Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Kể chuyện danh nhân Việt Nam tập 1 - Các vị tổ ngành nghề Việt nam (Lê Minh Quốc)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 13h:13' 29-04-2024
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 13h:13' 29-04-2024
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
1
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Lê Minh Quốc
Các vị tổ ngành nghề Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P. Hồ Chí Minh
: Trẻ, 2009.
208tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam; T.1)
1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nghề nghiệp -- Việt Nam -- Lịch sử. 3. Nghề thủ công -- Việt Nam
-- Lịch sử. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân Việt Nam.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
Fax: 84.8.8437450
E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
Website: http://www. nxbtre.com.vn
4
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Lời nói đầu
“Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” là tập sách mở đầu cho bộ
sách nhiều tập KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà
thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Tập sách này đã được tái bản nhiều
lần. Nay theo yêu cầu của độc giả, chúng tôi sắp xếp, bổ sung thêm
nhiều tư liệu, hình ảnh trong điều kiện có thể để phục vụ tốt hơn
nữa. Khi thực hiện bộ sách này, chúng tôi mong muốn giúp cho
bạn đọc – nhất là thanh thiếu niên – hiểu được sự hình thành của
các ngành nghề và thấm nhuần công đức của các danh nhân đã có
nhiều đóng góp trong các ngành nghề truyền thống. Đây là điều
cần thiết trên hành trình “về nguồn” để chúng ta cùng tự hào, hãnh
diện với những tên tuổi gắn liền với một ngành nghề nhất định.
Chúng tôi tin rằng, bạn đọc sẽ cùng chia sẻ và đồng tình với
chúng tôi về suy nghĩ mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu
nhân Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1969: “Trong nhiều truyền thống tốt
đẹp, dân tộc Việt Nam ta luôn giữ vững một truyền thống có ý nghĩa hay
và đẹp vô cùng: tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã có công lớn
trong việc dựng nước và giữ nước. Trong phạm vi của một tập thể nhỏ là
làng xóm, bao gồm nhiều họ, nhiều gia đình, cũng như trong phạm vi cả
nước, dân tộc Việt Nam ta, trong đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng
và đời sống của mình đều gắn liền hiện tại với quá khứ, quê hương nhỏ
với Tổ quốc và dân tộc, từ đó mà giữ vững và phát huy những đức tính
cổ truyền tốt đẹp: lòng yêu nước, tình đoàn kết, chí kiên cường, bất khuất,
niềm tin sâu xa và mạnh mẽ vào tài năng của mình”. Thiết nghĩ, đã là
5
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
người Việt Nam chúng ta không thể không biết đến công đức trời
biển các vị Vua Hùng đã công dựng nước và Tứ bất tử Việt Nam
rất gắn bó trong tâm thức dân gian, do đó, chúng tôi đặt lên đầu
bộ sách.
Khi khảo sát các ngành nghề truyền thống, ta cần hiểu rằng,
không phải chỉ khi có vị Tổ truyền nghề thì ở nước Nam ta mới có
nghề ấy. Mà thật ra ngay từ thuở bình minh dựng nước, tổ tiên ta
đã biết thành thạo các ngành nghề ấy. Đã đành các vị Tổ là người
có công dạy nghề cho dân, nhưng những người thợ tài hoa có công
cải tiến nghề, đem lại lợi ích cho cộng đồng thì cũng được tôn vinh
là tổ nghề. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh hoàn toàn có lý khi khẳng định:
“Tổ nghề (tổ sư hay thánh sư) không nhất thiết là con người thực, do đó,
gạt bỏ những nhân vật huyền thoại, là không đúng với thực tế, nhất là
sự thực ở tấm lòng và ở cảm quan thẩm mỹ của người dân”. Có một số
ngành nghề gắn liền với thần thoại hoặc cùng một nghề nhưng mỗi
địa phương lại thờ các Tổ khác nhau, cũng có những nghề mà người
ta không rõ Tổ của mình là ai v.v... Phần lớn các ngành nghề truyền
thống đề cập trong trang sách này như: nghề mộc, nghề thêu, nghề
hát xẩm, hát ả đào, nghề in, nghề kim hoàn, nghề dệt chiếu, nghề
đúc đồng, nghề dệt... không phải mới ra đời từ thời ông Tổ đó – mà
có thể đã có trước đó rất lâu. Vậy tại sao làng nghề lại chọn người
đó làm Tổ của nghề? Đây là điều hết sức thú vị và cũng phản ánh
rõ nét đạo lý của người Việt là luôn biết ơn cả những vị đã góp
phần nâng cao, cải tiến nghề nghiệp của mình để năng suất ngày
một hiệu quả hơn. Và đúng như sự phân tích của Giáo sư Vũ Ngọc
Khánh: “Việc thờ phụng các Tổ ngành nghề (người thực hay nhân vật
huyền thoại) thật ra là cốt để khẳng định, tôn vinh ngành nghề ấy. Một
ngày giỗ Tổ, một dịp hội hè, cũng là một bằng chứng cụ thể để thấy vị trí
của ngành nghề trong cuộc nhân sinh và “Ngày giỗ Tổ bao giờ cũng là
dịp “trình nghề”. Không phải sự trình nghề chung, đồng loạt như ta thấy
ở hội lễ nông nghiệp, mà thật sự là một cố gắng giới thiệu những thành
tựu của nghề. Những thành tựu ấy ít nhiều có liên quan đến vị Tổ sư và
gợi ra nhiều suy nghĩ”.
