ở Ấn Độ gần đây. Gần thời Chiến Quốc, các ông vua chư hầu cần
tiền mua khí giới, nuôi binh lính, đánh thuế rất nặng, có nơi bằng 50% huê
lợi của dân, dân tình cực điêu đứng. Tuy nhiên chính sách đóng thuế vào
huê lợi cũng có lợi cho nông dân về mặt khác: họ tương đối được tự do,
độc lập hơn đối với chủ điền, không bị "cột" vào công điền nữa.
https://thuviensach.vn
Công nghệ đầu đời Chu còn thô sơ: dân chúng đa số chế tạo lấy đồ dùng
trong nhà và đồ làm ruộng; một số nô lệ chuyên môn chế tạo khí giới và
các đồ dùng đẹp và quý cho giai cấp quý tộc, làm việc trong các xưởng của
quốc gia hoặc trong những gia đình lớn. Đọc tiểu thuyết của Gogol, Tolstoi,
Tourgueniev, ta thấy thế kỷ XIX ở Nga có lối công nghệ đó, các đại điền
chủ Nga có hàng ngàn, hàng vạn "linh hồn” (tức nông nô), và trong điền
trang của họ, có hàng chục, hàng trăm nông nô đàn ông và đàn bà chuyên
xây cất, đóng xe, dệt vải, chế tạo nông cụ và dụng cụ cho chủ. Rất ít khi
điền chủ mua đồ đạc ở thị trấn - thường rất xa - chở về điền trang dùng.
Tới thời Xuân Thu, công nghệ phát triển hơn, các đồ đồng bằng đồng đỏ,
các đồ cẩn, khảm đã đạt được kỹ thuật cao, đồ bạc và bằng ngọc đã xuất
hiện.
Qua thời Chiến Quốc, thêm đồ sơn, đồ thuỷ tinh; kỹ thuật đồ gốm, kỹ thuật
dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới bảy màu), rất tiến bộ và người ta
đã tìm được những hợp kim để chế tạo những tấm gương soi mặt rất tốt.
Ngoài ra, chính sách thực sản của Quản Trọng ở nước Tề (thời Xuân Thu) :
khai mỏ, đúc tiền, nấu nước bể làm muối, lập kho lẫm... có nhiều kết quả,
làm cho Tề phú cường, và qua thời Chiến Quốc, nước nào cũng chịu ảnh
hưởng của Tề. Thương mại còn phát triển hơn công nghệ nữa. Nhũng nơi
như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở
Nguỵ đều là những thị trần thương mại rất đông dân và thịnh vượng.
Sử còn chép tên những thương gia danh tiếng như Ý Đốn, người nước Lỗ,
Đoan Mộc Tử (tức Tử Cống, một môn đệ của Khổng Tử), cả hai đều ở cuối
đời Xuân Thu; qua thời Chiến Quốc có những phú thương rất có thế lực,
giao thiệp với hạng vua chúa, có kẻ được giao phó chức tướng quốc nữa
như Lã Bất Vi. Một người buôn súc vật ở Trịnh, tên là Huyền Cao, trong
khi đem súc vật ra chợ bán, gặp một đạo quân của Tấn muốn xâm chiếm
nước mình, bèn giả làm sứ giả của vua Trịnh, dâng đạo quân đó tiền bạc và
súc vật để xin họ đừng tiến quân nữa; vậy mà họ tin, đủ biết bọn phú
thương được trọng ra sao.
Thương gia nổi tiếng nhất ở đầu thế kỷ thứ V là Phạm Lãi. Ông vốn là một
trung thần của Việt Vương Câu Tiễn, giúp Câu Tiễn báo thù Ngô Vương
https://thuviensach.vn
Phù Sai; khi đã toại chí, ông không thích làm một quan lớn trong triều đình
Việt, vì sợ luỵ đến thân, bỏ nước Việt, qua nước Đào, đổi tên là Đào Chu
Công, kinh doanh buôn bán mà giàu lớn. Quy tắc làm giàu của ông là áp
dụng luật cung cầu để biết lúc nào nên trữ hàng, lúc nào nên bán ra. Như
năm hạn hán, thuyền rẻ, nên mua trữ để sang năm ngập lụt bán ra; trái lại
năm ngập lụt nên mua trữ xe để năm hạn hán bán ra. Ông tính rằng trong
12 năm thế nào cũng có một năm đói lớn, và trung bình cứ một năm được
mùa, lại có một năm mất mùa. Ông còn bỏ vốn vào việc khai thác mỏ sắt
và bất kỳ công việc nào có lợi, không bao giờ để tiền nằm yên trong nhà,
mà cho nó lưu thông không ngừng, cho nên chỉ trong ít năm gây được một
sản nghiệp vĩ đại. Thật là một chính trị gia kiêm một nhà kinh doanh đại tài
của Trung Hoa thời Tiên Tần.
Hạng con buôn nhỏ, chẳng cần mạo hiểm kinh doanh, cứ bỏ tiền cho vay
lãi cũng đủ sung sướng, chẳng cần cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa mà cũng ăn
ngon mặc đẹp; nông dân khi túng tiền, cần bán nông cụ cho họ, họ mua rẻ,
bằng nửa giá; rồi tới ngày mùa, cần chuộc nông cụ về, họ bắt trả gấp đôi.
Có lẽ chính vì bọn đó mà dân tộc Trung Hoa đặt giai cấp thương dân sau ba
giai cấp sỹ, nông, công; chứ hạng đại kinh doanh như Phạm Lãi thì không
bao giờ bị khinh, mà trái lại bọn quý tộc còn muốn làm quen với họ, mời họ
"ngồi cùng xe" nữa.
Về chính trị và xã hội, thời Chiến Quốc khác thời Xuân Thu cũng rõ rệt, có
phần rõ rệt hơn về kinh tế nữa, vì kinh tế biến chuyển đều đều, còn chính trị
có thể ở vài nước như Sở, Tần có những bước nhảy vọt.
- Chế độ phong kiến suy vi. Trong Chiến Quốc sách (trang 10,11) chúng tôi
đã viết: từ khi dời đô sang phía đông (Lạc Ấp), nhà Chu suy nhược lần lần,
đất đai thì phải chia cắt để phong cho các chư hầu công khanh, nên mỗi
ngày mỗi thu hẹp lại (hoá ra nghèo), chỉ còn trông cậy vào sự cống hiến của
các chư hầu mà chư hầu như nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba
lần: không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên tử, đôi khi còn phải giúp
lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.
Nhà Chu suy nhưng một số chư hầu mỗi ngày một mạnh vì chính trị tốt,
kinh tế phát đạt như Tề, hoặc vì thôn tính được những nước nhỏ hơn, khai
https://thuviensach.vn
thác được những đất mới như Sở, Tần. Số chư hầu trước kia còn ngàn rưởi,
tới thời Đông Chu (Xuân Thu) chỉ còn lại trên một trăm, qua thời Chiến
Quốc, giảm xuống nữa, còn dưới một chục: Tề, Tần, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu,
Yên; trong số thất hùng, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai đã rộng (nhất
là Sở) mà tài nguyên lại nhiều. Gần cuối thời Chiến Quốc họ thành những
quốc gia độc lập, không phục tùng nhà Chu nữa, không chịu xưng bá mà tự
xưng vương (tức tự coi mình ngang với nhà Chu) như Tề, Ngụy năm -334,
Tần năm -325, Hàn, Yên năm -323...; sau Tần Chiêu Tương vương còn tự
xưng là đế (Tây Đế) - năm -228 - sai sứ lập vua Tề làm Đông Đế nữa,
nghĩa là coi Trung Quốc không còn nhà Chu, chỉ còn Tần và Tề là đáng
làm thiên tử của các chư hầu thôi, Tần làm chủ phương Tây, Tề làm chủ
phương Đông. Họ thành những quốc gia độc lập.
Trong quốc gia của họ, họ cũng bỏ chế độ phong kiến mà dùng chế độ quận
huyện. Tấn là nước đầu tiên lập ra một huyện, huyện Khuê Trung thời
Xuân Thu (cuối thế kỷ thứ VII), sau khi chiếm được một miền của một rợ
về phía tây. Sau đó là các nước Sở, Tề, Ngô, nhưng những quận huyện thời
đó vẫn còn có vài nét thái ấp, vì quyền cai trị vẫn còn cha truyền con nối.
