Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Hồi Kí Sơn Nam

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:48' 08-05-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:48' 08-05-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỒI KÝ SƠN NAM (Tập 1)
MỤC LỤC
TỪ U MINH ÐẾN CẦN THƠ ...................................................................................................................................... 1
Chương 1. Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh hạ. ......................................................................................... 3
Chương 2. đậu bằng sơ học. ........................................................................................................................................ 19
Chương 3. Vào trường công lập Cần-Thơ................................................................................................................... 28
Chương 4. NĂM TÔI 19 TUỔI .................................................................................................................................. 45
Phần 1...................................................................................................................................................................... 45
Phần 2...................................................................................................................................................................... 49
Phần 3...................................................................................................................................................................... 52
Nguồn: namkyluctinh.org
Trình bày LP: 8.5.2014
TỪ U MINH ÐẾN CẦN THƠ
––––––––
C
ó những người nói tới nói lui có một chuyện, mãi đến khi người nghe lộ vẽ nhàm chán thì
người nói vẩn nó, vì là “vốn quí” của mình. Thấy trẻ con trèo lên cây me để hái trái thì
quát tháo : “Tụi bây là lũ bất hiếu, rủi té gãy tay, lọi chân, cha mẹ tốn kém tiền thuốc men. ”Rồi
dạy miên man rằng trong các loại cây thì “ chùm ruột là thứ nhánh giòn nhất, dễ gãy.” Rồi cứ nói
thêm rằng cây trứng cá một thời đã được mọi người ưa chuộng vì tăng trưởng nhanh, nhiều lá để
tạo bóng mát, trái màu đỏ, trẻ con ưa thích nhưng coi chừng...rắn lục loại rắn con, vảy màu xanh
dễ tiệp với màu lá cây lắm khi rình rập trẻ con, rắn lục có nọc độc, nếu có chữa.
Có ai nghe thì nói, lắm khi như nói một mình. Giới trẻ đứng giây lát rồi bỏ đi, gọi lão đó ăn
nói nghe cũng hay nhưng dường như lẩm cẩm.Nhưng không nên cãi vã, lão ta rất tự ái, tự tôn.
Tự ái là phải. Vì lão ta không nói láo. Gần đất xa trời rồi ! Nói láo làm chi cho mang tội.
Chẳng qua là kinh nghiệm trường đời có giới hạn, muốn truyền lại, già trẻ ai muốn nghe thì
nghe. Và dường như ít ai nghe. Họa chăng khi lão mất, người trẻ trở thành người già, nhớ lại
bóng dáng lão, rồi đánh giá là người có tư cách. Theo ngôn ngữ xưa trước 1945, có tư cách là có
đầu óc là người quan tâm ít nhiều đến chính trị, là người biết vinh biết nhục, có trách nhiệm.
Thời bắt đầu kháng Pháp, khoảng 1946-1947, chúng tôi đóng cơ quan ở phía ranh giới giữa
Bạc Liêu và Kiên Giang ngày nay, đất thấp và phèn, xa biển, phía Ngan Dừa, Ninh Thạnh Lợi gì
đó. Người dân làm chút ruộng và lập vườn ổi. Vườn lần hồi suy thoái, phải chặt bỏ, trồng lứa
khác để có trái to, ít hột hơn. Nhà cửa lưa thưa, đồng bào nghèo rất tốt, cười vui khi gặp anh em
cán bộ. Hôm ấy, một ông lão cho biết trong ngọn rạch còn một ngôi chùa, đúng ra là một cái am
nhỏ với ông thầy trẻ và đôi ba đệ tử. Chùa lợp lá, nhưng thầy trò đều siêng năng tụng kinh, gõ
Hồi ký Sơn Nam
1
mõ, tu hành kiểu quái lạ : “Ông thầy thỉnh thoảng uống rượu và làm “kinh tế tự túc”, tôi chưa
rành, mình tới coi thử”. Tôi nhận lời, vì tò mò. Ðến cho biết, với tâm trạng vô tư. Ðược giới
thiệu trước là “cán bộ tới thăm”, thầy đón chào và mời vào căn nhà nhỏ bên hông chùa. Ðôi ba
chục con quốc (cuốc) bị trói chân, nằm chật chội trong cái rộng bằng tre, thỏn mỏn. Thầy giải
thích đó là của đám đệ tử gài bẩy mấy ngày qua, chờ đủ trăm con mới đem ra chợ bán lấy tiền
mua gạo cho chùa ăn qua ngày, đồng thời để tiếp tế cho “Xưởng”. Hỏi thì biết rỏ hơn : Gần đó,
hơn hai ngàn mét có một xưởng nhỏ chế tạo lựu đạn nội địa, cung cấp cho du kích. Bán hàng
trăm con quốc, được thêm tiền mua chuối, đu đủ cho anh em công nhân xưởng. Anh em sống bí
mật lắm, không được phép đi dạo trong xóm, nói chi ra chợ làng.
Tu hành, không sát sanh, nhưng gài bẫy bán chim cho người khác mua về ăn thịt, rồi lấy tiền
làm việc nghĩa. Cử chỉ ấy nói chung ai cũng khen, sát sinh nhưng nhà sư và số đệ tử đã làm điều
phải, nhập thế, còn hơn là mãi tụng kinh sớm chiều. Lại nhớ năm xưa đó, lúc cơ quan đóng nơi
heo hút, trời chuyển mưa nhanh chóng, sấm sét nổ lên, ai nấy giựt mình. Lát sau một thằng bé
chạy hơ hải báo tin có đúa bé bị sét đánh chết, dường như nó là người của cơ quan. Anh em chạy
ra ruộng, khiêng đứa bé vào, tên nó là X., cha mẹ xin cho nó từ hơn tháng qua làm liên lạc, chèo
xuồng, nấu cơm và học chữ quốc ngữ. Một mặt, anh em báo tin cho cha nó biết, mặt khác cứ làm
hô hấp nhân tạo, xoa bóp tay chân. Trạm y tế ở quá xa và ai cũng đoán chắc là nó đã chết, rồi cha
nó đến, mặt mày hơ hải, khóc không ra nước mắt, ôm con giây lát nói nghẹn ngào : Anh em,
thôi, được rồi. Tôi biết chắc con tôi hết phần phước rồi. Anh em cho tôi đem nó về tai nạn nầy,
anh em không có gì đáng quở trách. Buồn là buồn cho thằng con tôi chưa làm được gì giúp đất
nước”.
Anh em cử người tới dự buổi tống táng đứa bé. Rồi hôm sau, lại dời nơi khác, ai nấy buồn và
như hối hận.
Cha đứa bé đứng nhìn theo, nói nghe tỏ rõ : “Phải chi ngày hôm qua tôi chết thế cho con tôi.
Tôi già rồi. Nó còn trẻ.”
Nhìn lại ông, rồi anh em cán bộ cúi mặt. Ông đang ở trần, dưới cơn mưa lất phất. Bấy giờ, ai
cũng thiếu áo. Thằng bé mất hôm qua mình mẩy ướt mem, áo rách. Nghi ngờ gì nữa, ông đã cởi
chiếc áo của mình ra mà đắp cho thằng bé được ấm áp hơn, khi nó từ giã cuộc đời nầy.
Mới đây, đọc báo thấy tả những cái khạp, được neo lại không xa nhà cho lắm. Nạn nhân vụ lũ
lụt to lớn của đồng bằng. Chết giữa cảnh trời nước bao la, trong phạm vi đôi ba cây số ngàn mới
gặp mươi căn chòi hoặc năm bảy cây gáo cổ thụ, rải rác vác chòm cây điên điển tạp nhạp chỉ
dùng làm chất đốt, nhưng được ca ngợi vì gần như không trồng mà cứ mọc lan tràn, trái khô rụng
xuống là mọc trổ bông tươi ăn khá ngon, màu vàng rực rỡ trong khoảng thời gian ngắn. Vài đứa
bé vô ý rơi xuống, nước đang ngập vào nhà, lập tức bị cuốn trôi giữa khu vực trước kia là đồng
ruộng nhưng lũ đã phủ lên đôi ba mét, chảy cuồn cuộn. Chọn cái khạp đựng gạo hoặc cái lu
(chum, vại to) liệm với quần áo, chiếu. Nạn nhân dĩ nhiên gần như ngồi trong khạp, co chân lại,
hai tay khó thẳng. Rồi đậy nắp lại trét xi măng. Ðặt cái khạp ấy không xa nhà cho lắm để dễ bề
canh chừng, sợ nó trôi mất, và cha mẹ cũng chẳng muốn rời đứa con đã mất nhưng còn đó. Tìm
bốn năm cây tràm nhỏ cắm chung quanh để rào cái khạp với mớ dây kẽm, nhờ vậy cái quan tài
tròn, ngộ nghĩnh nổi lên rồi hạ thấp xuống tuỳ theo mưa nhiều ít từ thượng nguồn không bao giờ
chao đảo lắc lư, hy vọng rằng đứa bé được yên thân, không trăn trở, “nghiên mình” tức là không
giữ được “tư cách” vì người chết vẫn là người sống. “Lòng đây tưởng đó mất như còn”( Ðồ
Chiểu), mặc dầu lúc sống chưa làm được điều gì đáng kể. Nạn nhân của lũ lụt nếu lớn tuổi hơn
Hồi ký Sơn Nam
2
thì chôn trong cái quan tài, gọi là như vậy cho khỏi tủi thân, chỉ là mấy tấm ván mỏng ghép lại.
Người chết mặc nhiên được lau chùi sạch sẽ, khô ráo, mặc quần áo tươm tất, nằm với tư thế
đứng đắn nhất là xuôi tay, xuôi chân, mặt nhìn ngửa lên trời, phải phun rượu để uốn nắn lại trong
trường hợp tay chân co quắp. Ngày có những loại bao ny-lông to và dài theo ni tấc của người
lớn, bỏ vào bao,g ìn giữ được mùi hôi rữa, đặt vào quan tài, thêm nhiều mảnh ni-lông rồi đưa ra
khỏi nhà, không quá xa để canh chừng. Giữa trời nước bao la, sóng trào nước xoáy, cứ xốc bón
cây chổi như hình chữ X, treo lên cao ; bên dưới, làm thêm một cái sàn để quan tài dứ vào, để
phòng khi giông gió khiến quan tài rơi xuống đáy nước. Trên nóc quan tài, làm kiểu mái nhà,
bằng vải nhựa dẻo. Chưa hết. Ngày nay lắm nơi bố trí hai cái ống tre, hoặc ống nhựa cắm bên
quan tài, đựng gạo và muối, tượng trưng cho lương thực, thực phẩm cần yếu cho người quá cố,
vì còn bối rối, thân nhân không thể nào cúng đường dịp cho tuần đầu, hai tuần đầu và cúng 100
ngày.Như việc tống táng với lương thực của người dân tộc trên Cao nguyên.