6
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Tiếc thay, công đức của các Tổ ngành nghề ấy, trải qua bao
thăng trầm lịch sử chưa được ghi lại thật đầy đủ. Chính vì thế, dù
có tham vọng muốn đề cập thêm một số ngành nghề cần tìm hiểu,
nhưng do tư liệu còn quá mỏng nên chúng tôi xin trở lại vào một
dịp thuận lợi hơn.
Trong quá trình biên soạn chúng tôi tham khảo nhiều tư liệu
và sử dụng khá nhiều hình ảnh minh họa – nhằm giúp cho bạn đọc
hiểu rõ hơn về ngành nghề đó. Ảnh minh họa chủ yếu được sử dụng
theo tranh khắc gỗ của Henri Oger – cựu sinh viên trường Đại học
Sorbonne – thực hiện đầu thế kỷ XX, (cụ thể là những 1908-1909 tại
Hà Nội), báo ảnh Việt Nam, kể cả một số ảnh sưu tập trên internet
mà chúng tôi không rõ tác giả. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
đến với các tác giả tập sách, tác giả ảnh đã thực hiện nhằm giúp cho
chúng tôi thuận lợi hơn về mặt tư liệu khi biên soạn.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc – nhất là các bạn thanh
thiếu niên – và ngày một hoàn hảo hơn, chúng tôi rất mong được
sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà
sử học và của các bạn đọc xa gần. Trước hết xin độc giả nhận ở đây
sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN Trẻ
7
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
8
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Vua Hùng
Biểu tượng sự đoàn kết,
thống nhất của dân tộc Việt
Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gầy dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm bộ bản đồ mênh mông
Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?
Quân thần hai chữ trên đầu
Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son
Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương
Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây
Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao, núi Tản chốn này còn ghi
Bốn bề cây cỏ xanh rì
Nhìn xem phong cảnh khác gì Đào Nguyên
Đường mây sẵn bậc bước lên
Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên, cha Rồng...
Bài Chúc phúc Hội Đền Hùng này ra đời trong những năm đầu
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thế kỷ XX, nay đọc lại vẫn còn xúc động. Tác giả là ai? Không rõ.
Chỉ biết nó được truyền miệng từ đời này qua đời khác.
Còn có câu ca dao mộc mạc, chân tình, ghi sâu vào trí nhớ của
nhiều thế hệ:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
Dựa vào truyền thuyết dân gian và chính sử của các triều đại
trước, nhà giáo, nhà sử học Trần Trọng Kim đã viết về nước ta thời
thượng cổ như sau:
“Họ Hồng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba
đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ
Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ
ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho Lộc
Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu
là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp
Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm
tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long
Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần
được một trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta
là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu
với nhau không được; nay được trăm con thì nhà ngươi đem 50 đứa
lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải”.
Nước Văn Lang: Lạc Long Quân phong cho người con trưởng
sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Cứ theo sử cũ
thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
10
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đền thờ Kinh Dương Vương
Bức tượng thờ
Quốc Mẫu Âu Cơ
được tạo tác từ thời Lê
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Các tập tục dân gian của người Việt cổ
được mô phỏng lại trong ngày
Lễ hội giỗ Tổ Âu Cơ
Đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ
ở Hạ Hòa, Phú Thọ
Lễ giỗ Mẹ Âu Cơ tại Thành phố Hồ Chí Minh
12
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ
gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi
là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ
cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quý Mão (158
trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Xét từ đời Kinh Dương
Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua.