Qua thời Chiến Quốc, nhất là từ năm -350, Thương Ưởng làm tướng quốc
ở Tần, chế độ quận huyện thực sự mới được phổ biến và mất hẳn tích cách
thái ấp, nghĩa là viên quan cai trị do chính quyền trung ương bổ nhiệm, có
thể bị thay thế bất kỳ lúc nào, y như một công chức thời nay. Đó là một tiến
bộ lớn đưa tới chế độ quân chủ chuyên chế các đời sau này.
- Mỗi khi một nước chư hầu bị thôn tính - mà suốt đời Xuân Thu và Chiến
Quốc, có hàng trăm nước như vậy- thì một bọn quý tộc mất địa vị, tức như
trường hợp Khổng Tử. Tổ tiên ông vốn người nước Tống. vì bị một quyền
thừa áp bức, họ Khổng phải dời qua nước Lỗ, được năm đời thì sinh ra ông.
Gia đình sa sút, mười tám tuổi chưa có một chức vụ gì cả, mười chín tuổi
thành gia thất rồi mới nhận chức ủy lại, coi việc gạt thóc ở kho, sau làm tư
chức lại (chức tư lại?), coi việc nuôi bò dê để dùng vào việc cúng tế, đều là
những chức thấp nhất trong chính quyền. Mạnh Tử cũng giống ông, thuộc
giòng dõi công tộc Mạnh Tôn ở nước Lỗ, nhưng đến đời ông cha đã sa sút,
tuy là quý tộc mà sống như bình dân.
https://thuviensach.vn
Qua thời Chiến Quốc, một số vua chư hầu muốn tước quyền của bọn quý
tộc, một mặt không phong thái ấp cho họ nữa, một mặt thâu tước lộc của
con cháu những người đã được phong, như nước Sở dưới triều Điệu Vương
đầu thế kỷ thứ IV, Ngô Khởi vạch cho Điệu Vương thấy cái hại của bọn đại
thần được phong quá đông, khiến cho nước nghèo, binh yếu, nên khuyên
Điệu Vương sau ba đời thì thâu tước lộc lại. Điệu Vương nghe theo, bỏ các
chức quan không cần thiết, bớt lương bổng của một số khác, để lấy tiền
nuôi chiến sỹ. Bọn quý tộc bất mãn, khi Điệu Vương chết, bèn hùa nhau
hãm hại Ngô Khởi, giết và chặt chân tay Ngô Khởi. Giữa thế kỷ thứ IV,
Tần còn làm mạnh hơn nữa, đặt ra bốn mươi mốt quận huyện trong khắp
nước, hằng trăm gia đình quý tộc mất địa vị.
Tóm lại thời Chiến Quốc, gia cấp quý tộc cũ lần lần tan rã, không nắm
quyền hành nữa, và một giới hữu sản mới lên thay: họ là những người khai
phá những đất mới, những thương nhân làm giàu rồi mua đất và thành
những tân địa chủ, lối sống cũng như bọn quý tộc cũ, nhưng tư tưởng tiến
bộ hơn, và một số có tài nhảy ra làm chính trị. Thời Xuân Thu đã có một số
ít người trong giai cấp đó chiếm được những địa vị cao: như Bách Lý Hề,
Quản Trọng, Ninh Thích..., nhưng thời Chiến Quốc mới thực là thời của họ
tung hoành. Họ là những kẻ sỹ áo vải[5] giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh
tế hay võ bị, làm quân sư hoặc tướng quốc cho các vua chúa. Họ là Tô Tần,
Trương Nghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi, Lã Bất Vi, Lý
Tư...
Họ thông minh, có chí, quyết lập nên sự nghiệp, trau dồi kiến thức, tìm hiểu
tình hình mỗi nước, rồi đi kiếm một ông vua để thờ. Họ phải chờ người giới
thiệu hay đút lót mua chuộc bọn hầu cận nhà vua để xin đuợc tiếp kiến.
Được tiếp kiến, họ phải dùng ba tất lưỡi để thuyết phục nhà vua - coi thiên
Thuế nan (trong phần dịch ở sau), độc giả sẽ thấy thuật thuyết phục đó khó
khăn và nguy hiểm ra sao. Khi thuyết phục được rồi, nghĩa là nhà vua chịu
nghe theo kế hoạch của họ, tin dùng họ, thì một bước họ nhảy lên chức
https://thuviensach.vn
tướng quốc. Nhưng muốn giữ địa vị đó, họ phải đánh át ảnh hưởng của bọn
"cha anh" nhà vua, tức bọn quý tộc cũ, bọn này vốn bảo thủ, muốn bám lấy
quyền lợi, ghét mọi sự cải cách, ghen quyền hành của họ, nên nhiều khi làm
cho họ mất mạng, như trường hợp Ngô Khởi, Thương Ưởng - coi thiên Cô
phẫn trong phần dịch. Sự thăng tiến đó của kẻ sỹ là một nét đặc biệt trong
thời Chiến Quốc.
- Một nét đặc biệt nữa là thời Xuân Thu, các vua chúa còn trọng nhân
nghĩa, vài ba ông còn dùng nhân nghĩa để trị dân; qua thời Chiến Quốc, họ
chỉ dùng thuật. Như vậy một phần do xu thế của đương thời, một phần cũng
do sự thúc đẩy của bọn sỹ kể trên.
Ngươi ta thấy chính sách "nhân chính" dùng nhân nghĩa để trị dân của
Nghiêu, Thuấn mà Khổng, Mạnh đề cao nếu không phải là vu khoát thì
cũng chậm có kết quả, không thể thi hành được.
Tới thời Mạnh Tử còn có một số vua chư hầu thích nghe thuyết nhân chính,
như Tề Tuyên Vương, Lương Huệ Vương, nhưng họ chỉ nghe thôi, chứ
không đủ kiên nhẫn để theo. Như Lương Huệ Vương phàn nàn với Mạnh
Tử rằng đã hết lòng trị nước theo nhân nghĩa, cứu giúp dân nghèo mà sao
kết quả không hơn gì các nước láng giềng, dân số vẫn không đông hơn các
nước ấy. Mạnh Tử đem trận chiến ra giải thích, bảo:
- "Quân hai bên giao chiến, mà quân của nhà vua thua, cởi bỏ áo giáp, kéo
đao thương mà chạy, kẻ chạy trăm bước mà ngừng, kẻ năm chục bước rồi
ngừng. Kẻ chạy năm chục bước có quyền chê kẻ chạy trăm bước không?"
Huệ Vương không đáp, và Mạnh Tử kết luận:
-"Vậy thì nhà vua cũng đừng nên mong nước nhà vua đông dân hơn các
nước chung quanh".
Nghĩa là chưa thấy kết quả chỉ tại chưa thi hành nhân nghĩa đến nơi đến
chốn, còn phải kiên nhẫn nhiều, gắng sức nhiều nữa, mới bấy nhiêu tuy đã
khá hơn các vua khác, nhưng chưa đủ.
Ngay như Đằng Văn Công thành tâm tin thuyết nhân chính, gắng sức thi
hành, nhưng bị Tề, Sở ép ở hai bên, lăm le thôn tính, nên luôn luôn lo sợ
mất nước, mấy lần khẩn khoản xin Mạnh Tử chỉ cho cách đối phó. Mạnh
Tử chẳng đưa ra kế hoạch nào hay cả, trước sau cũng chỉ khuyên ráng cùng
https://thuviensach.vn
với dân kháng chiến, kháng chiến không được thì bỏ nước mà đi. Lời đó
càng làm Đằng Văn Công lo thêm. Bí quá Mạnh Tử đành phải bảo: "Nhà
vua cứ làm điều thiện đi, đời sau sẽ có người lập được nghiệp vương mà
thống trị thiên hạ". Thật là một lời vô trách nhiệm, nước sắp mất đây, dân
sắp làm nô lệ đây, mạng mình không biết còn hay không đây, mà hy vọng ở
đời sau!
Không có lời nào tỏ được sự thất bại của chính sách nhân chính và tả được
tâm trạng xót xa của các Nho gia thời Chiến Quốc bằng lời Mạnh Tử trách
Tề Tuyên Vương dưới đây:
"Có người hồi nhỏ học đạo (trị quốc) của thánh hiền, lớn lên mong thi hành
sở học của mình. Nhưng nhà vua lại bảo: “Khoan, hãy để qua một bên sở
học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã". Như vậy mới làm sao! Nay nhà
vua có một hạt ngọc chưa mài, dù đáng vạn dật thì cũng giao cho thợ ngọc
mài dũa. Đến việc trị nước thì nhà vua lại bảo: "Khoan, hãy để qua một bên
sở học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã! Sao hành động lại khác khi giao
ngọc cho thợ mài dũa?" (Lương Huệ Vương, hạ -9).