Nhắc lại dông dài để nhớ mãi “tư cách” của con người. Sống hay chết, già hay trẻ đều là con
người, phải giữ tư cách.
Xác cháu bé khi nước giựt xuống, cha mẹ sẽ đem chôn kín dưới đất. Rồi mùa nắng, rồi mùa
nước lụt năm sau, bông điên điển hoang dã sẽ trổ vàng ngời soi bóng nước từ đầu nguồn tuôn về.
“Chúc hồn em mãi tiêu dao. Về trần tìm lại chiêm bao thuở nào”.(Kiên Giang)
Chương 1. Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh hạ.
ôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U Minh Hạ, thuộc khu vực rừng tràm trầm thủy ven
vịnh Xiêm La mà Pháp khoanh vùng để bảo quản và quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên
người dân địa phưong có thể đốn cây tươi để bán lẻ tẻ hoặc dùng trong gia đình. Ðây là khu vực
thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành
Thông Chí đời Gia Long đã mô tả. Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng
chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước
tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy, nước dưới rạch như
mãi lưu thông. Tóm lại, nước dưới rạch không chảy từ đất cao, xuống hạ lưu đất thấp. Bờ biển là
bãi bùn phù sa, đầy cây mấm, cây giá không có giá trị kinh tế như cây đước. Nhà ở bờ rạch, ra
biển khoảng 4 kilômét, ấy thế mà từ thuở lọt lòng đến hơn 10 mét, đầy cây mấm, cây giá, muỗi
mòng bay ào ào ngày như đêm, bước xuống thì lún ngang đầu gối. Rừng cũng vậy, mãn năm
sình lầy, dưới bùn lố nhố những gốc cây đã chết hoặc cây sậy, đế, khá bén nhọn. Ấy thế mà
người dân đi chân đất, gần như chẳng bao giờ bị thương tích đáng kể. Lớn lên, được dịp đi tận
Hà Tiên rồi Vũng Tàu hoặc Nha Trang, tôi vui sướng vô cùng. Rõ ràng là biển của xứ người
trông thơ mộng, sạch sẽ với bãi cát trắng hoặc vàng, nước biển xanh đậm không như phía vịnh
Xiêm La toàn là phù sa màu vàng sậm, màu nâu. Khác hẳn rừng miền Ðông nơi có suối, có hốc
đá, nơi con nai ngơ ngác uống ánh trăng vàng. Chung quanh nhà, nơi tôi chào đời, đầy lau sậy,
luôn luôn có muỗi lại còn ong rừng (gọi ong mật).
Hừng sáng, trẻ con dễ đói bụng, thường đi tìm đám lau sậy hoặc cây tạp mà gặp tổ ong mật, ổ
còn nhỏ ni tấc cỡ cái bánh tráng (bánh đa). Vắt mật ong, uống tại chỗ gọi là ăn điểm tâm, lát sau
ra về, lừng khừng như kẻ say rượu vì mật ong có rượu, gây khó chịu lúc đói bụng. Lắm khi trẻ
con đi dạo trong đồng cỏ, thu hoạch được chút ít mật ong, đem lại tiệm quán đổi lấy vài viên
T
Hồi ký Sơn Nam
3
kẹo. Mật ong quá ít, bán chẳng ai mua, muốn bán thì phải có số lượng vài chục lít, đem ra tỉnh
lỵ. Cũng như cá lóc, cá trê, muốn thu hoạch khối lượng to cần có thương lái gíup vốn sắm xuồng,
sắm câu, lưới để sống tạm qua ngày. Xóm tôi hồi đó còn vài mươi gia đình người Khơme, người
lớn tuổi bảo rằng họ tản cư đến khi Pháp đánh chiếm hồi cuối thế kỷ 19, dân số Khơme dường
như không tăng không giảm vì trẻ con kém săn sóc dễ bị đào thải từ tấm bé. Gần xóm, vài ao
nước tương đối ngọt với thềm cao. Thỉnh thoảng, dân bắt rắn, bắt lươn dùng chỉa mà xom, phát
hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy, nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của
người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa. Ông nội tôi chào đời ở cù lao Ông
Chưởng (An Giang) khoảng 1840, ông cố tôi cũng ở đấy, từ xưa. Ông nội tôi chạy giặc Pháp,
qua Rạch Giá, đến Cù Là rồi xuống U Minh. Bấy giờ Pháp cho trưng khẩn đất tự do, nhưng ai
cũng chán chê vì đất quá úng, chưa có dân lưu tán đến, họ chờ mãi vẫn không thấy người Pháp
cho đào kinh thủy lợi. Ðất hoang ấy phải trả lại cho nhà nước để khỏi đóng thuế, chỉ giữ chút ít
diện tích để đào đìa (ao nuôi cá) hoặc chờ mùa nắng cá tự động gom vào trũng. Hồi mới đến định
cư, thử trồng một cây khế, nay đã còi cọc, trông khôi hài nhưng có giá trị vì lớn tuổi hơn tôi. Bác
hai của tôi phá rừng, trồng vài mươi cây dừa nơi đất úng, về sau, trồng một cây mai vàng, gần
Tết cũng trỏ vài bông. Bác tôi giữ búi tóc, thích giao thiệp với xóm người Khơme nói trên, ông
rành tiếng Khơme, lại có khả năng kể chuyện cổ tích Khơme cho trẻ con nghe, và thích lên đồng
bóng (gọi xây Á-rặc) mời thần thánh địa phương người Khơme nhập vào. Lúc ấy, ông uống
rượu, xem bói tướng cho người địa phương. Ông kể chuyện xưa ngày khẩn hoang, không cường
điệu, tôi còn giữ được vài ấn tượng sâu sắc, nhờ vậy mà sau nầy tôi viết quyển Lịch sử khẩn
hoang miền Nam với thái độ tự tin. Hồi Diệm còn cai trị, khủng bố ác liệt, tôi cố gắng viết
những truyện ngắn, sau nầy gom lại lấy nhan đề Hương Rừng Cà Mau. Người khen kẻ chê
nhưng nên nhớ rằng chế độ kiểm duyệt của Diệm tinh tế lắm. Tôi gởi một quyển về cho bác Hai
tôi, ông không biết chữ Hán chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc lại, năm ấy bác đã
khoảng 90 tuổi. Ðứa cháu ấy viết lá thơ ngắn gởi lên Sài Gòn, tóm tắt ý kiến của bác mà tôi vô
cùng trân trọng : “Thằng nầy nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”. Phải rồi, truyện
ngắn, truyện kể gì gì đều là loại hư cấu. Nhưng hư cấu phải có căn. Có căn tức là mang cốt lõi
hiện thực. Lời nhận xét của bác Hai khiến tôi hãnh diện với thâm tâm.
Lớn lên, đâu khoảng tôi 6 tuổi, cha tôi là con út trong gia đình bèn rời bỏ quê hương đi khẩn
đất, lên phía Bắc, ven vịnh Thái Lan, cách thị xã Rạch Giá chừng 15 kilômét phía Hà Tiên (nay
gọi là vùng ven khu Tứ Giác). Bấy giờ con kinh Rạch Giá-Hà Tiên vừa đào xong nhưng chưa
được sử dụng vì bên bờ thưa thớt dân cư, nước phèn mặn. Dọc theo mé biển nhiều giồng cát cao
ráo đã có người khơme định cư, co cụm trên cao, ven giồng là đất thấp, úng lụt. Thêm vài ngọn
đồi thơ mộng, dính vào đất liền, gọi là vùng Hòn Chông, Ba Hòn với hai cột đá cao, nằm
nghiêng một chiều, gọi hòn Phụ Tử rồi lên Hà Tiên gặp nhiều hòn đá vôi (xi măng Hà Tiên). Ăn
đến biên giới là những thắng cảnh như Tô Châu, đông Hồ, Thạch Ðộng, gần xa ngoài biển là
hàng chục đảo lớn nhỏ, khi trời quang mây tạnh, nhìn thấy dạng đảo Phú Quốc khá cao và dài.
Không khí u buồn nhưng chưa quá ảm đạm. Còn đâu thời Mạc Thiên Tứ với Chiêu Anh Các !
Phía đông của toàn dải đất bao la, trông nhàm chán nầy là dãy Thất Sơn dọc theo biên giới,
phía Tây Bắc rồi xuống phía Nam là sông Hậu khá rộng (nhánh của sông Tiền, tức sông Cửu
Long). Giống hệt như phía Ðồng Tháp Mười với cỏ bàng, và hàng trăm thứ cỏ cao, cỏ thấp
chẳng có giá trị kinh tế. Có thể nói nơi tiếp giáp với nước Cam Bốt là Ðồng Tháp Mười và khu
vực Tứ Giác nói trên, riêng khu Tứ Giác đã được Thoại Ngọc Hầu từ cuối đời Gia Long khoanh
Hồi ký Sơn Nam
4
vùng với kinh Vĩnh Tế và kinh Thoại Hà (Long Xuyên). Giữa biển cỏ hoang vắng nầy, nhô lên
núi Ba Thê với di chỉ quan trọng của nước Phù Nam xa xưa hồi đầu Tây lịch. Khu Tứ Giác, kể
luôn Ðồng Tháp Mười là đất khắc nghiệt, đã nhận chìm nước Phù Nam nay ít ai biết. Và các nhà
khảo cứu còn đang mò mẫm tìm hiểu : Dân Phù Nam từ đâu đến và họ đã đi về đâu ? Cánh đồng
cỏ bao la nầy được người Việt trổ tài khai phá, tuy phải đối đầu với môi trường xa lạ, nhất là về
thủy văn. Khác hẳn cánh đồng của sông Hương, sông Thu Bồn hoặc có qui mô như sông Ðồng
Nai. Những cơn lụt thường niên xuất phát từ Tây Tạng, Lào, Cam Bốt nhưng Thoại Ngọc Hầu đã
phân vùng khá chính xác với hai con kinh phía Bắc và phía Nam, nhờ vậy mà tên tuổi của ông
được hậu thế mãi ghi nhớ.
Nếu vùng U Minh phía Nam ven biển vịnh Xiêm La, nơi tôi chào đời (xã Ðông Thái, ấp Giữa
) còn khó tìm trên bản đồ thì xóm Sóc Xoài, nơi cha tôi đến khẩn hoang đợt sau khó tìm hơn,
thuộc xã Sóc Sơn, ngay rạch Tà Lúa. Ðất phèn và mặn, phải đào ao, uống tạm, nấu cơm. Ít ai
bệnh hoạn vì loại nước ao nầy,vài người cho rằng bấy giờ ta chưa dùng thuốc trừ sâu. Núi thấp
ngoài biển rải rác nhiều đảo nhỏ, gần bờ là những bầy quạ đen hoặc bầy ó. Hình dáng con ó được
tả lại qua câu thai đố : “mình dà (đà) mặc áo cũng dà. Tay xách con gà, đầu đội thúng bông.” Ó
đáp xuống, xớt gà con rồi bay lên cao, đầu ó mang chòm lông trắng ...