Từ năm 1969, Hội Sử học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về đề tài
Hùng Vương; công việc kéo dài tiếp tục trong các năm 1961-1963 và
1966-1970. Các nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam đã vận dụng
phương pháp nghiên cứu khoa học tổng hợp và có ý niệm chung là
văn hóa thời Hùng Vương phát triển qua 4 giai đoạn lớn: giai đoạn
Phùng Nguyên, Đồng Mậu, Gò Muôn và Đông Sơn. Viện trưởng
Viện Khảo cổ học Phạm Huy Thông cho biết: Địa bàn của văn hóa
Đông Sơn chính là địa bàn mà sử sách nói về 15 bộ (hay 15 bộ lạc) của
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
nước Văn Lang và trung tâm xuất phát văn hóa Đông Sơn, chính là vùng
hợp lưu các sông Thao - sông Hồng, sông Đà, sông Lô, nơi văn hóa Phùng
Nguyên đậm nét, nơi sử sách và truyền thuyết nhớ là đất tổ Phong Châu,
trung tâm nước Văn Lang của các vua Hùng”.
Đến với truyền thuyết về thời đại Hùng Vương là ta đến với tâm
linh của nguồn cội, của tình cảm gắn bó máu thịt “nước non vẫn
nước non nhà”, của đồng bào “máu chảy ruột mềm”,... Tình cảm
Trống đồng thời các vua Hùng
Hải điểu bay mừng khi thuyền về
(trên trống đồng thời các vua Hùng)
Hình người giã cối trên trống đồng
Rìu bằng đồng thời vua Hùng
Nhạc sĩ thổi khèn trên trống đồng
14
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
ấy bất biến, tồn tại trường cửu như sức sống của cả một dân tộc có
hơn 4.000 năm văn hiến.
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện
Lâm Thao (Phú Thọ) – cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km về
phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90km. Đền Hùng được xây dựng trên
núi Hùng – còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương, (hay còn có
nhiều tên gọi khác nhau như Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương,
Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn…), thuộc đất Phong Châu –
vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang hơn 4.000 năm trước đây.
Cổng đền được xây dựng vào năm 1917, có khắc bức đại tự “Cao
sơn cảnh hành”. Riêng 4 chữ này nên hiểu như thế nào? Đã có cuộc
tranh luận rất thú vị. Theo ông Lê Trung Việt thì Viện Hán Nôm
dịch “Núi cao đường lớn” là chưa đúng, phải dịch là “Núi cao cảnh
đẹp”. Không đồng ý, theo ông Nguyễn Lưu hai chữ “Cảnh hành”
theo một từ điển là “Đức hạnh cao minh” – vì thế phải hiểu theo
nghĩa “Đức cao như núi”. Cụ thể trong trường hợp này là dùng để
ca ngợi đức cao cả của Tổ tiên, chứ không phải nhằm tả cảnh đẹp
đền Hùng. Hai bên cổng đền còn có câu đối (Vũ Kim Biên dịch):
Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối;
Lên cao nhìn rộng, ngàn trùng đồi núi tựa bầy con.
Từ cổng đền, bước lên núi. Trước hết, ta thấy Nhà bia ghi công
đức các vua Hùng. Tại đây có bia đá, ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19-9-1954:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Gần đó là đền Hạ, chùa Thiên Quang và gác chuông. Đền Hạ
được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII-XVIII. Tương
truyền đây là nơi Bà Âu Cơ trở dạ sinh ra một bọc trứng nở thành
100 con trai. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng,
nay còn ở phía sau đền. Hai tiếng “đồng bào” (cùng bọc) vì thế mà
có. Hẳn chúng ta không thể quên những câu thơ thống thiết, mà
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
nhà giáo Ngô Quý Siêu đã viết để giảng dạy học trò từ thời Đông
Kinh nghĩa thục:
Đã sinh cùng giống, cùng nòi
Cùng trong đất nước là người đồng thân
Phải coi ruột thịt cho gần
Phải thương, phải xót quây quần lấy nhau
Phúc cùng hưởng, họa cùng đau
Một gan một dạ ghi sâu chữ “đồng”
May ra trời cũng xiêu lòng
Đời đời để giống Lạc Hồng này cho
Gió thu hiu hắt song hồ
Sử xanh còn đó, địa đồ còn đây
Mấy câu mượn bút giãi bày
Xin người trong nước non này cùng nghe
Rời đền Hạ, lên đền Trung. Tương truyền, đây là nơi các Vua
Hùng thường họp bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng; cũng
là nơi hoàng tử Lang Liêu dâng bánh dày, bánh chưng, được vua
Hùng thứ 6 khen “bánh thì ngon, ý thì hay” và được nối nghiệp là
Hùng Vương thứ 7.