Hành động phải khác chứ, sao lại không? Hạt ngọc đem mài dũa ngay thì
nó đẹp lên ngay, chứ không hại gì cả. Còn dùng sở học của Mạnh Tử tức
nhân chính, để trị nước Tề thì Tề đã không thể mạnh lên ngay được mà còn
có thể bị Tần, Sở đánh bại nữa. Mạnh Tử có tật ví von, thành thử lý luận
của ông nhiều khi bông lông, không thực tế.
Thời Chiến Quốc là thời bảy người đuổi bắt một con hươu, kẻ nào mưu mô,
nhanh chân khéo tay là được. Nhân nghĩa đôi khi cũng có ích đấy, nhung
không đủ, phải làm sao cho nước mau giàu, mau mạnh, phải dùng thuật thuật hiểu theo hai nghĩa: kỹ thuật và tâm thuật (tức thủ đoạn). Cho nên bọn
Ngô Khởi, Thương Ưởng, Tô Tần, Trương Nghi... tư cách kém xa Mạnh
Tử, Tuân Tử mà được trọng dụng, làm cho Tần, Sở mau hùng cường.
Trong khi Nho gia chỉ bàn về nhân nghĩa, chê kỹ thuật (Khổng tử chê một
môn đồ là quê mùa vì hỏi ông về nghề nông), cho sự cải cách chế độ, kinh
tế là tầm thường (Mạnh Tử chê sự nghiệp của Quản Trọng là thấp kém) thì
bọn sỹ kia tìm cách cải thiện chính trị, canh nông, binh bị, dùng thuật ngoại
giao làm hậu thuẫn, dùng thuật kiểm soát, điều khiển bề tôi để củng cố
https://thuviensach.vn
quân quyền, kết quả chỉ trong năm, mười năm là thấy rõ, nên ông vua nào
mà chẳng tin họ?
- Quan trọng nhất là sự cải thiện kỹ thuật chiến tranh. Thời Xuân Thu chiến
tranh còn theo luật quân tử.
Đọc Tam Quốc Chí chúng ta mỉm cười khi thấy hai bên dàn trận rồi, tướng
bên này xông ra, múa giáo thách đố, có khi sỉ vả hoặc mỉa mai khuyên nhủ
tướng bên kia; họ đối đáp với nhau một hồi rồi mới xáp lại đọ sức nhau,
trong khi quân lính ở đàng sau ngó. Không biết thời Tam Quốc người ta
đánh nhau như vậy có thật không, nhưng thời Xuân Thu thì chắc chắn như
vậy, có khi người ta cực kỳ lễ độ với nhau là khác. Marcel Granet, tác giả
cuốn La Civilisation chinoise (Albin Michel - Paris - 1948) trong một
chương rất lý thú, chương La vie publique, cho ta biết thời Xuân Thu, trước
khi lâm chiến, tướng hai bên phái sứ giả định giờ giao tranh. Khi ra trận,
tướng hai bên đứng trên chiến xa cúi đầu ba lần để chào nhau; nếu tướng
bên đây thấy tướng bên kia chức tước hoặc danh tiếng lớn hơn mình nhiều
thì xuống xe, lột mũ trụ để chào nữa. Có khi họ còn trao đổi thức ăn và
rượu với nhau. Một nhà quý tộc mà ra trận thì chỉ giết nhiều lắm là ba tên
địch chứ không giết hơn. Có kẻ nhắm mắt mà bắn địch, nếu lỡ mà trúng thì
là tại số phận của địch. Nực cười nhất là trong một cuộc giao chiến giữa
Tấn và Sở, một chiến xa của Tấn sa lầy, tiến không được, tình cảnh nguy
ngập, tướng Tấn loay hoay không biết làm sao. Tướng Sở đứng bên ngó,
rồi chỉ cho cách gỡ bỏ bớt then ngang cùng cờ và khí giới đi, quân Tấn
nghe theo thoát ra khỏi chỗ lầy được.
Dĩ nhiên cũng có nhiều lúc họ hăng hái chém giết nhau, nhưng không bao
giờ người ta muốn tận diệt quân địch, và có người không muốn thừa lúc
địch chưa chuẩn bị kịp mà tấn công ngay, cho vậy là không quân tử. Chẳng
hạn một lần Tống và Sở giao tranh ở Trác Cốc. Quân Sở đương qua sông.
Quân Tống đòi thừa dịp tấn công ngay. Tống Tướng công không cho, bảo
để địch qua sông đã. Khi quân Sở qua sông hết rồi, quân Tống lại xin tấn
công. Tướng công cũng bảo: "Khoan, đợi chúng dàn trận xong đã". Sở dàn
trận xong, đánh bại Tống, Tướng công bị thương, mà còn bảo:" Bậc quân
tử không đánh quân địch khi họ ở trong bước cùng khốn". Truyện đó chép
https://thuviensach.vn
trong thiên XXXII sách Hàn Phi tử, sẽ dịch ở sau.
Tấn Văn công đồng thời với Tống Tướng công (ông này mất năm -637 thì
năm sau Văn công lên ngôi) cũng vì ham cái tiếng nhân nghĩa mà có một
hành động mâu thuẫn: trong chiến tranh với Sở, Hồ Yển khuyên ông nên
dùng mưu gạt Sở, còn Ung Quý khuyên ông đừng, kẻo mất chữ tín, trái
đạo. Ông theo Hồ Yển, thắng Sở rồi thì thưởng công Ung Quý hậu hơn Hồ
Yển, vì theo ông, Ung Quý biết "cái lợi muôn đời" còn Hồ Yển thì chỉ nghĩ
đến cái lợi nhất thời mà thôi. (Hàn Phi chê thái độ đó trong thiên XXXVI coi phần dịch.)
Chiến tranh thời Xuân Thu chắc chết ít người lắm.
Nhưng qua thời Chiến Quốc thì khác hẳn. Mạnh Tử đã phải phàn nàn rằng
các chư hầu đều "tranh thành dĩ chiến, tranh địa dĩ chiến", "sát nhân doanh
dã, sát nhân doanh thành”. Hết cái luật quân tử, mà chỉ còn cái luật rừng rú:
chém giết cho thật nhiều, để cướp bóc cho thật nhiều.
Kỹ thuật chiến tranh, khí giới được cải thiện. Người ta dùng nỏ giương
bằng chân, bắn được xa hơn, tương truyền là bắn được kẻ thù cách xa non
một cây số.
Kỵ binh xuất hiện; nhờ rút kinh nghiệm của Hung Nô, người ta vừa phi
ngựa vừa bắn. Năm -307, Triệu Võ Linh vương có lẽ là ông vua đầu tiên ăn
mặc như người Hồ, cưỡi ngựa bắn cung như người Hồ, nghĩa là dùng kỵ
binh như người Hồ để chống lại họ. (coi Chiến Quốc sách - Triệu II.4 - Lá
Bối - 1972). Bộ binh cũng xuất hiện và thành binh chủng quan trọng nhất.
Có những đạo quân hàng trăm ngàn người. Ngay từ thế kỷ thứ IV, Tần là
nước đầu tiên bắt buộc mọi người mạnh mẽ phải đi lính. Người ta chế
những cái thang mây, những cái tháp để công phá thành địch; có những
cuộc công phá kéo dài tới hai, ba năm. Người ta dùng thuật do thám, tuyên
truyền, nghĩa là dùng cả chiến tranh tâm lý.
Càng về cuối thời Chiến Quốc, chiến tranh càng tàn khốc; kinh tởm nhất là
tướng Tần Bạch Khởi chôn sống bốn chục vạn quân Triệu đã đầu hàng
(năm -260)
- Do đó tình hình dân chúng thật điêu đứng. Già nửa dân phải đi lính, kẻ ở
nhà phải nộp thuế có khi tới ba phần tư hoa lợi. Những năm được mùa, dân
https://thuviensach.vn
cũng không được hưởng vì triều đình thu hết lúa để nuôi lính; mà những
năm mất mùa thì kẻ già, người bệnh chết hàng loạt trên đường, trong ruộng.
Dù chiến tranh chấm dứt thì họa cũng kéo dài hàng chục năm, "vì tổn phí
vào chiến tranh, mười năm thu lúa cũng chưa đủ bù. Quân đội mà chiến
đấu xong thì mâu và kích gẫy, vòng và dây cung đứt, nỏ hao tổn, xe hư
hỏng, ngựa mệt mỏi, tên mất đi già nửa, áo giáp cùng binh khí triều đình đã
phát ra, kẻ sỹ và đại phu dấu đi một phần, sĩ tốt lấy trộm đi một phần, dù
thu thuế ruộng mười năm cũng chưa đủ bù vào" (Chiến Quốc sách - Tề
V.I). Ấy là chưa kể bao nhiêu người chết, bao nhiêu đất đai bị bỏ ho...