Chân trời rộng, bên kia vịnh là các nước Thái, Mã Lai nhưng ít giao lưu vì thiếu hàng hóa và
khả năng mua sắm.Về đâu ? Về đâu ? Chỉ biết nhìn lên trời, tìm hướng siêu thoát, nương vào
mây bay.
Vào mùa mưa, gió Tây Nam của gió mùa đen kịt, từng nhà như sống cô lập, thôi thì ăn tạm
chén cơm, chút nước mắm rồi ngủ, dầu đèn không có để mà thấp, chẳng còn chuyện gì để cho
người trong nhà bàn bạc với nhau. Cọp beo từ lâu rồi không ai thấy, cường hào ác bá chẳng
muốn lấn hiếp kẻ tay trơn, ma quỉ có lẽ đã mất dạng, đến như bầy muỗi lừng danh kêu “như sáo
thổi” cũng lẩn trốn khó khăn trong tấm vách lá đang run phần phật. “Thương thay,thập loại
chúng sinh !”
Lớn lên, càng già tôi càng hiểu rằng những ấn tượng đầu tiên khi mình còn bé vừa tiếp xúc
với cuộc đời cứ theo thời gian mà khắc càng sâu trong tâm thức,không tài nào diễn tả được, khi
ẩn khi hiện. Cũng như khi vào trường làng ở vùng nầy, tôi học chung với vài cậu bé Việt lai Hoa,
Hoa lai Khơme. Học trò không mấy đứa có khai sinh, tên nghe ngộ nghĩnh như thằng Tứng,
thằng Khưng, thằng Xa Ðơn. Lắm đứa ở trần mặc quần cụt vào lớp, thỉnh thoảng lén ra ngoài sân
rồi trở về nhà. Thầy giáo đành chịu vậy, gắt gỏng quá thì lớp học khó tìm được mươi học trò,
chưa nói đến mùa mưa, làm ruộng, vài đứa giúp cha mẹ trong việc đồng áng, hoặc lên cơn sốt
rét. Thầy giáo do làng hoặc tổng tuyển chọn, ăn lương khoán. Ngành giáo dục tỉnh thỉnh thoảng
gở đến vài xấp tư liệu, kiểu giáo án, khá tươm tất như là nội san định kỳ, gọi Sư Phạm Học
Khóa. Vì vậy, tuy có ít nhiều sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ Hà Nội gởi vào, nhưng trường ở
xa xôi vẫn dạy theo tư liệu riêng, không sát theo chương trình nhưng gợi cảm hơn.Thí dụ như bài
học thuộc lòng :
Ðêm khuya, nhà, vắng, tớ đang sầu,
Lũ ếch sao bây dám bảo nhau
Kêu khắp bốn phương nhà tớ ở ?
-Này im, nghe tớ hỏi vài câu.
Bây giận chi mà kêu ếch ộp
Hay bây có cái thú riêng gì ?
Hồi ký Sơn Nam
5
Thú gì, rủ tớ đi theo với,
Rủ tớ đi đâu tớ cũng đi !
Học trò đọc lên, lúc được thầy giáo gọi “trả bài” lấy làm thích thú, dễ nhớ, như quen thuộc với
môi trường đồng không mông quạnh. Lũ trẻ chắc cũng hiểu đại khái nội dung nên cười tủm tỉm ;
thầy giáo vừa rời quê xứ, đến khu Tứ Giác này để dạy học với đồng lương vô nghĩa cũng có đôi
phút chạnh lòng nhớ ruộng, vườn, bờ cỏ hoang vắng, từ thuở ông bà. Kỷ niệm thời thơ ấu bất
diệt, mặc dầu đã lớn tuổi. Học vỡ lòng một đôi năm, cha đua tôi từ xóm Cù Là, xem như cỏ kính,
gần thị xã Rạch Giá, trên giồng đất cao ráo cũng nhiều người Khơme ở lâu đời, nhưng ruộng tốt,
lại có ngã ba sông rạch.Mấy bô lão cho rằng Cù Là là cái xứ bán thứ cao xoa bóp trị bá chứng,
do người Cù Là đưa tới, hiểu là người Miến Ðiện (nay Myanmar).Vịnh Xiêm la quả là nơi hội tụ
nhỏ bé của vài nước Ðông Nam châu Á.Gần Cù Là nay còn tên đất Xà Xiêm (Sre Xiêm), nơi
người Xiêm đến làm ruộng (thời Nguyễn Ánh-Tây Sơn chăng?).Nhưng sôi động nhất là sự hiện
diện của người Hoa, phần lớn là Triều Châu, họ mua bán sỉ lẻ, đặc biệt là tổ chức sòng bạc ngày
đêm, gần như là công khai. Thanh niên phần đông là lai tạp, chiều chiều đến học võ và trình diễn
nào võ Khơme, võ Việt Nam (?), võ Triều Châu, võ Lào, võ Xiêm (nhất là dịp lễ hội ở chùa Phật
người Khơme). Ðược ở trọ nhà người bác ruột, ông có trưng khẩn vài mươi mẫu đất khá tốt, nhà
lợp ngói, vách ván, nền lót gạch tàu, rõ là tiêu biểu cho văn minh Việt ở vùng đất tụ hội, giao lưu
nầy. Trước sân, nhờ rạch Cù Là được nguồn nước ngọt đưa vào nên trồng khá nhiều cây cảnh
như nguyệt quới (quí), ngâu, lài, đặc biệt là hai cội mai vàng. Tết về vàng rực hoa to ; hoa cỏn
búp, lại còn bàn thờ ông bà, lư hương, nhà hơi thấp, bảo rằng trong nhà phải tối nhá nhem, ông
bà phải chịu về với con cháu. Bàn thờ luôn thắp ngọn đèn trứng vịt, đó là lửa thiêng, lửa hương
hỏa. Con cháu ưa thức đêm phải ngủ nhà dưới, phía trước nơi nấu bếp. Học hành ngày hai buổi,
ngày chủ nhật mới rảnh rang, dạo chơi sau hè cách nhà chừng 100 mét, đã đắp vùng đất khá rộng
và cao, gọi thổ mộ, hiểu là nơi chôn cất của riêng dòng họ. Phần mộ ông nội tôi ở đó, mặt bằng,
thọ hơn 80 tuổi, mất năm “ Bảo Ðại tam niên”1929.
Tuy ở xứ Nam Kỳ thuộc địa, niên hiệu Bảo Ðại của Trung Kỳ vẫn được mến mộ, nhắc nhở
văn hóa Việt Nam. Ở thổ mộ, còn giữ được một cây rừng, mọc sẵn, cây chòi mòi, thân không to,
cho từng chùm trái nhỏ như hạt tiêu, ăn chua. Năm ấy, cả xóm náo động lên : Cây “muồng giè”
có trái. Tới mà coi ! Muồng giè là loại cây rừng, xóm Cù Là còn sót một cây cao cỡ cây dừa lão,
thân to và thẳng, lá như lá cây cọ, mọc trơ giữa đất ruộng, sau chùa. Lại bảo rằng cây nầy trăm
năm mới có trái một lần, điềm may mắn của cả khu vực. Hằng trăm người bao vây gốc cây, từng
chùm trái được thòng xuống. Dân trong xóm mang rổ, thúng đến chia phần xem nó là tài sản
công cộng. Trái nó to như trái nhãn, đem về luộc ăn, bên trong có chất bột màu tím dợt, thơm
tho. Vài người bảo nếu đem trái ấy mà chà ra bột, làm bánh ăn, ngon như bột hoành tinh. Tôi
được ăn thử, để hưởng “lộc nước, ơn trời”. Quả thật là ngon. Từ đấy đến nay, ngao du tận Sài
Gòn, miền Ðông Nam Bộ, tôi chỉ nghe văng vẳng tên giống cây nầy, chưa được ăn lần thứ nhì.
Nhờ đi học ở trường làng chính qui, tôi được tiếp xúc với sách giáo khoa do Trần Trọng Kim,
NguyễnVăn Ngọc soạn, quen với văn hoá sông Hồng, thí dụ như những câu ca dao “Trong đầm
gì đẹp bằng sen”, “Con cò mà đi ăn đêm”, thêm chuyện phương Ðông như “Ðạo bằng hữu phải
có thủy chung”, “Lý Mật nuôi bà” hoặc chuyện cổ Tây phương như “Cái lưỡi” của Ê-sốp.Vài
đoạn ngắn khá thơ mộng, đầy tính nhân bản, đọc qua là thuộc lòng ngay như “Ai bảo chăn trâu là
khổ”. Lần đầu tiên học chung với học trò chính qui, có khai sinh, tên cha mẹ. Trong lớp treo
Hồi ký Sơn Nam
6
bảng Danh dự ghi tên mấy học sinh đứng đầu về điểm trong tháng, lại còn bảng ghi danh sách
học sinh thay phiên nhau quét lớp.
Năm học ở Cù Là, tôi được sắp vào hạng giỏi. Học sinh phần lớn siêng năng, rất sợ thầy giáo,
quê thầy ở tận Cao Lãnh. Hôm nọ điểm danh thấy vắng một đứa, tên là Mì. Học sinh vắng mặt,
có hoặc không xin phép trước là bình thường nhưng chưa chi học sinh nhốn nháo lên. Thằng Mì
đến cổng trường, đứng lại chờ mẹ nó nắm tay dắt vào lớp. Mẹ và con bịt khăn tang, đứng do dự
trong khi thầy giáo bước tới. Mẹ nó khóc. Thầy giáo nói lẩm bẩm, rồi mẹ nó bước ra về. Thầy
bảo rằng hôm nay thằng Mì nghỉ học vì cha nó bị giết tại nhà. Học trò im lặng rồi bàn tán xì xào,
thầy giáo như bần thần, không giảng bài tiếng nào cả. Lát sau, trống đánh tan buổi học. Nhà
thằng Mì cách nhà trường khoảng 3 cây số ngàn, nếu đi tắt qua ruộng. Tuy là chuyện của người
lớn, học trò như buồn lây, lủi thủi ra về, không ồn ào trước sân như thường lệ. Và ngày hôm sau,
lúc đầu giờ mẹ thằng Mì lại dắt nó đến, cũng mặc tang phục, gặp thầy giáo rồi day về phía học
sinh, ngỏ lời cảm ơn nhà trường, thầy giáo, các bạn bè học sinh rồi tạm biệt với lý do là sau đám
tang, hai mẹ con phải đi về quê, không xa, ở kinh Nước Mặn, bà con dòng họ sẽ giúp đỡ.