Rời đền Trung, lên đền Thượng. Tương truyền là nơi các vua
Hùng tiến hành các nghi thức cúng tế Trời đất, Thần lúa, thờ Thánh
Gióng để muôn dân ấm no hạnh phúc, hưởng thái bình an lạc đời
đời... Vì thế, đền Thượng vẫn còn gọi là Kính thiên Lĩnh điện (điện
thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh). Theo truyền thuyết dân gian, nơi này
vua Hùng thứ 18 đã truyền ngôi lại cho cháu là Thục Phán. Để giữ
lời thề giữ vững cơ nghiệp của vua Hùng, giữ vững non sông gấm
vóc, Thục Phán cho dựng hai cột đá thề. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m,
hình vuông; năm 1968 Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện
nay. Tại đây còn có những bức hoành phi như Hùng Vương linh tích
(vết tích thiêng liêng của Vua Hùng), Hùng Vương tổ miếu (Miễu tổ
Hùng Vương), Triệu tổ Nam bang (Tổ muôn đời của nước Nam)... và
nhiều câu đối chữ Hán, chữ Nôm như:
16
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
- Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ tích;
Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương.
- Con cháu ba kỳ thăm mộ Tổ;
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
- Thần thánh mở cơ đồ, đến nay đất vẫn thế, dân vẫn thế;
Công huân thờ đền miếu, đó là cây có gốc, nước có nguồn.
- Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồi nhiều sông
hợp lại;
Khí thiện Đế Vương vẫn đấy, thét gió mưa gào một ngọn núi
đứng cao.
- Con cháu còn, tôn tổ vẫn còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi;
Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững
bền lâu.
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6 – nằm
ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt
quay theo hướng Đông Nam. Tương truyền trước lúc lâm chung,
ngài trăn trối: “Hãy chôn ta trên núi cao để ta trông nom bờ cõi cho
con cháu”.
Từ đền Thượng đi xuống gần chân khu Đền Hùng, ta sẽ gặp đền
Giếng, tên chữ là Ngọc Tỉnh – xây dựng vào thế kỷ XVIII. Tương
truyền hai công chúa của vua Hùng là Tiên Dung (sau lấy Chữ Đồng
Tử), Ngọc Hoa (sau lấy Tản Viên) thường đến đây soi gương, chải
tóc. Từ năm 2001, ta xây dựng thêm Đền thờ Mẹ Âu Cơ. Trong đền
ngoài tượng thờ Mẹ Âu Cơ còn có hai Lạc hầu, Lạc tướng. Tiếp đó
là Nhà bảo tàng Hùng Vương – nằm gần vị trí cổng lên Đền Hùng
– được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thành
đúng ngày khai hội Đền Hùng năm 2003 do Tổng Bí thư Đỗ Mười
cắt băng khánh thành. Bảo tàng có gần 700 hiện vật gốc trên tổng
số hơn 4.000 hiện vật, 162 bức ảnh, khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các
Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
Có thể nói, Đền Hùng không chỉ là thắng cảnh đẹp, non nước
hữu tình, mà còn là một di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt quan trọng
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
đối với người Việt Nam. “Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương
là một giai đoạn rất trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính thời kỳ
này xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam và
truyền thống tinh thần Việt Nam” (Lịch sử Việt Nam- NXB Khoa
học Xã hội - 1971).
Đường lên Đền Hùng
Sơ đồ Đền Hùng hiện
nay (2007)
18
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Lễ giỗ Tổ Hùng Vương
năm 1905
Đền Hùng
tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đền thờ vua Hùng
của bà con Việt kiều ở Úc
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Thờ cúng gia tiên - một phong tục văn hóa của người Việt Nam
20
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Thánh Tản Viên
Bách nghệ Tổ sư của nước Nam
Trong tâm thức dân gian của người Việt, đứng đầu “tứ bất tử”,
đệ nhất phúc thần – biểu tượng cho sự trường tồn, bất diệt của dân
tộc ta là Thánh Tản Viên (còn gọi là Tản Viên sơn thánh, Sơn Tinh,
Thanh Sơn đại vương). Về sự tích Thánh Tản Viên, sách Đại Việt sử
ký toàn thư chép rằng:
Cuối thời Hùng Vương, nhà vua có người con gái gọi là Mî
Nương, nhan sắc rất xinh đẹp. Nhà vua muốn tìm người xứng đáng
để gả, mới nói rằng: “Đứa con gái này là giống Tiên, cho nên chỉ ai
đủ tài đức ta mới cho làm rể”.