Hàn Phi Tử
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời mở đầu
PHẦN I - Chương 1
Chương 2
PHẦN II - Chương 1
Chương 2
P3 - Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Kết
PHẦN IV
PHẦN V
THIÊN XLIX
THIÊN XL
THIÊN XLIII
THIÊN VII
THIÊN VI
THIÊN XLVIII
THIÊN XVIII
THIÊN XLV
THIÊN XLVI
THIÊN XVII
THIÊN IX
THIÊN XIV
https://thuviensach.vn
THIÊN XIX
THIÊN XLVII
THIÊN XV
THIÊN XXX
THIÊN XXXI
THIÊN XXXII
THIÊN XXXIII
THIÊN XXXIV
THIÊN XXXV
THIÊN XXXVI
THIÊN XXXVII
THIÊN XXXVIII
THIÊN XXXIX
THIÊN XXII
THIÊN XXIII
THIÊN XLI
THIÊN XII
THIÊN III
THIÊN XI
THIÊN XIII
https://thuviensach.vn
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
Lời mở đầu
Hàn Phi Tử là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các
pháp gia (các nhà cho rằng trị nước, dùng pháp luật có hiệu quả hơn, là
những người chủ trương pháp trị, trái với Khổng, Mặc chủ trương nhân trị)
trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời Tống và tư tưởng của Hàn
Phi, chúng tôi ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương diện xã
hội, chính trị và học thuật, lược thuật tư tưởng và chính sách của các pháp
gia trước Hàn Phi: Quản Trọng, Tử Sản, Lý Khôi, Ngô Khởi, Thân Bất
Hại, Thận Đáo, Thương Uởng.
Ba điểm chính trong học thuyết của Hàn là:
- Trọng cái thế: Người cầm quyền không cần phải hiền và trí, mà cần có
quyền thế và địa vị. Hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà
quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền. Trọng thế thì tất nhiên
trọng sự cưỡng chế: vua nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, và
phải được tôn trọng triệt để, bắt chết thì phải chết.
- Trọng pháp luật: Mà pháp luật phải hợp thời, dễ biết dễ thi hành, phải
công bằng.
- Trọng thuật trừ gian: Dùng người, điểm này rất quan trọng. Hàn đưa ra
nhiều thuật tàn nhẫn rồi dùng nhiều cố sự để dẫn chứng, đại khái cũng như
Kautilya ở Ấn Độ sau cuộc xâm lăng Ấn của Alexandre le Grand, một thế
kỷ trước Hàn Phi; và như Machiavel, tác giả cuốn Le prince ở Ý cuối thế kỷ
XV.
Học thuyết của Hàn giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, nhưng
từ đời Hán ảnh hưởng của Hàn giảm nhiều, ảnh hưởng của Khổng học lại
mạnh lên.
https://thuviensach.vn
Từ năm 1977, được nhàn rỗi, tôi lại tiếp tục nghiên cứu hết các triết gia
lớn đời Tiên Tần, để thực hiện xong chương trình tôi đã vạch từ sáu năm
trước, và soạn thên năm cuốn nữa: Mặc Học, Lão Tử, Luận Ngữ, Khổng
Tử, Kinh Dịch.
(theo hồi ký Nguyễn Hiến Lê)
*****
Đây là 1 cuốn sách rất khó đánh, đặc biệt là những đoạn Hán Việt, nên các
bạn đều đã phải bỏ nhiều công sức và sự kiên nhẫn vào đó.
Rất mong website nào đăng lại cuốn Hàn Phi Tử nhớ kèm theo danh sách
này
Đặc biệt xin ghi nhận sự giúp đỡ của hai bạn cunhoi và heo_mapyeu, lúc
nào cũng vui lòng nhận hết những phần việc khi thiếu người đánh. Cảm ơn
tất cả các bạn.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
PHẦN I - Chương 1
THỜI XUÂN THU VÀ CHIẾN QUỐC
TÌNH HÌNH XÃ HỘI
Hàn Phi là tư tưởng gia cuối cùng của thời Tiên Tần, tập đại thành các Pháp
gia trong ba bốn thế kỷ, nên trước khi giới thiệu đời sống cùng tư tưởng của
ông, chúng tôi nghĩ cần ôn lại hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc về phương
diện xã hội, chính trị và học thuật. Có sách cho vua Văn Vương là người
khai sáng nhà Chu; sự thực ông chỉ là một chư hầu (Tây Bá) có tài có đức
dưới quyền vua Trụ nhà Thương (cũng gọi là nhà Ân). Chính con ông, Võ
Vương, mới diệt Trụ mà lên ngôi, mở đầu cho nhà Chu (năm -1122)[1].
Qua đời sau, con Võ Vương là Thành Vương còn nhỏ[2], Chu công tên là
Đán, em Võ Vương (tức là chú của Thành Vương) làm chức Trủng Tể, coi
việc nước, sửa sang lại chế độ, nhạc lễ, giáo hoá, làm cho nhà Chu cường
thịnh, văn minh. Từ đó chế độ phong kiến lần lần thay chế độ thị tộc. Sử
chép đầu đời Chu có tới 1600 chư hầu, chúng tôi nghĩ là những bộ lạc, chưa
thật sự là chư hầu như giữa đời Tây Chu trở đi[3].
Theo bộ Mạnh Tử (Vạn chương hạ - bài 2) đại khái chế độ phong kiến đời
Chu như sau:
Về tước vị các vua trong thiên hạ có 5 bậc: 1- Thiên Tử, 2- Công, 3- Hầu,
4- Bá và 5 - Tử với Nam cùng bậc.
Về phép phong đất thì có 5 hạng: 1- đất của Thiên Tử vuông vức một ngàn
dặm; 2- đất của Công và Hầu vuông vức trăm dặm; 3- đất của Bá bảy chục
dặm; 4- đất của Tử và Nam năm chục dặm.
Binh lực cũng quy định tuỳ theo nước lớn nhỏ. Thời đó chỉ dùng chiến xa,
chưa có bộ binh và kỵ binh. Mỗi chiến xa có 4 ngựa, một người đánh xe ở
giữa, một quân bắn cung ở bên trái, và một quân cầm thương ở bên phải.
Nước của Thiên Tử có vạn chiến xa, nước của Công Hầu có ngàn chiến xa,
https://thuviensach.vn
dưới nữa là trăm chiến xa.
Chư hầu có bổn phận tuân lệnh, trung thành với thiên tử; ngược lại thiên tử
có bổn phận che chở, giúp đỡ chư hầu. Đúng một kỳ hạn nào đó, các chư
hầu phải tới triều cống thiên tử; và theo lệ, cứ năm năm một lần, thiên tử đi
thăm khắp các chư hầu, xem xét chính tích của họ, tình hình trong xứ: đời
sống của dân chúng, lễ nhạc, nhất là ca dao, vì nỗi vui buồn, lo lắng của
dân hiện rõ trong ca dao hơn hết (kinh Thi sở dĩ được trọng ngang kinh
Thư, kinh Lễ là vì vậy)
Chế độ chia đất cày cho dân, chế độ "tỉnh điền" có lẽ xuất hiện từ đời
Hạ[4], sang đời Chu được chỉnh đốn lại, mỗi miếng đất vuông vức 900 mẫu
(mỗi mẫu theo Wieger, bằng khoảng 600 mét vuông) chia làm 9 phần bằng
nhau như hình trên, mỗi phần 100 mẫu. Tám phần chung quanh chia đều
cho 8 gia đình; phần ở giữa để lại một ít làm chỗ ở cho 8 gia đình, còn bao
nhiêu 8 gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua. Hình miếng đất khi
chia như vậy, giống chữ 井 nên gọi là phép tỉnh điền.
Ngoài công việc canh nông đó ra, dân còn phải săn chồn, trồng dâu, nuôi
tằm, dệt lụa để quý tộc may y phục.
https://thuviensach.vn
Ấy là chưa kể lâu lâu phải lại nhà quý tộc hầu hạ nữa. Đời họ vất vả thật,
nhưng xã hội được tổ chức nên đời sống cũng được bảo đảm ít nhiều. Đất
còn rộng, dân còn thưa, gặp những lãnh chúa tốt thì những năm không có
chiến tranh và mưa gió thuận hoà, họ có thể đủ ăn, đủ mặc, sống vui vẻ.