Cha thằng Mì chết trong trường hợp nào ? Mười năm sau, thời kháng Pháp, tình cờ tôi theo
chân anh em Vệ Quốc Ðoàn đến đóng tại khu vực trường học xưa ; Vài người lớn tuổi cho biết
mẹ thằng Mì có đời chồng trước, ly thân rồi gặp người chồng sau, sanh ra nó. Người chồng trước
trở về đánh ghen, và cha ruột thằng Mì bị chém lúc cãi vã. Người chồng trước bị bắt tại trận, đưa
lên tòa đại hình Cần Thơ xử đâu năm năm khổ sai, đày biệt xứ. Thằng Mì tham gia dân quân du
kích địa phương, can đảm lắm, đã hy sinh, đồng bạn đã làm lễ truy điệu long trọng. Còn mẹ nó
thì nghe đâu đã xuất gia, đi tu đâu phía Cần Thơ. Ông lão kể chuyện rồi chỉ ra phía đồng trống:
Mộ nó ngoài kia, xa đường, sình lầy, muốn thăm có người dẫn đường cho. Bốn gốc mộ, có chôn
bốn cái ve chai để đánh dấu sợ thất lạc nhưng chưa thấy ai đến tìm cả.
Tôi ngao ngán, nhớ đến gương mặt nó lúc vào lớp tạm biệt anh em, khi rời quê xứ, năm ấy.
Và nhớ đến mẹ nó, tuy buổi áy cô đơn, chịu đựng búa rìu dư luận nhưng giữ tư cách đối với thầy
giáo, với bạn học của con mình. Ðiều mà gần như ít thấy. Ngày nay, tuy lượng thông tin dồi dào
hơn, nhưng cuộc sống càng làm cho con người thêm cô đơn. Bởi vậy, để bớt cô đơn, bức xúc vô
lý, con người cần có những gì sốt dẻo gây ấn tượng, nhưng ấn tượng nhiều khi quá nhàm, chỉ
làm khuây khỏa tạm thời mà thôi. Thời xưa cái bịnh bức xúc (stress) không ai nghe nói và quả
thật thời xưa là cô đơn kiểu khác, vì cô độc cá nhân, nhưng ngày nay lại xảy ra kiểu cô đơn giữa
đám đông, khi chen chúc dạo phố, hoặc có khi nhiều tiền nhưng thấy tiền chẳng giải quyết dứt
khoát được chuyện gì cả. Thiếu ấn tượng sâu đậm.
Ðến xứ Cù Là, tôi đã rời vùng U Minh. Xứ lạ, nước dưới rạch chảy thao thao, gần biển, lục
bình trôi từng giề, riu ríu, vào mùa thu thì đơm bông màu tím dợt, khá xinh đẹp nhưng loại bông
nầy quá mềm yếu, cắt đem chưng vào bình chừng mươi phút đã héo ủ rũ, đem luộc ăn thì chẳng
thoảng mùi vị gì cả. Ở xa, xem đẹp, thân thương vì nó như quanh quẩn bên cuộc sống của ta
nhưng người lớn tuổi luôn căn dặn trẻ con đừng bơi lội lại gần: giữa rạch, nước sâu, chảy mạnh,
làm đuối trẻ con. Những giề lục bình to thường làm ổ cho loại rắn nước, khá độc hại, tùy con.
Nói để răn đe nhưng tôi chưa thấy người nào bị rắn cắn từ giề lục bình trôi cả. Xóm Cù Là vào
buổi ấy (1935-1936) được tạm gọi là đô thị hóa nhờ cao ráo, lại gần thị xã Rạch Giá, cách
khoảng 12 kilômét với con lộ xe hơi (ô tô) nhỏ. Vì dễ giao lưu với tỉnh lỵ, thêm mầu mỡ, thích
hợp với lúa đặc sản, ngon cơm (đất có chân nước mặn thích hợp với lúa ngon cơm).Hơn nữa, từ
Hồi ký Sơn Nam
7
thời Gia Long, đã có dân cư trú khá đông. Giới điền chủ người Việt đến trưng khẩn, một hécta
giá gấp năm hoặc 10 lần đất úng của vùng U Minh. Vì ở gần thị xã, như một ốc đảo riêng biệt
nên giới điền chủ ưa tụ họp để cờ bạc, đá gà qua những sòng lớn, sòng nhỏ, lây lan đến xóm lân
cận, hấp dẫn luôn cả người nghèo túng. Chủ chứa đã ăn chịu với quan làng nên vùng Cù Là là
thế giới riêng, nuôi sống giới chủ quán ; ăn uống sang trọng, với đặc sản Tàu, Việt. Thêm tiệm
hút thuốc phiện, trên gác xép, giới tiên ông đi mây về gió ; tàng trệt là nơi hớt tóc có bán thêm
các loại thuốc trị bệnh phong tình, bệnh đàn bà, đại khái thời xưa khó trị, mãi sau nầy dùng
thuốc trụ sinh đem lại hiệu quả nhanh chóng hơn. Thợ hớt tóc nói chung là khi lớn tuổi (khoảng
50) mới được tin cậy, một tỷ lệ không nhỏ của giới thợ là nghiện thuốc phiện nặng, nhẹ, họ biết
đàn kìm (đàn nguyệt). Người thợ phụ hoặc người hàng xóm nào thích đàn ca thì kết thân, hết đàn
thì đánh cờ tướng. Bản Vọng cổ đang triển khai, sau khi thành hình từ non 20 năm trước, có thừa
tính thuyết phục. Người ca Vọng cổ thường bắt chước hơi hướm, cách xếp chữ theo đĩa hát (bây
giờ giá khá cao, còn phổ biến hạn chế). Ði đâu cũng nghe văng vẳng: “Ác ngậm non đoài, ngọn
gió Ðông Nam (nó) thổi đưa mặt nhựt hồi về nơi Tây Bắc. Nhựt dĩ hoàng hôn, tai tôi nghe tiếng
con chim oanh (nó) ríu rít dường như rủ bạn về non. Ngửa mặt nhìn, ngơ ngẩn tấm lòng son.”
Lời ca lãng mạn bâng quơ, hợp với tâm trạng người nghe, một sự giải đáp không khó khăn cho
lắm. Trên sông nước, tiếng hò tiếng hát của giới thương hồ còn văng vẳng, bấy giờ ghe gắn động
cơ gần như không có, họa chăng trên tuyến đường thủy nào đó, nơi các chợ làng, chợ quận giao
lư. Văn minh gọi là thính-thị chưa gây được uy thế...vài phóng viên hoặc đặc phái viên của vài
tuần báo ở Sài Gòn đăng tải cũng như phát xít Ðức chuẩn bị thế chiến thứ 2, họa chăng ở xóm
Cù Là nầy một đôi thầy giáo lớn tuổi lưu ý suy gẫm.
Vài người khách vãng lai dạy lời bản Tây Thi về sự gan lì của Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, bọn thanh niên ghi chép, phổ biến. Lòng yêu nước của người phía Tây Nam bấy giờ vẫn
bồng bột. Ở Tà Niên, làng Vĩnh Hòa Hiệp, sát bên chợ Cù Là, dân làng thờ ông Nguyễn Trung
Trực, vị anh hùng kháng Pháp, khởi nghĩa rồi bị giặt bắt, chém đầu năm 1868. Bảo rằng đình ấy
thiên lắm, thờ Nguyễn Trung Trực nhưng đình có trước cuộc khởi nghĩa cũng như sắc phong đã
ban từ trước cho một vị Thành hoàng Bổn cảnh.Xem Nguyễn Trung Trực như vị thần là do lòng
dân, những người thân Pháp chẳng ai dám cãi lại, truy từ chữ nghĩa ghi trong sắc thần ! Lòng dân
đã phong là chân lý tuyệt đối, đủ tính thuyết phục về tâm linh.
Những chiếc xuồng bé nhỏ vào buổi ấy (nay không còn), hừng đông là xuất hiện gần như
đúng giờ đúng khắc, bán món ăn sáng với giá cực kỳ rẻ. Bắp giã, hiểu là bắp khô, xay cho nát sơ
sài rồi đem hầm, trắng nõn, ăn với dừa khô nạo, thêm tí muối mè. Hoặc bắp nấu, hiểu là trái bắp
tươi xanh, đem luộc chín ngon ngọt, lột vài lớp bẹ ra, tha hộ lựa chọn, nào trái quá già, quá non.
Lại còn xôi nước dừa, xôi nghệ. Muốn ăn thì xuống gọi là xuồng ghé lại. Người bán ở chợ nhà
quê luôn tươi cười, sạch sẽ, áo trắng, quần đen, đầu đội khăn bàn trắng (kiểu khăn lông lau mặt
ngày nay, nhập từ bên Pháp). Thức ăn được phủ với miếng vải trắng mỏng, che bụi, che mưa,
đựng trong thau sắt tráng kẽm, nhập từ Singapo. Người bán không tranh dành, ai đi giờ khắc nấy,
với tiếng rao dễ phân biệt, gọn gàng không kéo dài như tiếng rao chè ở đường phố Sài Gòn. Thời
thịnh của văn minh sông nước. Những cô Khừng, cô Láng, cô Xứng, nghe tên là biết người Việt
lai Hoa từ một hai đời. Còn đâu các cô ấy, nay đã hơn trăm tuổi, nhà nghèo mà lạc quan đã giúp
gia đình, giúp đời !
Là đất xưa, xóm Cù Là qui tụ một số người dân tộc Khơme khá thuần thục, với đôi ba sào đất
tốt, có thể sống được, thêm cá ngoài ruộng, dưới rạch. Khi cực thì ăn cơm trắng, gạo ngon, với
Hồi ký Sơn Nam
8
trái me xanh, đâm muối tạm gọi là thức ăn. Ông sãi hàng ngày đi khất thực, vui vẻ. Ngày lễ hội,
cũng tưng bừng múa hát. Họ thích uống rượu đế, trưa mùa nắng, đôi ba người ra bụi tre sau hè,
uống lai rai, thấy giải khát ngay, đôi khi, họ ra quán uống tách cà-phê, thế là đủ. Thỉnh thoảng,
bán vài con vịt hoặc con heo, ra tận ngoài thị xã, mua cho được cây đèn “pin”, ban đêm đem rọi
lên ngọn tre, dùng cây sào dài mà đập vài con cò đang say ngủ. Gần như họ không dời chỗ ở.
Những ngày sau giải phóng 1975, tôi được cơ hội về xóm cũ, viếng phần mộ cha. Hơn ba mươi
năm qua, chưa bao giờ gặp mặt, ấy thế mà khi tôi về với mái tóc hoa râm, họ nhận ra ngay, phần
tôi thì chỉ nhớ mang máng. Ðó là những cô gái già nua, xưa tên là Cà Na, Cà Nữ ở xóm. Họ kêu
tên ...