Bấy giờ, có hai người cùng vào lạy dưới sân xin cầu hôn. Nhà
vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng, một người là Sơn Tinh, một
người là Thuỷ Tinh, đều là ở trong cõi của nhà vua cả. Nay, nghe
tin nhà vua có thánh nữ, bèn đánh bạo tới xin chờ mệnh của vua.
Vua hạ lệnh cho hai người, rằng đến ngày hôm sau, ai đem đủ
sính lễ tới trước thì sẽ gả con cho người ấy. Hai người nghe xong, lạy
tạ rồi ra về. Hôm sau, Sơn Tinh đem các thứ châu báu bạc vàng, cùng
chim rừng thú núi tới dâng. Nhà vua y hẹn, gả con gái cho Sơn Tinh.
Sơn Tinh đón vợ về trên đỉnh cao của núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng
đem sính lễ đến, nhưng muộn hơn, bèn kéo mây làm mưa, dâng nước
tràn ngập, rồi đem các loài thuỷ tộc đuổi theo. Nhà vua cùng Sơn
Tinh lấy lưới sắt chắn ngang khu vực thượng lưu sông Từ Liêm (tức
khúc sông Hồng, chảy qua Chèm, ngoại thành Hà Nội) để ngăn lại.
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Thuỷ Tinh lại theo sông khác, từ vùng Lî Nhân vào chân núi Quảng
Oai, rồi men sông Hát và tràn ra sông Lớn (tức sông Hồng) mà ngoặt
sang sông Đà để đánh lên Tản Viên. Ở đâu Thuỷ Tinh cũng đào vực,
đào chằm để chứa nước hòng đánh úp Sơn Tinh. Sơn Tinh có phép
thần biến hoá, sai người đan tre thành hàng rào chắn nước, lấy cung
nỏ bắn xuống, khiến cho các loài thuỷ tộc đều bị trúng tên mà chạy
trốn. Rốt cuộc, Thuỷ Tinh không sao xâm phạm được núi Tản Viên.
Tục truyền, từ đó Thủy Tinh đời đời thù oán, hàng năm vẫn dâng
nước đánh Sơn Tinh.
Tước bỏ những yếu tố hoang đường, ta sẽ thấy được công việc trị
thủy của người Việt thời cổ xưa. Xét trong lời ăn tiếng nói của dân
gian, từ bao đời này vẫn còn truyền lại như nước lụt thì lút cả làng;
lụt to lút ngỏ, lụt nhỏ lút đồng; mưa tháng tư hư đất; mưa ngâu lâu ngày
cũng lụt; mưa thúi đất thúi trời...; hoặc trong “thủy, hỏa, đạo, tặc”, thì
“thủy” vẫn là khó khăn đầu tiên. Tuy nhiên, trong sản suất nông
nghiệp, nước lại là yếu tố đầu tiên “nước, phân, cần, giống”. Vì thế
chế ngự lũ lụt là điều bức thiết của dân tộc ta từ đời này qua đời
khác. Nhưng có một điều thú vị, thậm chí còn mang cả yếu tố lạc
quan, trong chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh ông cha ta đã hình tượng
bằng cuộc tranh giành người đẹp của hai vị thần si tình! Trong Đại
Nam quốc sử diễn ca viết:
Thủy Tinh lỡ bước chậm chân
Đùng đùng nổi giận đem ân oán thù
Mưa tuôn gió thổi mịt mù
Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia
Thì ra, lũ lụt dữ dội ấy cũng là do lòng ghen tức của vị thần
không... chiếm được trái tim giai nhân đấy thôi!