Chế độ phong kiến đó tập trung quyền hành trong tay quý tộc, làm cho
hạng này được ăn sung mặc sướng, có thì giờ nhàn rỗi học hành, trau dồi
văn thơ nghệ thuật, nhờ vậy mà văn minh Trung Hoa dưới đời Chu phát
triển. Để được hưởng thụ, giới quý tộc thích sống ở thành thị hơn, và ở đâu
họ cũng khuyến khích công nghệ, thương mại, do đó thành thị mọc nhiều
và mau thịnh.
Nhược điểm của chế độ đó là nền tảng không vững được lâu, phải dựa trên
uy quyền của quý tộc. Uy quyền đó mà suy nhược, hoặc bọn cầm quyền mà
tham nhũng, là nội loạn nổi lên liền: chư hầu không tuân lệnh thiên tử, dân
không tuân lệnh các quan, kẻ mạnh hùng cứ một phương, thôn tính kẻ yếu
ở chung quanh mà làm bá chủ. Số bộ lạc nhỏ cứ giảm dần từ 1600 xuống
1000, 500, vài trăm, một trăm... mà các chư hầu hùng cường, đất đai mỗi
ngày một rộng, dân chúng mỗi ngày một đông, gấp năm gấp mười của thiên
tử.
Nhà Chu chỉ thịnh trên một thế kỷ, từ đời Võ Vương đến hết đời Chiêu
Vương. Qua đời Mục Vương ("trước Tây lịch" -1001 - 936) đã bắt đầu suy,
tới đời U Vương (thế kỷ thứ 8 trước T.L.) thì triều đình loạn, U Vương bị
rợ Khuyển Nhung giết; thái tử nối ngôi là Bình Vương, sợ các rợ phía Tây
(Tây Nhung) lại uy hiếp nữa, phải dời đô qua Lạc Ấp (-700) ở phía đông,
trong sử gọi là đời Đông Chu(-700 – 221). Từ đó vua Chu tuy vẫn còn giữ
cái danh thiên tử, nhưng mất hết cả quyền hành, thường bị chư hầu lấn áp
mà chế độ phong kiến lần lần lung lay.
Trong Chiến Quốc sách, phần 1 trang 100 (Lá Bối 1973) chúng tôi đã nói
rằng sự phân chia đời Đông Chu chia thành hai thời kỳ
https://thuviensach.vn
- Thời Xuân Thu (-700 - 403) từ đời Chu Bình Vương tới gần cuối đời Chu
Uy Liệt Vương.
- Thời Chiến Quốc (-403 - 221) từ gần cuối đời Uy Liệt Vương tới khi Tần
diệt Tề và thống nhất Trung Quốc có một điểm gượng: năm -403 không
đánh dấu một biến cố gì quan trọng đủ để mở đầu một thời đại, chỉ là năm
ba đại phu nước Tấn: Hàn Kiều, Triệu Tích, Ngụy Tư được vua Chu phong
hầu (do đó mà sau Tấn tách ra thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy), còn xã
hội, lịch sử Trung Hoa vẫn biến chuyển liên tục, không bị gián đoạn, từ chế
độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân tán tới
tình trạng thống nhất. Tuy nhiên có điều này hiển nhiên là càng về sau xã
hội càng loạn, biến cố càng dồn dập, và xét chung thì thời Chiến Quốc quả
có nhiều điểm khác thời Xuân Thu.
Về kinh tế, canh nông, phương pháp canh tác rất tiến bộ. Thời Ân người ta
dùng lưỡi cày bằng gỗ, thời Tây Chu đã có lưỡi cày bằng đồng đỏ; cuối
thời Xuân Thu ở Ngô và Việt, người ta đã tìm ra sắt. Sắt lúc đó gọi là "ác
kim" (vàng, bạc, đồng là mỹ kim) và chỉ dùng chế tạo những đồ dùng tầm
thường như lưỡi cày, lưỡi cuốc... Năm -513 vua Tấn bắt mỗi người dân
phải nộp một ít sắt để đúc những đỉnh ghi hình luật. Cũng vào khoảng đó
xuất hiện những truyền thuyết về hai thanh gươm Can Tương và Mạc Da,
bén hơn những thanh gươm thường dùng nhiều, chỉ vì đúc bằng sắt và từ
đó sắt mới được dùng làm binh khí. Có xưởng đúc phải dùng tới ba trăm
người kéo bễ cho lò đủ nóng mà làm chảy được sắt. Tới thời Chiến Quốc,
sắt đã thông dụng, và sách Mạnh Tử, Thiên Đằng Vân Công thượng, bài 4,
chép một câu Mạnh Tử hỏi Trần Tương: "Hứa Tử có dùng nồi đồng, trách
đất nấu ăn không, có dùng (lưỡi cày bằng) sắt mà cày không?" (Hứa Tử dĩ
phủ tắng thoán, dĩ thiết canh hồ?).
Nhớ lưỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, mà cày sâu hơn, nhanh
hơn, đỡ tốn sức hơn. Người ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kinh dẫn
nước. Nước chư hầu nào cũng muốn phú cường để thôn tính các nước bên
cạnh, mà muốn phú cường thì trước hết phải khuếch trương canh nông,
nghĩa là phải vừa cải tiến phương pháp canh tác vừa khuyến khích khai phá
đất đai mới, vừa thay đổi cách đánh thuế.
https://thuviensach.vn
Sự khai phá đất đai mới có hiệu quả hơn hết mà cũng cấp thiết nhất vì dân
số tăng lên khá mau (tổng số nhân khẩu thất quốc đời Đông Chu độ hai
chục triệu, tới đầu kỷ nguyên Kitô, tăng lên sáu chục triệu) tới nỗi Mạnh Tử
đã lo thiếu thực phẩm và nguyên liệu, nên phải khuyên các nhà cầm quyền
cấm dân bủa lưới mắt nhỏ quá trong các bưng, hồ, cấm đốn cây phá rừng
sái mùa, (Lương Huệ Vương - bài 3); và một trăm năm sau Hàn Phi đã phải
phàn nàn dân số tăng lên quá mau, (theo cấp số nhân, chẳng hạn một người
có 5 người con trai, mỗi người con trai lại có 5 người con trai nữa, thành
thử chỉ trong hai thế hệ, khoảng bốn năm chục năm, một người thành ra hai
mươi lăm người), thực phẩm mỗi ngày một khó kiếm.
Muốn mở mang đất đai thì nên khuyến khích hoặc bắt buộc thanh niên
thoát ly gia đình đi tìm đất mới, và đừng hạn chế số đất canh tác của mỗi
gia đình. Vì vậy chế độ tỉnh điền không hợp thời nữa, dù Mạnh Tử bênh
vực nó đến mấy thì nó cũng phải bỏ; mà sở dĩ ông hăng hái binh vực nó
chính vì nó đã bị bỏ ở vài nước rồi. Theo Maspéro trong La Chine Antique
(PUF -1965) thì Tấn là nước đầu tiên bỏ chính sách tỉnh điền từ thời Xuân
Thu, trước thời Mạnh Tử một hai trăm năm. Sau Mạnh Tử, Tấn Hiến Công
nghe lời khuyên của Thương Ưởng bỏ chính sách đó từ năm -350, cho dân
được tự do khai hoang canh tác. Bỏ chính sách tỉnh điền thì đồng thời cũng
bỏ luôn phép đánh thuế thời đó gọi là trợ (giúp): tám gia đình làm giúp một
khoảng ruộng công ở giữa cho chủ điền (tức là cho chính phủ, cho quý tộc),
mà thay bằng thứ thuế thường bằng một phần mười huê lợi,huê lợi có khi
tính từng năm một, có khi lấy số trung bình của nhiều năm. Lối sau này bất
lợi cho nông dân: năm được mùa, lúa thóc dư nhiều, chính phủ có thể thu
nhiều mà lại thu ít, dân tiêu pha hết không chịu để dành; tới năm mất mùa,
huê lợi chỉ đủ trả phí tổn canh tác thì chính phủ lại bắt nộp đủ số, dân đói
phải vay nặng lãi của chủ điền, của con buôn, có kẻ trả nợ suốt đời không
hết, như ở Ấn Độ gần đây. Gần thời Chiến Quốc, các ông vua chư hầu cần
tiền mua khí giới, nuôi binh lính, đánh thuế rất nặng, có nơi bằng 50% huê
lợi của dân, dân tình cực điêu đứng. Tuy nhiên chính sách đóng thuế vào
huê lợi cũng có lợi cho nông dân về mặt khác: họ tương đối được tự do,
độc lập hơn đối với chủ điền, không bị "cột" vào công điền nữa.
https://thuviensach.vn
Công nghệ đầu đời Chu còn thô sơ: dân chúng đa số chế tạo lấy đồ dùng
trong nhà và đồ làm ruộng; một số nô lệ chuyên môn chế tạo khí giới và
các đồ dùng đẹp và quý cho giai cấp quý tộc, làm việc trong các xưởng của
quốc gia hoặc trong những gia đình lớn. Đọc tiểu thuyết của Gogol, Tolstoi,
Tourgueniev, ta thấy thế kỷ XIX ở Nga có lối công nghệ đó, các đại điền
chủ Nga có hàng ngàn, hàng vạn "linh hồn” (tức nông nô), và trong điền
trang của họ, có hàng chục, hàng trăm nông nô đàn ông và đàn bà chuyên
xây cất, đóng xe, dệt vải, chế tạo nông cụ và dụng cụ cho chủ. Rất ít khi
điền chủ mua đồ đạc ở thị trấn - thường rất xa - chở về điền trang dùng.