MỤC LỤC
TỪ U MINH ÐẾN CẦN THƠ ...................................................................................................................................... 1
Chương 1. Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh hạ. ......................................................................................... 3
Chương 2. đậu bằng sơ học. ........................................................................................................................................ 19
Chương 3. Vào trường công lập Cần-Thơ................................................................................................................... 28
Chương 4. NĂM TÔI 19 TUỔI .................................................................................................................................. 45
Phần 1...................................................................................................................................................................... 45
Phần 2...................................................................................................................................................................... 49
Phần 3...................................................................................................................................................................... 52
Nguồn: namkyluctinh.org
Trình bày LP: 8.5.2014
TỪ U MINH ÐẾN CẦN THƠ
––––––––
C
ó những người nói tới nói lui có một chuyện, mãi đến khi người nghe lộ vẽ nhàm chán thì
người nói vẩn nó, vì là “vốn quí” của mình. Thấy trẻ con trèo lên cây me để hái trái thì
quát tháo : “Tụi bây là lũ bất hiếu, rủi té gãy tay, lọi chân, cha mẹ tốn kém tiền thuốc men. ”Rồi
dạy miên man rằng trong các loại cây thì “ chùm ruột là thứ nhánh giòn nhất, dễ gãy.” Rồi cứ nói
thêm rằng cây trứng cá một thời đã được mọi người ưa chuộng vì tăng trưởng nhanh, nhiều lá để
tạo bóng mát, trái màu đỏ, trẻ con ưa thích nhưng coi chừng...rắn lục loại rắn con, vảy màu xanh
dễ tiệp với màu lá cây lắm khi rình rập trẻ con, rắn lục có nọc độc, nếu có chữa.
Có ai nghe thì nói, lắm khi như nói một mình. Giới trẻ đứng giây lát rồi bỏ đi, gọi lão đó ăn
nói nghe cũng hay nhưng dường như lẩm cẩm.Nhưng không nên cãi vã, lão ta rất tự ái, tự tôn.
Tự ái là phải. Vì lão ta không nói láo. Gần đất xa trời rồi ! Nói láo làm chi cho mang tội.
Chẳng qua là kinh nghiệm trường đời có giới hạn, muốn truyền lại, già trẻ ai muốn nghe thì
nghe. Và dường như ít ai nghe. Họa chăng khi lão mất, người trẻ trở thành người già, nhớ lại
bóng dáng lão, rồi đánh giá là người có tư cách. Theo ngôn ngữ xưa trước 1945, có tư cách là có
đầu óc là người quan tâm ít nhiều đến chính trị, là người biết vinh biết nhục, có trách nhiệm.
Thời bắt đầu kháng Pháp, khoảng 1946-1947, chúng tôi đóng cơ quan ở phía ranh giới giữa
Bạc Liêu và Kiên Giang ngày nay, đất thấp và phèn, xa biển, phía Ngan Dừa, Ninh Thạnh Lợi gì
đó. Người dân làm chút ruộng và lập vườn ổi. Vườn lần hồi suy thoái, phải chặt bỏ, trồng lứa
khác để có trái to, ít hột hơn. Nhà cửa lưa thưa, đồng bào nghèo rất tốt, cười vui khi gặp anh em
cán bộ. Hôm ấy, một ông lão cho biết trong ngọn rạch còn một ngôi chùa, đúng ra là một cái am
nhỏ với ông thầy trẻ và đôi ba đệ tử. Chùa lợp lá, nhưng thầy trò đều siêng năng tụng kinh, gõ
Hồi ký Sơn Nam
1
mõ, tu hành kiểu quái lạ : “Ông thầy thỉnh thoảng uống rượu và làm “kinh tế tự túc”, tôi chưa
rành, mình tới coi thử”. Tôi nhận lời, vì tò mò. Ðến cho biết, với tâm trạng vô tư. Ðược giới
thiệu trước là “cán bộ tới thăm”, thầy đón chào và mời vào căn nhà nhỏ bên hông chùa. Ðôi ba
chục con quốc (cuốc) bị trói chân, nằm chật chội trong cái rộng bằng tre, thỏn mỏn. Thầy giải
thích đó là của đám đệ tử gài bẩy mấy ngày qua, chờ đủ trăm con mới đem ra chợ bán lấy tiền
mua gạo cho chùa ăn qua ngày, đồng thời để tiếp tế cho “Xưởng”. Hỏi thì biết rỏ hơn : Gần đó,
hơn hai ngàn mét có một xưởng nhỏ chế tạo lựu đạn nội địa, cung cấp cho du kích. Bán hàng
trăm con quốc, được thêm tiền mua chuối, đu đủ cho anh em công nhân xưởng. Anh em sống bí
mật lắm, không được phép đi dạo trong xóm, nói chi ra chợ làng.
Tu hành, không sát sanh, nhưng gài bẫy bán chim cho người khác mua về ăn thịt, rồi lấy tiền
làm việc nghĩa. Cử chỉ ấy nói chung ai cũng khen, sát sinh nhưng nhà sư và số đệ tử đã làm điều
phải, nhập thế, còn hơn là mãi tụng kinh sớm chiều. Lại nhớ năm xưa đó, lúc cơ quan đóng nơi
heo hút, trời chuyển mưa nhanh chóng, sấm sét nổ lên, ai nấy giựt mình. Lát sau một thằng bé
chạy hơ hải báo tin có đúa bé bị sét đánh chết, dường như nó là người của cơ quan. Anh em chạy
ra ruộng, khiêng đứa bé vào, tên nó là X., cha mẹ xin cho nó từ hơn tháng qua làm liên lạc, chèo
xuồng, nấu cơm và học chữ quốc ngữ. Một mặt, anh em báo tin cho cha nó biết, mặt khác cứ làm
hô hấp nhân tạo, xoa bóp tay chân. Trạm y tế ở quá xa và ai cũng đoán chắc là nó đã chết, rồi cha
nó đến, mặt mày hơ hải, khóc không ra nước mắt, ôm con giây lát nói nghẹn ngào : Anh em,
thôi, được rồi. Tôi biết chắc con tôi hết phần phước rồi. Anh em cho tôi đem nó về tai nạn nầy,
anh em không có gì đáng quở trách. Buồn là buồn cho thằng con tôi chưa làm được gì giúp đất
nước”.
Anh em cử người tới dự buổi tống táng đứa bé. Rồi hôm sau, lại dời nơi khác, ai nấy buồn và
như hối hận.
Cha đứa bé đứng nhìn theo, nói nghe tỏ rõ : “Phải chi ngày hôm qua tôi chết thế cho con tôi.
Tôi già rồi. Nó còn trẻ.”
Nhìn lại ông, rồi anh em cán bộ cúi mặt. Ông đang ở trần, dưới cơn mưa lất phất. Bấy giờ, ai
cũng thiếu áo. Thằng bé mất hôm qua mình mẩy ướt mem, áo rách. Nghi ngờ gì nữa, ông đã cởi
chiếc áo của mình ra mà đắp cho thằng bé được ấm áp hơn, khi nó từ giã cuộc đời nầy.
Mới đây, đọc báo thấy tả những cái khạp, được neo lại không xa nhà cho lắm. Nạn nhân vụ lũ
lụt to lớn của đồng bằng. Chết giữa cảnh trời nước bao la, trong phạm vi đôi ba cây số ngàn mới
gặp mươi căn chòi hoặc năm bảy cây gáo cổ thụ, rải rác vác chòm cây điên điển tạp nhạp chỉ
dùng làm chất đốt, nhưng được ca ngợi vì gần như không trồng mà cứ mọc lan tràn, trái khô rụng
xuống là mọc trổ bông tươi ăn khá ngon, màu vàng rực rỡ trong khoảng thời gian ngắn. Vài đứa
bé vô ý rơi xuống, nước đang ngập vào nhà, lập tức bị cuốn trôi giữa khu vực trước kia là đồng
ruộng nhưng lũ đã phủ lên đôi ba mét, chảy cuồn cuộn. Chọn cái khạp đựng gạo hoặc cái lu
(chum, vại to) liệm với quần áo, chiếu. Nạn nhân dĩ nhiên gần như ngồi trong khạp, co chân lại,
hai tay khó thẳng. Rồi đậy nắp lại trét xi măng. Ðặt cái khạp ấy không xa nhà cho lắm để dễ bề
canh chừng, sợ nó trôi mất, và cha mẹ cũng chẳng muốn rời đứa con đã mất nhưng còn đó. Tìm
bốn năm cây tràm nhỏ cắm chung quanh để rào cái khạp với mớ dây kẽm, nhờ vậy cái quan tài
tròn, ngộ nghĩnh nổi lên rồi hạ thấp xuống tuỳ theo mưa nhiều ít từ thượng nguồn không bao giờ
chao đảo lắc lư, hy vọng rằng đứa bé được yên thân, không trăn trở, “nghiên mình” tức là không
giữ được “tư cách” vì người chết vẫn là người sống. “Lòng đây tưởng đó mất như còn”( Ðồ
Chiểu), mặc dầu lúc sống chưa làm được điều gì đáng kể. Nạn nhân của lũ lụt nếu lớn tuổi hơn
Hồi ký Sơn Nam
2
thì chôn trong cái quan tài, gọi là như vậy cho khỏi tủi thân, chỉ là mấy tấm ván mỏng ghép lại.
Người chết mặc nhiên được lau chùi sạch sẽ, khô ráo, mặc quần áo tươm tất, nằm với tư thế
đứng đắn nhất là xuôi tay, xuôi chân, mặt nhìn ngửa lên trời, phải phun rượu để uốn nắn lại trong
trường hợp tay chân co quắp. Ngày có những loại bao ny-lông to và dài theo ni tấc của người
lớn, bỏ vào bao,g ìn giữ được mùi hôi rữa, đặt vào quan tài, thêm nhiều mảnh ni-lông rồi đưa ra
khỏi nhà, không quá xa để canh chừng. Giữa trời nước bao la, sóng trào nước xoáy, cứ xốc bón
cây chổi như hình chữ X, treo lên cao ; bên dưới, làm thêm một cái sàn để quan tài dứ vào, để
phòng khi giông gió khiến quan tài rơi xuống đáy nước. Trên nóc quan tài, làm kiểu mái nhà,
bằng vải nhựa dẻo. Chưa hết. Ngày nay lắm nơi bố trí hai cái ống tre, hoặc ống nhựa cắm bên
quan tài, đựng gạo và muối, tượng trưng cho lương thực, thực phẩm cần yếu cho người quá cố,
vì còn bối rối, thân nhân không thể nào cúng đường dịp cho tuần đầu, hai tuần đầu và cúng 100
ngày.Như việc tống táng với lương thực của người dân tộc trên Cao nguyên.