Càng cua lởm chởm giơ như mác
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo
22
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng
Đạp long đất núi, gầm xông xáo
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng
Sự tích Thánh Tản Viên đã phản ánh sức mạnh lớn lao của người
Việt trong cuộc chiến đấu thắng lũ lụt. Không những thế, trong tâm
thức dân gian Thánh Tản Viên còn là một con người vẹn toàn, có
công trong việc giữ nước và làm được nhiều ích nước lợi dân. Ngoài
việc giúp vua Hùng giữ được vẹn toàn lãnh thổ, Thánh Tản Viên còn
dạy dân làm ra lửa, làm ruộng, mở hội, săn bắt, kéo vó, dệt lụa... nên
được nhân dân từ ngàn xưa tôn là “Bách nghệ tổ sư của nước Nam”.
Sinh hoạt của người Việt ngày xưa
23
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Nhân đây thiết tưởng cũng nên nhắc đến nhân vật Cao Biền để
thấy thêm uy lực của Thánh Tản Viên. Thành ngữ Việt Nam có câu:
“Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Cao Biền (821-887) là ai? Y là một
viên tướng của nhà Đường, sang làm Tiết độ sứ cai quản nước Giao
Châu ta. Y là người quỷ quyệt, tinh thông lý số, giỏi về pháp thuật
“tản đậu thành binh”. Mỗi khi cần có quân lính, y chỉ cần rắc đậu
vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa
thành một người lính! Y sang Giao Châu nhằm triệt phá long mạch
và yểm bùa nơi có vượng khí làm lớn mạnh của nước Nam. Có lần y
nuôi 100 âm binh để phục vụ mục đích này. Để nuôi đủ 100 âm binh
y nhờ một bà hàng nước mỗi ngày thắp một nén hương để gọi dậy
một âm binh. Biết được âm mưu của y, bà lão đã phá bằng cách thắp
cả một lượt 100 nén hương trong vòng một ngày. Kết quả là âm binh
của y đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, dậy non nên không
có tác dụng! Lần khác y tìm đến núi Tản, thì gặp Thánh Tản Viên cưỡi
ngựa trắng ngồi trên mây bay ngang qua, nhìn thấy. Để tỏ ý khinh
bỉ trò khôi hài của Biền, ngài bèn nhổ xuống một bãi nước bọt, rồi
bỏ đi, không thèm nói năng. Cao Biền thấy vậy cả sợ, bèn dẹp ngay
trò quỷ thuật lại, rồi than rằng: “Linh khí phương Nam không thể
lường được. Vượng khí ở đây không bao giờ dứt. Ta phải về thôi!”.
Qua mẩu chuyện này, ta thấy tinh thần cảnh giác trước âm mưu
kẻ thù của người Việt thể hiện ở mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả
bà lão bán nước cũng ý thức nữa huống là... Thứ hai, dù đã về trời,
nhưng Thánh Tản Viên vẫn còn giúp nước, uy linh của ngài vẫn
còn khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Điều này cho thấy, không riêng gì
Đức Thánh Tản mà những ai một lòng một dạ với nước, dẫu mất
đi thì linh hồn vẫn còn đi theo phù trợ người trên cõi dương trần.
Hiện nay, Thánh Tản Viên được nhân dân thờ phụng chu đáo
qua nhiều đền, miếu. Có thể kể đền thờ thần Tản Viên thuộc xã
Trung Hưng, (Sơn Tây). Lễ hội được tổ chức ba năm một lần vào
ngày 15 tháng 1 âm lịch. Mở đầu là lễ rước kiệu Thánh Tản Viên
từ Đông Cung lên đến đền thờ Thánh trên núi Ba Vì. Sau đó có tục
lệ đánh cá, lấy nước sông Hồng tắm tượng thánh ở đền. Ở huyện
Phong Châu (Vĩnh Phú) tối 30 tháng Chạp hàng năm còn có lễ hội
24
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Vi Trẹo rước chúa gái – diễn lại cuộc đón dâu của Sơn Tinh; hoặc
lễ hội Tản Viên đánh Thục v.v...
Đánh giá về vai trò Thánh Tản Viên, trong tập Hùng Vương dựng
nước (NXB Khoa học Xã hội - 1974), nhà nghiên cứu Đoàn Công
Hoạt đã có những nhận xét xác đáng:
“Những truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh cho ta thấy ngay
từ thời kỳ cuối các vua Hùng nhân dân ta đã có những truyền thống
đạo đức và tinh thần rất tốt đẹp. Vì điều kiện thiên nhiên khắc
nghiệt, con người thời Sơn Tinh trước hết là con người lao động
hết sức kiên cường. Bản thân Sơn Tinh là điển hình chói lọi về con
người lao động ấy. Có thể nói một mình Sơn Tinh đã làm đủ các
nghề “ngư, tiều, canh, mục”, từ đốn củi, phát nương đến cấy cày,
chài lưới. Nhưng rực rỡ nhất vẫn là hình tượng Sơn Tinh – người
khổng lồ làm thủy lợi: Sự tích núi Sụ Bá và Thạch Khoán cùng sự
tích đồi Vai, đồi Đùm kể rằng Sơn Tinh gánh đất đắp núi chặn nước
sông do Thủy Tinh dâng lên, mải miết ngày đêm đến nỗi đứt quang,
gãy đòn gánh mà vẫn không nghỉ.