Tới thời Xuân Thu, công nghệ phát triển hơn, các đồ đồng bằng đồng đỏ,
các đồ cẩn, khảm đã đạt được kỹ thuật cao, đồ bạc và bằng ngọc đã xuất
hiện.
Qua thời Chiến Quốc, thêm đồ sơn, đồ thuỷ tinh; kỹ thuật đồ gốm, kỹ thuật
dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới bảy màu), rất tiến bộ và người ta
đã tìm được những hợp kim để chế tạo những tấm gương soi mặt rất tốt.
Ngoài ra, chính sách thực sản của Quản Trọng ở nước Tề (thời Xuân Thu) :
khai mỏ, đúc tiền, nấu nước bể làm muối, lập kho lẫm... có nhiều kết quả,
làm cho Tề phú cường, và qua thời Chiến Quốc, nước nào cũng chịu ảnh
hưởng của Tề. Thương mại còn phát triển hơn công nghệ nữa. Nhũng nơi
như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở
Nguỵ đều là những thị trần thương mại rất đông dân và thịnh vượng.
Sử còn chép tên những thương gia danh tiếng như Ý Đốn, người nước Lỗ,
Đoan Mộc Tử (tức Tử Cống, một môn đệ của Khổng Tử), cả hai đều ở cuối
đời Xuân Thu; qua thời Chiến Quốc có những phú thương rất có thế lực,
giao thiệp với hạng vua chúa, có kẻ được giao phó chức tướng quốc nữa
như Lã Bất Vi. Một người buôn súc vật ở Trịnh, tên là Huyền Cao, trong
khi đem súc vật ra chợ bán, gặp một đạo quân của Tấn muốn xâm chiếm
nước mình, bèn giả làm sứ giả của vua Trịnh, dâng đạo quân đó tiền bạc và
súc vật để xin họ đừng tiến quân nữa; vậy mà họ tin, đủ biết bọn phú
thương được trọng ra sao.
Thương gia nổi tiếng nhất ở đầu thế kỷ thứ V là Phạm Lãi. Ông vốn là một
trung thần của Việt Vương Câu Tiễn, giúp Câu Tiễn báo thù Ngô Vương
https://thuviensach.vn
Phù Sai; khi đã toại chí, ông không thích làm một quan lớn trong triều đình
Việt, vì sợ luỵ đến thân, bỏ nước Việt, qua nước Đào, đổi tên là Đào Chu
Công, kinh doanh buôn bán mà giàu lớn. Quy tắc làm giàu của ông là áp
dụng luật cung cầu để biết lúc nào nên trữ hàng, lúc nào nên bán ra. Như
năm hạn hán, thuyền rẻ, nên mua trữ để sang năm ngập lụt bán ra; trái lại
năm ngập lụt nên mua trữ xe để năm hạn hán bán ra. Ông tính rằng trong
12 năm thế nào cũng có một năm đói lớn, và trung bình cứ một năm được
mùa, lại có một năm mất mùa. Ông còn bỏ vốn vào việc khai thác mỏ sắt
và bất kỳ công việc nào có lợi, không bao giờ để tiền nằm yên trong nhà,
mà cho nó lưu thông không ngừng, cho nên chỉ trong ít năm gây được một
sản nghiệp vĩ đại. Thật là một chính trị gia kiêm một nhà kinh doanh đại tài
của Trung Hoa thời Tiên Tần.
Hạng con buôn nhỏ, chẳng cần mạo hiểm kinh doanh, cứ bỏ tiền cho vay
lãi cũng đủ sung sướng, chẳng cần cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa mà cũng ăn
ngon mặc đẹp; nông dân khi túng tiền, cần bán nông cụ cho họ, họ mua rẻ,
bằng nửa giá; rồi tới ngày mùa, cần chuộc nông cụ về, họ bắt trả gấp đôi.
Có lẽ chính vì bọn đó mà dân tộc Trung Hoa đặt giai cấp thương dân sau ba
giai cấp sỹ, nông, công; chứ hạng đại kinh doanh như Phạm Lãi thì không
bao giờ bị khinh, mà trái lại bọn quý tộc còn muốn làm quen với họ, mời họ
"ngồi cùng xe" nữa.
Về chính trị và xã hội, thời Chiến Quốc khác thời Xuân Thu cũng rõ rệt, có
phần rõ rệt hơn về kinh tế nữa, vì kinh tế biến chuyển đều đều, còn chính trị
có thể ở vài nước như Sở, Tần có những bước nhảy vọt.
- Chế độ phong kiến suy vi. Trong Chiến Quốc sách (trang 10,11) chúng tôi
đã viết: từ khi dời đô sang phía đông (Lạc Ấp), nhà Chu suy nhược lần lần,
đất đai thì phải chia cắt để phong cho các chư hầu công khanh, nên mỗi
ngày mỗi thu hẹp lại (hoá ra nghèo), chỉ còn trông cậy vào sự cống hiến của
các chư hầu mà chư hầu như nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba
lần: không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên tử, đôi khi còn phải giúp
lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.
Nhà Chu suy nhưng một số chư hầu mỗi ngày một mạnh vì chính trị tốt,
kinh tế phát đạt như Tề, hoặc vì thôn tính được những nước nhỏ hơn, khai
https://thuviensach.vn
thác được những đất mới như Sở, Tần. Số chư hầu trước kia còn ngàn rưởi,
tới thời Đông Chu (Xuân Thu) chỉ còn lại trên một trăm, qua thời Chiến
Quốc, giảm xuống nữa, còn dưới một chục: Tề, Tần, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu,
Yên; trong số thất hùng, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai đã rộng (nhất
là Sở) mà tài nguyên lại nhiều. Gần cuối thời Chiến Quốc họ thành những
quốc gia độc lập, không phục tùng nhà Chu nữa, không chịu xưng bá mà tự
xưng vương (tức tự coi mình ngang với nhà Chu) như Tề, Ngụy năm -334,
Tần năm -325, Hàn, Yên năm -323...; sau Tần Chiêu Tương vương còn tự
xưng là đế (Tây Đế) - năm -228 - sai sứ lập vua Tề làm Đông Đế nữa,
nghĩa là coi Trung Quốc không còn nhà Chu, chỉ còn Tần và Tề là đáng
làm thiên tử của các chư hầu thôi, Tần làm chủ phương Tây, Tề làm chủ
phương Đông. Họ thành những quốc gia độc lập.
Trong quốc gia của họ, họ cũng bỏ chế độ phong kiến mà dùng chế độ quận
huyện. Tấn là nước đầu tiên lập ra một huyện, huyện Khuê Trung thời
Xuân Thu (cuối thế kỷ thứ VII), sau khi chiếm được một miền của một rợ
về phía tây. Sau đó là các nước Sở, Tề, Ngô, nhưng những quận huyện thời
đó vẫn còn có vài nét thái ấp, vì quyền cai trị vẫn còn cha truyền con nối.
Qua thời Chiến Quốc, nhất là từ năm -350, Thương Ưởng làm tướng quốc
ở Tần, chế độ quận huyện thực sự mới được phổ biến và mất hẳn tích cách
thái ấp, nghĩa là viên quan cai trị do chính quyền trung ương bổ nhiệm, có
thể bị thay thế bất kỳ lúc nào, y như một công chức thời nay. Đó là một tiến
bộ lớn đưa tới chế độ quân chủ chuyên chế các đời sau này.