Nhắc lại dông dài để nhớ mãi “tư cách” của con người. Sống hay chết, già hay trẻ đều là con
người, phải giữ tư cách.
Xác cháu bé khi nước giựt xuống, cha mẹ sẽ đem chôn kín dưới đất. Rồi mùa nắng, rồi mùa
nước lụt năm sau, bông điên điển hoang dã sẽ trổ vàng ngời soi bóng nước từ đầu nguồn tuôn về.
“Chúc hồn em mãi tiêu dao. Về trần tìm lại chiêm bao thuở nào”.(Kiên Giang)
Chương 1. Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh hạ.
ôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U Minh Hạ, thuộc khu vực rừng tràm trầm thủy ven
vịnh Xiêm La mà Pháp khoanh vùng để bảo quản và quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên
người dân địa phưong có thể đốn cây tươi để bán lẻ tẻ hoặc dùng trong gia đình. Ðây là khu vực
thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành
Thông Chí đời Gia Long đã mô tả. Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng
chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước
tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy, nước dưới rạch như
mãi lưu thông. Tóm lại, nước dưới rạch không chảy từ đất cao, xuống hạ lưu đất thấp. Bờ biển là
bãi bùn phù sa, đầy cây mấm, cây giá không có giá trị kinh tế như cây đước. Nhà ở bờ rạch, ra
biển khoảng 4 kilômét, ấy thế mà từ thuở lọt lòng đến hơn 10 mét, đầy cây mấm, cây giá, muỗi
mòng bay ào ào ngày như đêm, bước xuống thì lún ngang đầu gối. Rừng cũng vậy, mãn năm
sình lầy, dưới bùn lố nhố những gốc cây đã chết hoặc cây sậy, đế, khá bén nhọn. Ấy thế mà
người dân đi chân đất, gần như chẳng bao giờ bị thương tích đáng kể. Lớn lên, được dịp đi tận
Hà Tiên rồi Vũng Tàu hoặc Nha Trang, tôi vui sướng vô cùng. Rõ ràng là biển của xứ người
trông thơ mộng, sạch sẽ với bãi cát trắng hoặc vàng, nước biển xanh đậm không như phía vịnh
Xiêm La toàn là phù sa màu vàng sậm, màu nâu. Khác hẳn rừng miền Ðông nơi có suối, có hốc
đá, nơi con nai ngơ ngác uống ánh trăng vàng. Chung quanh nhà, nơi tôi chào đời, đầy lau sậy,
luôn luôn có muỗi lại còn ong rừng (gọi ong mật).
Hừng sáng, trẻ con dễ đói bụng, thường đi tìm đám lau sậy hoặc cây tạp mà gặp tổ ong mật, ổ
còn nhỏ ni tấc cỡ cái bánh tráng (bánh đa). Vắt mật ong, uống tại chỗ gọi là ăn điểm tâm, lát sau
ra về, lừng khừng như kẻ say rượu vì mật ong có rượu, gây khó chịu lúc đói bụng. Lắm khi trẻ
con đi dạo trong đồng cỏ, thu hoạch được chút ít mật ong, đem lại tiệm quán đổi lấy vài viên
T
Hồi ký Sơn Nam
3
kẹo. Mật ong quá ít, bán chẳng ai mua, muốn bán thì phải có số lượng vài chục lít, đem ra tỉnh
lỵ. Cũng như cá lóc, cá trê, muốn thu hoạch khối lượng to cần có thương lái gíup vốn sắm xuồng,
sắm câu, lưới để sống tạm qua ngày. Xóm tôi hồi đó còn vài mươi gia đình người Khơme, người
lớn tuổi bảo rằng họ tản cư đến khi Pháp đánh chiếm hồi cuối thế kỷ 19, dân số Khơme dường
như không tăng không giảm vì trẻ con kém săn sóc dễ bị đào thải từ tấm bé. Gần xóm, vài ao
nước tương đối ngọt với thềm cao. Thỉnh thoảng, dân bắt rắn, bắt lươn dùng chỉa mà xom, phát
hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy, nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của
người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa. Ông nội tôi chào đời ở cù lao Ông
Chưởng (An Giang) khoảng 1840, ông cố tôi cũng ở đấy, từ xưa. Ông nội tôi chạy giặc Pháp,
qua Rạch Giá, đến Cù Là rồi xuống U Minh. Bấy giờ Pháp cho trưng khẩn đất tự do, nhưng ai
cũng chán chê vì đất quá úng, chưa có dân lưu tán đến, họ chờ mãi vẫn không thấy người Pháp
cho đào kinh thủy lợi. Ðất hoang ấy phải trả lại cho nhà nước để khỏi đóng thuế, chỉ giữ chút ít
diện tích để đào đìa (ao nuôi cá) hoặc chờ mùa nắng cá tự động gom vào trũng. Hồi mới đến định
cư, thử trồng một cây khế, nay đã còi cọc, trông khôi hài nhưng có giá trị vì lớn tuổi hơn tôi. Bác
hai của tôi phá rừng, trồng vài mươi cây dừa nơi đất úng, về sau, trồng một cây mai vàng, gần
Tết cũng trỏ vài bông. Bác tôi giữ búi tóc, thích giao thiệp với xóm người Khơme nói trên, ông
rành tiếng Khơme, lại có khả năng kể chuyện cổ tích Khơme cho trẻ con nghe, và thích lên đồng
bóng (gọi xây Á-rặc) mời thần thánh địa phương người Khơme nhập vào. Lúc ấy, ông uống
rượu, xem bói tướng cho người địa phương. Ông kể chuyện xưa ngày khẩn hoang, không cường
điệu, tôi còn giữ được vài ấn tượng sâu sắc, nhờ vậy mà sau nầy tôi viết quyển Lịch sử khẩn
hoang miền Nam với thái độ tự tin. Hồi Diệm còn cai trị, khủng bố ác liệt, tôi cố gắng viết
những truyện ngắn, sau nầy gom lại lấy nhan đề Hương Rừng Cà Mau. Người khen kẻ chê
nhưng nên nhớ rằng chế độ kiểm duyệt của Diệm tinh tế lắm. Tôi gởi một quyển về cho bác Hai
tôi, ông không biết chữ Hán chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc lại, năm ấy bác đã
khoảng 90 tuổi. Ðứa cháu ấy viết lá thơ ngắn gởi lên Sài Gòn, tóm tắt ý kiến của bác mà tôi vô
cùng trân trọng : “Thằng nầy nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”. Phải rồi, truyện
ngắn, truyện kể gì gì đều là loại hư cấu. Nhưng hư cấu phải có căn. Có căn tức là mang cốt lõi
hiện thực. Lời nhận xét của bác Hai khiến tôi hãnh diện với thâm tâm.
Lớn lên, đâu khoảng tôi 6 tuổi, cha tôi là con út trong gia đình bèn rời bỏ quê hương đi khẩn
đất, lên phía Bắc, ven vịnh Thái Lan, cách thị xã Rạch Giá chừng 15 kilômét phía Hà Tiên (nay
gọi là vùng ven khu Tứ Giác). Bấy giờ con kinh Rạch Giá-Hà Tiên vừa đào xong nhưng chưa
được sử dụng vì bên bờ thưa thớt dân cư, nước phèn mặn. Dọc theo mé biển nhiều giồng cát cao
ráo đã có người khơme định cư, co cụm trên cao, ven giồng là đất thấp, úng lụt. Thêm vài ngọn
đồi thơ mộng, dính vào đất liền, gọi là vùng Hòn Chông, Ba Hòn với hai cột đá cao, nằm
nghiêng một chiều, gọi hòn Phụ Tử rồi lên Hà Tiên gặp nhiều hòn đá vôi (xi măng Hà Tiên). Ăn
đến biên giới là những thắng cảnh như Tô Châu, đông Hồ, Thạch Ðộng, gần xa ngoài biển là
hàng chục đảo lớn nhỏ, khi trời quang mây tạnh, nhìn thấy dạng đảo Phú Quốc khá cao và dài.
Không khí u buồn nhưng chưa quá ảm đạm. Còn đâu thời Mạc Thiên Tứ với Chiêu Anh Các !
Phía đông của toàn dải đất bao la, trông nhàm chán nầy là dãy Thất Sơn dọc theo biên giới,
phía Tây Bắc rồi xuống phía Nam là sông Hậu khá rộng (nhánh của sông Tiền, tức sông Cửu
Long). Giống hệt như phía Ðồng Tháp Mười với cỏ bàng, và hàng trăm thứ cỏ cao, cỏ thấp
chẳng có giá trị kinh tế. Có thể nói nơi tiếp giáp với nước Cam Bốt là Ðồng Tháp Mười và khu
vực Tứ Giác nói trên, riêng khu Tứ Giác đã được Thoại Ngọc Hầu từ cuối đời Gia Long khoanh
Hồi ký Sơn Nam
4
vùng với kinh Vĩnh Tế và kinh Thoại Hà (Long Xuyên). Giữa biển cỏ hoang vắng nầy, nhô lên
núi Ba Thê với di chỉ quan trọng của nước Phù Nam xa xưa hồi đầu Tây lịch. Khu Tứ Giác, kể
luôn Ðồng Tháp Mười là đất khắc nghiệt, đã nhận chìm nước Phù Nam nay ít ai biết. Và các nhà
khảo cứu còn đang mò mẫm tìm hiểu : Dân Phù Nam từ đâu đến và họ đã đi về đâu ? Cánh đồng
cỏ bao la nầy được người Việt trổ tài khai phá, tuy phải đối đầu với môi trường xa lạ, nhất là về
thủy văn. Khác hẳn cánh đồng của sông Hương, sông Thu Bồn hoặc có qui mô như sông Ðồng
Nai. Những cơn lụt thường niên xuất phát từ Tây Tạng, Lào, Cam Bốt nhưng Thoại Ngọc Hầu đã
phân vùng khá chính xác với hai con kinh phía Bắc và phía Nam, nhờ vậy mà tên tuổi của ông
được hậu thế mãi ghi nhớ.
Nếu vùng U Minh phía Nam ven biển vịnh Xiêm La, nơi tôi chào đời (xã Ðông Thái, ấp Giữa
) còn khó tìm trên bản đồ thì xóm Sóc Xoài, nơi cha tôi đến khẩn hoang đợt sau khó tìm hơn,
thuộc xã Sóc Sơn, ngay rạch Tà Lúa. Ðất phèn và mặn, phải đào ao, uống tạm, nấu cơm. Ít ai
bệnh hoạn vì loại nước ao nầy,vài người cho rằng bấy giờ ta chưa dùng thuốc trừ sâu. Núi thấp
ngoài biển rải rác nhiều đảo nhỏ, gần bờ là những bầy quạ đen hoặc bầy ó. Hình dáng con ó được
tả lại qua câu thai đố : “mình dà (đà) mặc áo cũng dà. Tay xách con gà, đầu đội thúng bông.” Ó
đáp xuống, xớt gà con rồi bay lên cao, đầu ó mang chòm lông trắng ...