Chỉ với tinh thần lao động quên mình như vậy, tổ tiên ta mới có
thể chế ngự được nạn lụt khủng khiếp của những dòng sông lớn,
mới có thể đứng vững chân trên mảnh đất mới đồng bằng. Trên ý
nghĩa đó mà nói thì có thể coi truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh
là bài ca lao động hùng tráng, là bài ca chiến thắng vẻ vang của sức
lao động sáng tạo và vĩ đại.
Gắn liền với ý thức bảo vệ lãnh thổ, khẳng định quyền tồn tại
và phát triển trên địa bàn sinh tụ mới là truyền thống quật cường
thượng võ của người Việt thời Hùng Vương. Chuyện rèn quân luyện
võ của Sơn Tinh đã nói rõ truyền thống đó.
Mặc dù trải qua nhiều gian khổ nhưng Sơn Tinh luôn luôn là
người chiến thắng. Điều đó phản ánh ước mơ mà cũng phản ảnh
hiện thực. Nó nói lên ý chí bất khuất, quyết tâm sắt đá của ông cha
ta kiên quyết đánh thắng mọi kẻ thù.
Sức sống mãnh liệt đó, phẩm chất tinh thần tốt đẹp đó qua nhiều
thời đại luôn luôn được dân tộc ta nuôi dưỡng và phát huy mạnh mẽ.
25
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Một trong những phẩm chất đạo đức cao quý thường được nhắc
đến trong truyền thuyết là tinh thần dân chủ, bình đẳng, quan
điểm “thân dân” của Sơn Tinh. Không những Sơn Tinh cùng làm
cùng hưởng với mọi người, có khi ông còn có hành động quên
mình vì dân. Sự tích núi Che thuật chuyện Sơn Tinh đắp núi ngăn
nước ở vùng Bất Bạt (thuộc Ba Vì - Hà Tây), lâu ngày không trở
về nhà. Thủy Tinh cho quân giả làm người nhà của Sơn Tinh đến
báo tin vợ con ông ốm nặng. Sơn Tinh thản nhiên nói: “Mọi người
còn đang khốn khổ vì bọn giặc dữ. Dù vợ con ta có mệnh hệ nào
chăng nữa thì ta cũng không thể bỏ việc để về nhà được”. Một số
truyền thuyết còn kể chuyện Sơn Tinh thường xuyên đi mọi nơi
thăm hỏi dân tình: có nơi ông dạy dân trồng lúa, có nơi ông chữa
cứu dân bị dịch,....
Thông qua hình ảnh Sơn Tinh, ta còn thấy được người Việt thời
xưa là con người có nghĩa, có tình, có tâm hồn đôn hậu, thủy chung.
Truyền thuyết kể rằng từ khi đến miền đất mới, mặc dù ngăn sông
cách núi, nhưng hằng năm Sơn Tinh vẫn trở về thăm quê cũ Lăng
Xương và về lễ Tết ở đền Hùng. Do đó, các làng ven sông Đà miền
Bất Bạt cũ thường có lệ cuối năm lại chở thuyền “rước quân Thánh
Tản” qua sông về quê lễ Tết. Người lái thuyền được chọn phải tắm
gội sạch sẽ, nửa đêm hôm tất niên mặc quần áo lễ toàn màu đỏ,
xuống thuyền chở “tượng trưng” ba chuyến từ bến sông Đà bên
Ba Vì sang miền Thanh Thủy. Và chiều mồng ba tết, lại qua sông
sang miền Thanh Thủy chở ba lượt thuyền về bên bến Ba Vì (tất
nhiên cũng vẫn chở thuyền không). Nghi thức này được nhân dân
địa phương hết sức tôn trọng vì nó phù hợp với truyền thống tôn
trọng tổ tiên; uống nước nhớ nguồn vốn có từ lâu đời của dân tộc”
(tr. 443-444).