- Mỗi khi một nước chư hầu bị thôn tính - mà suốt đời Xuân Thu và Chiến
Quốc, có hàng trăm nước như vậy- thì một bọn quý tộc mất địa vị, tức như
trường hợp Khổng Tử. Tổ tiên ông vốn người nước Tống. vì bị một quyền
thừa áp bức, họ Khổng phải dời qua nước Lỗ, được năm đời thì sinh ra ông.
Gia đình sa sút, mười tám tuổi chưa có một chức vụ gì cả, mười chín tuổi
thành gia thất rồi mới nhận chức ủy lại, coi việc gạt thóc ở kho, sau làm tư
chức lại (chức tư lại?), coi việc nuôi bò dê để dùng vào việc cúng tế, đều là
những chức thấp nhất trong chính quyền. Mạnh Tử cũng giống ông, thuộc
giòng dõi công tộc Mạnh Tôn ở nước Lỗ, nhưng đến đời ông cha đã sa sút,
tuy là quý tộc mà sống như bình dân.
https://thuviensach.vn
Qua thời Chiến Quốc, một số vua chư hầu muốn tước quyền của bọn quý
tộc, một mặt không phong thái ấp cho họ nữa, một mặt thâu tước lộc của
con cháu những người đã được phong, như nước Sở dưới triều Điệu Vương
đầu thế kỷ thứ IV, Ngô Khởi vạch cho Điệu Vương thấy cái hại của bọn đại
thần được phong quá đông, khiến cho nước nghèo, binh yếu, nên khuyên
Điệu Vương sau ba đời thì thâu tước lộc lại. Điệu Vương nghe theo, bỏ các
chức quan không cần thiết, bớt lương bổng của một số khác, để lấy tiền
nuôi chiến sỹ. Bọn quý tộc bất mãn, khi Điệu Vương chết, bèn hùa nhau
hãm hại Ngô Khởi, giết và chặt chân tay Ngô Khởi. Giữa thế kỷ thứ IV,
Tần còn làm mạnh hơn nữa, đặt ra bốn mươi mốt quận huyện trong khắp
nước, hằng trăm gia đình quý tộc mất địa vị.
Tóm lại thời Chiến Quốc, gia cấp quý tộc cũ lần lần tan rã, không nắm
quyền hành nữa, và một giới hữu sản mới lên thay: họ là những người khai
phá những đất mới, những thương nhân làm giàu rồi mua đất và thành
những tân địa chủ, lối sống cũng như bọn quý tộc cũ, nhưng tư tưởng tiến
bộ hơn, và một số có tài nhảy ra làm chính trị. Thời Xuân Thu đã có một số
ít người trong giai cấp đó chiếm được những địa vị cao: như Bách Lý Hề,
Quản Trọng, Ninh Thích..., nhưng thời Chiến Quốc mới thực là thời của họ
tung hoành. Họ là những kẻ sỹ áo vải[5] giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh
tế hay võ bị, làm quân sư hoặc tướng quốc cho các vua chúa. Họ là Tô Tần,
Trương Nghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi, Lã Bất Vi, Lý
Tư...
Họ thông minh, có chí, quyết lập nên sự nghiệp, trau dồi kiến thức, tìm hiểu
tình hình mỗi nước, rồi đi kiếm một ông vua để thờ. Họ phải chờ người giới
thiệu hay đút lót mua chuộc bọn hầu cận nhà vua để xin đuợc tiếp kiến.
Được tiếp kiến, họ phải dùng ba tất lưỡi để thuyết phục nhà vua - coi thiên
Thuế nan (trong phần dịch ở sau), độc giả sẽ thấy thuật thuyết phục đó khó
khăn và nguy hiểm ra sao. Khi thuyết phục được rồi, nghĩa là nhà vua chịu
nghe theo kế hoạch của họ, tin dùng họ, thì một bước họ nhảy lên chức
https://thuviensach.vn
tướng quốc. Nhưng muốn giữ địa vị đó, họ phải đánh át ảnh hưởng của bọn
"cha anh" nhà vua, tức bọn quý tộc cũ, bọn này vốn bảo thủ, muốn bám lấy
quyền lợi, ghét mọi sự cải cách, ghen quyền hành của họ, nên nhiều khi làm
cho họ mất mạng, như trường hợp Ngô Khởi, Thương Ưởng - coi thiên Cô
phẫn trong phần dịch. Sự thăng tiến đó của kẻ sỹ là một nét đặc biệt trong
thời Chiến Quốc.
- Một nét đặc biệt nữa là thời Xuân Thu, các vua chúa còn trọng nhân
nghĩa, vài ba ông còn dùng nhân nghĩa để trị dân; qua thời Chiến Quốc, họ
chỉ dùng thuật. Như vậy một phần do xu thế của đương thời, một phần cũng
do sự thúc đẩy của bọn sỹ kể trên.
Ngươi ta thấy chính sách "nhân chính" dùng nhân nghĩa để trị dân của
Nghiêu, Thuấn mà Khổng, Mạnh đề cao nếu không phải là vu khoát thì
cũng chậm có kết quả, không thể thi hành được.
Tới thời Mạnh Tử còn có một số vua chư hầu thích nghe thuyết nhân chính,
như Tề Tuyên Vương, Lương Huệ Vương, nhưng họ chỉ nghe thôi, chứ
không đủ kiên nhẫn để theo. Như Lương Huệ Vương phàn nàn với Mạnh
Tử rằng đã hết lòng trị nước theo nhân nghĩa, cứu giúp dân nghèo mà sao
kết quả không hơn gì các nước láng giềng, dân số vẫn không đông hơn các
nước ấy. Mạnh Tử đem trận chiến ra giải thích, bảo:
- "Quân hai bên giao chiến, mà quân của nhà vua thua, cởi bỏ áo giáp, kéo
đao thương mà chạy, kẻ chạy trăm bước mà ngừng, kẻ năm chục bước rồi
ngừng. Kẻ chạy năm chục bước có quyền chê kẻ chạy trăm bước không?"
Huệ Vương không đáp, và Mạnh Tử kết luận:
-"Vậy thì nhà vua cũng đừng nên mong nước nhà vua đông dân hơn các
nước chung quanh".
Nghĩa là chưa thấy kết quả chỉ tại chưa thi hành nhân nghĩa đến nơi đến
chốn, còn phải kiên nhẫn nhiều, gắng sức nhiều nữa, mới bấy nhiêu tuy đã
khá hơn các vua khác, nhưng chưa đủ.
Ngay như Đằng Văn Công thành tâm tin thuyết nhân chính, gắng sức thi
hành, nhưng bị Tề, Sở ép ở hai bên, lăm le thôn tính, nên luôn luôn lo sợ
mất nước, mấy lần khẩn khoản xin Mạnh Tử chỉ cho cách đối phó. Mạnh
Tử chẳng đưa ra kế hoạch nào hay cả, trước sau cũng chỉ khuyên ráng cùng
https://thuviensach.vn
với dân kháng chiến, kháng chiến không được thì bỏ nước mà đi. Lời đó
càng làm Đằng Văn Công lo thêm. Bí quá Mạnh Tử đành phải bảo: "Nhà
vua cứ làm điều thiện đi, đời sau sẽ có người lập được nghiệp vương mà
thống trị thiên hạ". Thật là một lời vô trách nhiệm, nước sắp mất đây, dân
sắp làm nô lệ đây, mạng mình không biết còn hay không đây, mà hy vọng ở
đời sau!
Không có lời nào tỏ được sự thất bại của chính sách nhân chính và tả được
tâm trạng xót xa của các Nho gia thời Chiến Quốc bằng lời Mạnh Tử trách
Tề Tuyên Vương dưới đây:
"Có người hồi nhỏ học đạo (trị quốc) của thánh hiền, lớn lên mong thi hành
sở học của mình. Nhưng nhà vua lại bảo: “Khoan, hãy để qua một bên sở
học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã". Như vậy mới làm sao! Nay nhà
vua có một hạt ngọc chưa mài, dù đáng vạn dật thì cũng giao cho thợ ngọc
mài dũa. Đến việc trị nước thì nhà vua lại bảo: "Khoan, hãy để qua một bên
sở học của nhà ngươi mà làm theo ý ta đã! Sao hành động lại khác khi giao
ngọc cho thợ mài dũa?" (Lương Huệ Vương, hạ -9).
Hành động phải khác chứ, sao lại không? Hạt ngọc đem mài dũa ngay thì
nó đẹp lên ngay, chứ không hại gì cả. Còn dùng sở học của Mạnh Tử tức
nhân chính, để trị nước Tề thì Tề đã không thể mạnh lên ngay được mà còn
có thể bị Tần, Sở đánh bại nữa. Mạnh Tử có tật ví von, thành thử lý luận
của ông nhiều khi bông lông, không thực tế.