Chân trời rộng, bên kia vịnh là các nước Thái, Mã Lai nhưng ít giao lưu vì thiếu hàng hóa và
khả năng mua sắm.Về đâu ? Về đâu ? Chỉ biết nhìn lên trời, tìm hướng siêu thoát, nương vào
mây bay.
Vào mùa mưa, gió Tây Nam của gió mùa đen kịt, từng nhà như sống cô lập, thôi thì ăn tạm
chén cơm, chút nước mắm rồi ngủ, dầu đèn không có để mà thấp, chẳng còn chuyện gì để cho
người trong nhà bàn bạc với nhau. Cọp beo từ lâu rồi không ai thấy, cường hào ác bá chẳng
muốn lấn hiếp kẻ tay trơn, ma quỉ có lẽ đã mất dạng, đến như bầy muỗi lừng danh kêu “như sáo
thổi” cũng lẩn trốn khó khăn trong tấm vách lá đang run phần phật. “Thương thay,thập loại
chúng sinh !”
Lớn lên, càng già tôi càng hiểu rằng những ấn tượng đầu tiên khi mình còn bé vừa tiếp xúc
với cuộc đời cứ theo thời gian mà khắc càng sâu trong tâm thức,không tài nào diễn tả được, khi
ẩn khi hiện. Cũng như khi vào trường làng ở vùng nầy, tôi học chung với vài cậu bé Việt lai Hoa,
Hoa lai Khơme. Học trò không mấy đứa có khai sinh, tên nghe ngộ nghĩnh như thằng Tứng,
thằng Khưng, thằng Xa Ðơn. Lắm đứa ở trần mặc quần cụt vào lớp, thỉnh thoảng lén ra ngoài sân
rồi trở về nhà. Thầy giáo đành chịu vậy, gắt gỏng quá thì lớp học khó tìm được mươi học trò,
chưa nói đến mùa mưa, làm ruộng, vài đứa giúp cha mẹ trong việc đồng áng, hoặc lên cơn sốt
rét. Thầy giáo do làng hoặc tổng tuyển chọn, ăn lương khoán. Ngành giáo dục tỉnh thỉnh thoảng
gở đến vài xấp tư liệu, kiểu giáo án, khá tươm tất như là nội san định kỳ, gọi Sư Phạm Học
Khóa. Vì vậy, tuy có ít nhiều sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ Hà Nội gởi vào, nhưng trường ở
xa xôi vẫn dạy theo tư liệu riêng, không sát theo chương trình nhưng gợi cảm hơn.Thí dụ như bài
học thuộc lòng :
Ðêm khuya, nhà, vắng, tớ đang sầu,
Lũ ếch sao bây dám bảo nhau
Kêu khắp bốn phương nhà tớ ở ?
-Này im, nghe tớ hỏi vài câu.
Bây giận chi mà kêu ếch ộp
Hay bây có cái thú riêng gì ?
Hồi ký Sơn Nam
5
Thú gì, rủ tớ đi theo với,
Rủ tớ đi đâu tớ cũng đi !
Học trò đọc lên, lúc được thầy giáo gọi “trả bài” lấy làm thích thú, dễ nhớ, như quen thuộc với
môi trường đồng không mông quạnh. Lũ trẻ chắc cũng hiểu đại khái nội dung nên cười tủm tỉm ;
thầy giáo vừa rời quê xứ, đến khu Tứ Giác này để dạy học với đồng lương vô nghĩa cũng có đôi
phút chạnh lòng nhớ ruộng, vườn, bờ cỏ hoang vắng, từ thuở ông bà. Kỷ niệm thời thơ ấu bất
diệt, mặc dầu đã lớn tuổi. Học vỡ lòng một đôi năm, cha đua tôi từ xóm Cù Là, xem như cỏ kính,
gần thị xã Rạch Giá, trên giồng đất cao ráo cũng nhiều người Khơme ở lâu đời, nhưng ruộng tốt,
lại có ngã ba sông rạch.Mấy bô lão cho rằng Cù Là là cái xứ bán thứ cao xoa bóp trị bá chứng,
do người Cù Là đưa tới, hiểu là người Miến Ðiện (nay Myanmar).Vịnh Xiêm la quả là nơi hội tụ
nhỏ bé của vài nước Ðông Nam châu Á.Gần Cù Là nay còn tên đất Xà Xiêm (Sre Xiêm), nơi
người Xiêm đến làm ruộng (thời Nguyễn Ánh-Tây Sơn chăng?).Nhưng sôi động nhất là sự hiện
diện của người Hoa, phần lớn là Triều Châu, họ mua bán sỉ lẻ, đặc biệt là tổ chức sòng bạc ngày
đêm, gần như là công khai. Thanh niên phần đông là lai tạp, chiều chiều đến học võ và trình diễn
nào võ Khơme, võ Việt Nam (?), võ Triều Châu, võ Lào, võ Xiêm (nhất là dịp lễ hội ở chùa Phật
người Khơme). Ðược ở trọ nhà người bác ruột, ông có trưng khẩn vài mươi mẫu đất khá tốt, nhà
lợp ngói, vách ván, nền lót gạch tàu, rõ là tiêu biểu cho văn minh Việt ở vùng đất tụ hội, giao lưu
nầy. Trước sân, nhờ rạch Cù Là được nguồn nước ngọt đưa vào nên trồng khá nhiều cây cảnh
như nguyệt quới (quí), ngâu, lài, đặc biệt là hai cội mai vàng. Tết về vàng rực hoa to ; hoa cỏn
búp, lại còn bàn thờ ông bà, lư hương, nhà hơi thấp, bảo rằng trong nhà phải tối nhá nhem, ông
bà phải chịu về với con cháu. Bàn thờ luôn thắp ngọn đèn trứng vịt, đó là lửa thiêng, lửa hương
hỏa. Con cháu ưa thức đêm phải ngủ nhà dưới, phía trước nơi nấu bếp. Học hành ngày hai buổi,
ngày chủ nhật mới rảnh rang, dạo chơi sau hè cách nhà chừng 100 mét, đã đắp vùng đất khá rộng
và cao, gọi thổ mộ, hiểu là nơi chôn cất của riêng dòng họ. Phần mộ ông nội tôi ở đó, mặt bằng,
thọ hơn 80 tuổi, mất năm “ Bảo Ðại tam niên”1929.
Tuy ở xứ Nam Kỳ thuộc địa, niên hiệu Bảo Ðại của Trung Kỳ vẫn được mến mộ, nhắc nhở
văn hóa Việt Nam. Ở thổ mộ, còn giữ được một cây rừng, mọc sẵn, cây chòi mòi, thân không to,
cho từng chùm trái nhỏ như hạt tiêu, ăn chua. Năm ấy, cả xóm náo động lên : Cây “muồng giè”
có trái. Tới mà coi ! Muồng giè là loại cây rừng, xóm Cù Là còn sót một cây cao cỡ cây dừa lão,
thân to và thẳng, lá như lá cây cọ, mọc trơ giữa đất ruộng, sau chùa. Lại bảo rằng cây nầy trăm
năm mới có trái một lần, điềm may mắn của cả khu vực. Hằng trăm người bao vây gốc cây, từng
chùm trái được thòng xuống. Dân trong xóm mang rổ, thúng đến chia phần xem nó là tài sản
công cộng. Trái nó to như trái nhãn, đem về luộc ăn, bên trong có chất bột màu tím dợt, thơm
tho. Vài người bảo nếu đem trái ấy mà chà ra bột, làm bánh ăn, ngon như bột hoành tinh. Tôi
được ăn thử, để hưởng “lộc nước, ơn trời”. Quả thật là ngon. Từ đấy đến nay, ngao du tận Sài
Gòn, miền Ðông Nam Bộ, tôi chỉ nghe văng vẳng tên giống cây nầy, chưa được ăn lần thứ nhì.
Nhờ đi học ở trường làng chính qui, tôi được tiếp xúc với sách giáo khoa do Trần Trọng Kim,
NguyễnVăn Ngọc soạn, quen với văn hoá sông Hồng, thí dụ như những câu ca dao “Trong đầm
gì đẹp bằng sen”, “Con cò mà đi ăn đêm”, thêm chuyện phương Ðông như “Ðạo bằng hữu phải
có thủy chung”, “Lý Mật nuôi bà” hoặc chuyện cổ Tây phương như “Cái lưỡi” của Ê-sốp.Vài
đoạn ngắn khá thơ mộng, đầy tính nhân bản, đọc qua là thuộc lòng ngay như “Ai bảo chăn trâu là
khổ”. Lần đầu tiên học chung với học trò chính qui, có khai sinh, tên cha mẹ. Trong lớp treo
Hồi ký Sơn Nam
6
bảng Danh dự ghi tên mấy học sinh đứng đầu về điểm trong tháng, lại còn bảng ghi danh sách
học sinh thay phiên nhau quét lớp.
Năm học ở Cù Là, tôi được sắp vào hạng giỏi. Học sinh phần lớn siêng năng, rất sợ thầy giáo,
quê thầy ở tận Cao Lãnh. Hôm nọ điểm danh thấy vắng một đứa, tên là Mì. Học sinh vắng mặt,
có hoặc không xin phép trước là bình thường nhưng chưa chi học sinh nhốn nháo lên. Thằng Mì
đến cổng trường, đứng lại chờ mẹ nó nắm tay dắt vào lớp. Mẹ và con bịt khăn tang, đứng do dự
trong khi thầy giáo bước tới. Mẹ nó khóc. Thầy giáo nói lẩm bẩm, rồi mẹ nó bước ra về. Thầy
bảo rằng hôm nay thằng Mì nghỉ học vì cha nó bị giết tại nhà. Học trò im lặng rồi bàn tán xì xào,
thầy giáo như bần thần, không giảng bài tiếng nào cả. Lát sau, trống đánh tan buổi học. Nhà
thằng Mì cách nhà trường khoảng 3 cây số ngàn, nếu đi tắt qua ruộng. Tuy là chuyện của người
lớn, học trò như buồn lây, lủi thủi ra về, không ồn ào trước sân như thường lệ. Và ngày hôm sau,
lúc đầu giờ mẹ thằng Mì lại dắt nó đến, cũng mặc tang phục, gặp thầy giáo rồi day về phía học
sinh, ngỏ lời cảm ơn nhà trường, thầy giáo, các bạn bè học sinh rồi tạm biệt với lý do là sau đám
tang, hai mẹ con phải đi về quê, không xa, ở kinh Nước Mặn, bà con dòng họ sẽ giúp đỡ.
Cha thằng Mì chết trong trường hợp nào ? Mười năm sau, thời kháng Pháp, tình cờ tôi theo
chân anh em Vệ Quốc Ðoàn đến đóng tại khu vực trường học xưa ; Vài người lớn tuổi cho biết
mẹ thằng Mì có đời chồng trước, ly thân rồi gặp người chồng sau, sanh ra nó. Người chồng trước
trở về đánh ghen, và cha ruột thằng Mì bị chém lúc cãi vã. Người chồng trước bị bắt tại trận, đưa
lên tòa đại hình Cần Thơ xử đâu năm năm khổ sai, đày biệt xứ. Thằng Mì tham gia dân quân du
kích địa phương, can đảm lắm, đã hy sinh, đồng bạn đã làm lễ truy điệu long trọng. Còn mẹ nó
thì nghe đâu đã xuất gia, đi tu đâu phía Cần Thơ. Ông lão kể chuyện rồi chỉ ra phía đồng trống:
Mộ nó ngoài kia, xa đường, sình lầy, muốn thăm có người dẫn đường cho. Bốn gốc mộ, có chôn
bốn cái ve chai để đánh dấu sợ thất lạc nhưng chưa thấy ai đến tìm cả.
Tôi ngao ngán, nhớ đến gương mặt nó lúc vào lớp tạm biệt anh em, khi rời quê xứ, năm ấy.
Và nhớ đến mẹ nó, tuy buổi áy cô đơn, chịu đựng búa rìu dư luận nhưng giữ tư cách đối với thầy
giáo, với bạn học của con mình. Ðiều mà gần như ít thấy. Ngày nay, tuy lượng thông tin dồi dào
hơn, nhưng cuộc sống càng làm cho con người thêm cô đơn. Bởi vậy, để bớt cô đơn, bức xúc vô
lý, con người cần có những gì sốt dẻo gây ấn tượng, nhưng ấn tượng nhiều khi quá nhàm, chỉ
làm khuây khỏa tạm thời mà thôi. Thời xưa cái bịnh bức xúc (stress) không ai nghe nói và quả
thật thời xưa là cô đơn kiểu khác, vì cô độc cá nhân, nhưng ngày nay lại xảy ra kiểu cô đơn giữa
đám đông, khi chen chúc dạo phố, hoặc có khi nhiều tiền nhưng thấy tiền chẳng giải quyết dứt
khoát được chuyện gì cả. Thiếu ấn tượng sâu đậm.
Ðến xứ Cù Là, tôi đã rời vùng U Minh. Xứ lạ, nước dưới rạch chảy thao thao, gần biển, lục
bình trôi từng giề, riu ríu, vào mùa thu thì đơm bông màu tím dợt, khá xinh đẹp nhưng loại bông
nầy quá mềm yếu, cắt đem chưng vào bình chừng mươi phút đã héo ủ rũ, đem luộc ăn thì chẳng
thoảng mùi vị gì cả. Ở xa, xem đẹp, thân thương vì nó như quanh quẩn bên cuộc sống của ta
nhưng người lớn tuổi luôn căn dặn trẻ con đừng bơi lội lại gần: giữa rạch, nước sâu, chảy mạnh,
làm đuối trẻ con. Những giề lục bình to thường làm ổ cho loại rắn nước, khá độc hại, tùy con.
Nói để răn đe nhưng tôi chưa thấy người nào bị rắn cắn từ giề lục bình trôi cả. Xóm Cù Là vào
buổi ấy (1935-1936) được tạm gọi là đô thị hóa nhờ cao ráo, lại gần thị xã Rạch Giá, cách
khoảng 12 kilômét với con lộ xe hơi (ô tô) nhỏ. Vì dễ giao lưu với tỉnh lỵ, thêm mầu mỡ, thích
hợp với lúa đặc sản, ngon cơm (đất có chân nước mặn thích hợp với lúa ngon cơm).Hơn nữa, từ
Hồi ký Sơn Nam
7
thời Gia Long, đã có dân cư trú khá đông. Giới điền chủ người Việt đến trưng khẩn, một hécta
giá gấp năm hoặc 10 lần đất úng của vùng U Minh. Vì ở gần thị xã, như một ốc đảo riêng biệt
nên giới điền chủ ưa tụ họp để cờ bạc, đá gà qua những sòng lớn, sòng nhỏ, lây lan đến xóm lân
cận, hấp dẫn luôn cả người nghèo túng. Chủ chứa đã ăn chịu với quan làng nên vùng Cù Là là
thế giới riêng, nuôi sống giới chủ quán ; ăn uống sang trọng, với đặc sản Tàu, Việt. Thêm tiệm
hút thuốc phiện, trên gác xép, giới tiên ông đi mây về gió ; tàng trệt là nơi hớt tóc có bán thêm
các loại thuốc trị bệnh phong tình, bệnh đàn bà, đại khái thời xưa khó trị, mãi sau nầy dùng
thuốc trụ sinh đem lại hiệu quả nhanh chóng hơn. Thợ hớt tóc nói chung là khi lớn tuổi (khoảng
50) mới được tin cậy, một tỷ lệ không nhỏ của giới thợ là nghiện thuốc phiện nặng, nhẹ, họ biết
đàn kìm (đàn nguyệt). Người thợ phụ hoặc người hàng xóm nào thích đàn ca thì kết thân, hết đàn
thì đánh cờ tướng. Bản Vọng cổ đang triển khai, sau khi thành hình từ non 20 năm trước, có thừa
tính thuyết phục. Người ca Vọng cổ thường bắt chước hơi hướm, cách xếp chữ theo đĩa hát (bây
giờ giá khá cao, còn phổ biến hạn chế). Ði đâu cũng nghe văng vẳng: “Ác ngậm non đoài, ngọn
gió Ðông Nam (nó) thổi đưa mặt nhựt hồi về nơi Tây Bắc. Nhựt dĩ hoàng hôn, tai tôi nghe tiếng
con chim oanh (nó) ríu rít dường như rủ bạn về non. Ngửa mặt nhìn, ngơ ngẩn tấm lòng son.”
Lời ca lãng mạn bâng quơ, hợp với tâm trạng người nghe, một sự giải đáp không khó khăn cho
lắm. Trên sông nước, tiếng hò tiếng hát của giới thương hồ còn văng vẳng, bấy giờ ghe gắn động
cơ gần như không có, họa chăng trên tuyến đường thủy nào đó, nơi các chợ làng, chợ quận giao
lư. Văn minh gọi là thính-thị chưa gây được uy thế...vài phóng viên hoặc đặc phái viên của vài
tuần báo ở Sài Gòn đăng tải cũng như phát xít Ðức chuẩn bị thế chiến thứ 2, họa chăng ở xóm
Cù Là nầy một đôi thầy giáo lớn tuổi lưu ý suy gẫm.
Vài người khách vãng lai dạy lời bản Tây Thi về sự gan lì của Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, bọn thanh niên ghi chép, phổ biến. Lòng yêu nước của người phía Tây Nam bấy giờ vẫn
bồng bột. Ở Tà Niên, làng Vĩnh Hòa Hiệp, sát bên chợ Cù Là, dân làng thờ ông Nguyễn Trung
Trực, vị anh hùng kháng Pháp, khởi nghĩa rồi bị giặt bắt, chém đầu năm 1868. Bảo rằng đình ấy
thiên lắm, thờ Nguyễn Trung Trực nhưng đình có trước cuộc khởi nghĩa cũng như sắc phong đã
ban từ trước cho một vị Thành hoàng Bổn cảnh.Xem Nguyễn Trung Trực như vị thần là do lòng
dân, những người thân Pháp chẳng ai dám cãi lại, truy từ chữ nghĩa ghi trong sắc thần ! Lòng dân
đã phong là chân lý tuyệt đối, đủ tính thuyết phục về tâm linh.
Những chiếc xuồng bé nhỏ vào buổi ấy (nay không còn), hừng đông là xuất hiện gần như
đúng giờ đúng khắc, bán món ăn sáng với giá cực kỳ rẻ. Bắp giã, hiểu là bắp khô, xay cho nát sơ
sài rồi đem hầm, trắng nõn, ăn với dừa khô nạo, thêm tí muối mè. Hoặc bắp nấu, hiểu là trái bắp
tươi xanh, đem luộc chín ngon ngọt, lột vài lớp bẹ ra, tha hộ lựa chọn, nào trái quá già, quá non.
Lại còn xôi nước dừa, xôi nghệ. Muốn ăn thì xuống gọi là xuồng ghé lại. Người bán ở chợ nhà
quê luôn tươi cười, sạch sẽ, áo trắng, quần đen, đầu đội khăn bàn trắng (kiểu khăn lông lau mặt
ngày nay, nhập từ bên Pháp). Thức ăn được phủ với miếng vải trắng mỏng, che bụi, che mưa,
đựng trong thau sắt tráng kẽm, nhập từ Singapo. Người bán không tranh dành, ai đi giờ khắc nấy,
với tiếng rao dễ phân biệt, gọn gàng không kéo dài như tiếng rao chè ở đường phố Sài Gòn. Thời
thịnh của văn minh sông nước. Những cô Khừng, cô Láng, cô Xứng, nghe tên là biết người Việt
lai Hoa từ một hai đời. Còn đâu các cô ấy, nay đã hơn trăm tuổi, nhà nghèo mà lạc quan đã giúp
gia đình, giúp đời !
Là đất xưa, xóm Cù Là qui tụ một số người dân tộc Khơme khá thuần thục, với đôi ba sào đất
tốt, có thể sống được, thêm cá ngoài ruộng, dưới rạch. Khi cực thì ăn cơm trắng, gạo ngon, với
Hồi ký Sơn Nam
8
trái me xanh, đâm muối tạm gọi là thức ăn. Ông sãi hàng ngày đi khất thực, vui vẻ. Ngày lễ hội,
cũng tưng bừng múa hát. Họ thích uống rượu đế, trưa mùa nắng, đôi ba người ra bụi tre sau hè,
uống lai rai, thấy giải khát ngay, đôi khi, họ ra quán uống tách cà-phê, thế là đủ. Thỉnh thoảng,
bán vài con vịt hoặc con heo, ra tận ngoài thị xã, mua cho được cây đèn “pin”, ban đêm đem rọi
lên ngọn tre, dùng cây sào dài mà đập vài con cò đang say ngủ. Gần như họ không dời chỗ ở.
Những ngày sau giải phóng 1975, tôi được cơ hội về xóm cũ, viếng phần mộ cha. Hơn ba mươi
năm qua, chưa bao giờ gặp mặt, ấy thế mà khi tôi về với mái tóc hoa râm, họ nhận ra ngay, phần
tôi thì chỉ nhớ mang máng. Ðó là những cô gái già nua, xưa tên là Cà Na, Cà Nữ ở xóm. Họ kêu
tên ...
 