Thời Chiến Quốc là thời bảy người đuổi bắt một con hươu, kẻ nào mưu mô,
nhanh chân khéo tay là được. Nhân nghĩa đôi khi cũng có ích đấy, nhung
không đủ, phải làm sao cho nước mau giàu, mau mạnh, phải dùng thuật thuật hiểu theo hai nghĩa: kỹ thuật và tâm thuật (tức thủ đoạn). Cho nên bọn
Ngô Khởi, Thương Ưởng, Tô Tần, Trương Nghi... tư cách kém xa Mạnh
Tử, Tuân Tử mà được trọng dụng, làm cho Tần, Sở mau hùng cường.
Trong khi Nho gia chỉ bàn về nhân nghĩa, chê kỹ thuật (Khổng tử chê một
môn đồ là quê mùa vì hỏi ông về nghề nông), cho sự cải cách chế độ, kinh
tế là tầm thường (Mạnh Tử chê sự nghiệp của Quản Trọng là thấp kém) thì
bọn sỹ kia tìm cách cải thiện chính trị, canh nông, binh bị, dùng thuật ngoại
giao làm hậu thuẫn, dùng thuật kiểm soát, điều khiển bề tôi để củng cố
https://thuviensach.vn
quân quyền, kết quả chỉ trong năm, mười năm là thấy rõ, nên ông vua nào
mà chẳng tin họ?
- Quan trọng nhất là sự cải thiện kỹ thuật chiến tranh. Thời Xuân Thu chiến
tranh còn theo luật quân tử.
Đọc Tam Quốc Chí chúng ta mỉm cười khi thấy hai bên dàn trận rồi, tướng
bên này xông ra, múa giáo thách đố, có khi sỉ vả hoặc mỉa mai khuyên nhủ
tướng bên kia; họ đối đáp với nhau một hồi rồi mới xáp lại đọ sức nhau,
trong khi quân lính ở đàng sau ngó. Không biết thời Tam Quốc người ta
đánh nhau như vậy có thật không, nhưng thời Xuân Thu thì chắc chắn như
vậy, có khi người ta cực kỳ lễ độ với nhau là khác. Marcel Granet, tác giả
cuốn La Civilisation chinoise (Albin Michel - Paris - 1948) trong một
chương rất lý thú, chương La vie publique, cho ta biết thời Xuân Thu, trước
khi lâm chiến, tướng hai bên phái sứ giả định giờ giao tranh. Khi ra trận,
tướng hai bên đứng trên chiến xa cúi đầu ba lần để chào nhau; nếu tướng
bên đây thấy tướng bên kia chức tước hoặc danh tiếng lớn hơn mình nhiều
thì xuống xe, lột mũ trụ để chào nữa. Có khi họ còn trao đổi thức ăn và
rượu với nhau. Một nhà quý tộc mà ra trận thì chỉ giết nhiều lắm là ba tên
địch chứ không giết hơn. Có kẻ nhắm mắt mà bắn địch, nếu lỡ mà trúng thì
là tại số phận của địch. Nực cười nhất là trong một cuộc giao chiến giữa
Tấn và Sở, một chiến xa của Tấn sa lầy, tiến không được, tình cảnh nguy
ngập, tướng Tấn loay hoay không biết làm sao. Tướng Sở đứng bên ngó,
rồi chỉ cho cách gỡ bỏ bớt then ngang cùng cờ và khí giới đi, quân Tấn
nghe theo thoát ra khỏi chỗ lầy được.
Dĩ nhiên cũng có nhiều lúc họ hăng hái chém giết nhau, nhưng không bao
giờ người ta muốn tận diệt quân địch, và có người không muốn thừa lúc
địch chưa chuẩn bị kịp mà tấn công ngay, cho vậy là không quân tử. Chẳng
hạn một lần Tống và Sở giao tranh ở Trác Cốc. Quân Sở đương qua sông.
Quân Tống đòi thừa dịp tấn công ngay. Tống Tướng công không cho, bảo
để địch qua sông đã. Khi quân Sở qua sông hết rồi, quân Tống lại xin tấn
công. Tướng công cũng bảo: "Khoan, đợi chúng dàn trận xong đã". Sở dàn
trận xong, đánh bại Tống, Tướng công bị thương, mà còn bảo:" Bậc quân
tử không đánh quân địch khi họ ở trong bước cùng khốn". Truyện đó chép
https://thuviensach.vn
trong thiên XXXII sách Hàn Phi tử, sẽ dịch ở sau.
Tấn Văn công đồng thời với Tống Tướng công (ông này mất năm -637 thì
năm sau Văn công lên ngôi) cũng vì ham cái tiếng nhân nghĩa mà có một
hành động mâu thuẫn: trong chiến tranh với Sở, Hồ Yển khuyên ông nên
dùng mưu gạt Sở, còn Ung Quý khuyên ông đừng, kẻo mất chữ tín, trái
đạo. Ông theo Hồ Yển, thắng Sở rồi thì thưởng công Ung Quý hậu hơn Hồ
Yển, vì theo ông, Ung Quý biết "cái lợi muôn đời" còn Hồ Yển thì chỉ nghĩ
đến cái lợi nhất thời mà thôi. (Hàn Phi chê thái độ đó trong thiên XXXVI coi phần dịch.)
Chiến tranh thời Xuân Thu chắc chết ít người lắm.
Nhưng qua thời Chiến Quốc thì khác hẳn. Mạnh Tử đã phải phàn nàn rằng
các chư hầu đều "tranh thành dĩ chiến, tranh địa dĩ chiến", "sát nhân doanh
dã, sát nhân doanh thành”. Hết cái luật quân tử, mà chỉ còn cái luật rừng rú:
chém giết cho thật nhiều, để cướp bóc cho thật nhiều.
Kỹ thuật chiến tranh, khí giới được cải thiện. Người ta dùng nỏ giương
bằng chân, bắn được xa hơn, tương truyền là bắn được kẻ thù cách xa non
một cây số.
Kỵ binh xuất hiện; nhờ rút kinh nghiệm của Hung Nô, người ta vừa phi
ngựa vừa bắn. Năm -307, Triệu Võ Linh vương có lẽ là ông vua đầu tiên ăn
mặc như người Hồ, cưỡi ngựa bắn cung như người Hồ, nghĩa là dùng kỵ
binh như người Hồ để chống lại họ. (coi Chiến Quốc sách - Triệu II.4 - Lá
Bối - 1972). Bộ binh cũng xuất hiện và thành binh chủng quan trọng nhất.
Có những đạo quân hàng trăm ngàn người. Ngay từ thế kỷ thứ IV, Tần là
nước đầu tiên bắt buộc mọi người mạnh mẽ phải đi lính. Người ta chế
những cái thang mây, những cái tháp để công phá thành địch; có những
cuộc công phá kéo dài tới hai, ba năm. Người ta dùng thuật do thám, tuyên
truyền, nghĩa là dùng cả chiến tranh tâm lý.
Càng về cuối thời Chiến Quốc, chiến tranh càng tàn khốc; kinh tởm nhất là
tướng Tần Bạch Khởi chôn sống bốn chục vạn quân Triệu đã đầu hàng
(năm -260)
- Do đó tình hình dân chúng thật điêu đứng. Già nửa dân phải đi lính, kẻ ở
nhà phải nộp thuế có khi tới ba phần tư hoa lợi. Những năm được mùa, dân
https://thuviensach.vn
cũng không được hưởng vì triều đình thu hết lúa để nuôi lính; mà những
năm mất mùa thì kẻ già, người bệnh chết hàng loạt trên đường, trong ruộng.
Dù chiến tranh chấm dứt thì họa cũng kéo dài hàng chục năm, "vì tổn phí
vào chiến tranh, mười năm thu lúa cũng chưa đủ bù. Quân đội mà chiến
đấu xong thì mâu và kích gẫy, vòng và dây cung đứt, nỏ hao tổn, xe hư
hỏng, ngựa mệt mỏi, tên mất đi già nửa, áo giáp cùng binh khí triều đình đã
phát ra, kẻ sỹ và đại phu dấu đi một phần, sĩ tốt lấy trộm đi một phần, dù
thu thuế ruộng mười năm cũng chưa đủ bù vào" (Chiến Quốc sách - Tề
V.I). Ấy là chưa kể bao nhiêu người chết, bao nhiêu đất đai bị bỏ ho...
 