26
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đức Thánh Gióng
Biểu tượng chống ngoại xâm của dân tộc Việt
Thánh Gióng (tranh dân gian)
Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười, trơ trơ
Những ngờ oan trái bao giờ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang
Lời thưa mẹ, dạ cần vương
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh
27
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Sứ về tâu trước thiên đình
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào
Trận mây theo ngọn cờ đào
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan
Áo nhung cởi lại Linh San
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
Phong giao Kinh Bắc xưa có câu: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám
hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội Gióng”; “Lâm râm hội
Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Gióng” hoặc:
Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời
Từ truyền thuyết dân gian, nhà văn hóa Phan Kếâ Bính đã viết
lại chuyện Thánh Gióng trong tập Nam hải dị nhân như sau:
“Vào đời Hùng Vương thứ sáu, thiên hạ thái bình, dân gian giàu
có; vua Hùng không triều cống nhà Ân bên Tàu. Thấy vậy, vua nhà
Ân giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân xâm chiếm nước Nam.
Hùng Vương lo sợ, vời quần thần vào để hỏi mưu mẹo đánh giặc
ngoại xâm và giữ yên bờ cõi. Có người phương sĩ thưa với vua rằng:
- Bệ hạ nên kêu khấn với Long Quân để Ngài sai thiên tướng
xuống giúp thì mới xong.
Vua nghe lời, lập đàn chay, cúng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng
đâu trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có
một cụ già cao lớn chín thước, đầu bạc râu trắng, ngồi ở một ngã
đường cái, vừa cười vừa nói, ngâm hát múa mênh. Ai trông thấy
cũng cho là lạ, mới tâu vua. Vua thân hành đến mời ông cụ đến nơi
làm đàn chay, đem cơm rượu thiết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống
và cũng không nói năng câu nào.
Vua hỏi rằng:
- Sắp có giặc phương Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế
nào, xin cụ bảo cho.
28
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Một hồi lâu, ông cụ mới nói:
- Ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp
cả thiên hạ, cầu người kỳ tài, phá được giặc, thì nên chia đất, phong
tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá
giặc không khó gì nữa.
Nói xong, cụ già bay vụt lên trời, biến mất.
Vua lấy làm lạ, mới tuân lời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu
người tài. Bấy giờ, ở làng Phù Đổng, tên nôm là làng Gióng, huyện
Võ Ninh (bây giờ là Võ Giàng), có một ông ngoài 60 tuổi, chỉ sinh
được một cậu con trai 3 tuổi mà chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa,
không ngồi đứng lên được. Khi nghe sứ giả đi cầu người tài, đến
làng ấy, người mẹ đã nói bỡn với con rằng:
- Đẻ được một chút con trai chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không
được thì đánh thế nào được giặc, để mà lãnh thưởng của vua, đền
công sinh dưỡng cho cha mẹ.
Người con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ giả lại
đây. Bà mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với láng giềng. Người láng giềng
thấy lạ chuyện, xui người nhà thử gọi sứ giả đến xem sao.
Khi sứ giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:
- Tiểu nhi kia, gọi ta đến để làm gì?
Cậu bé ngồi dậy, bảo với sứ giả rằng:
- Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa
sắt cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước và một cái nón sắt,
đem đến cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy,
vua can gì phải lo.
Sứ giả mừng lắm, về tâu với vua. Nhà vua mừng rỡ bảo với
quần thần rằng:
- Đây là Long Vương cứu ta đây! Năm trước ông cụ già nói
chuyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hồ nghi gì nữa!
Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem
29
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
lại đưa cho tiểu nhi. Sứ giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói
xằng thì vạ lây đến cả nhà.
Tiểu nhi cười ầm lên nói rằng:
- Mẹ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn vi...
1
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Lê Minh Quốc
Các vị tổ ngành nghề Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P. Hồ Chí Minh
: Trẻ, 2009.
208tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam; T.1)
1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nghề nghiệp -- Việt Nam -- Lịch sử. 3. Nghề thủ công -- Việt Nam
-- Lịch sử. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân Việt Nam.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
Fax: 84.8.8437450
E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
Website: http://www. nxbtre.com.vn
4
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Lời nói đầu
“Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” là tập sách mở đầu cho bộ
sách nhiều tập KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà
thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Tập sách này đã được tái bản nhiều
lần. Nay theo yêu cầu của độc giả, chúng tôi sắp xếp, bổ sung thêm
nhiều tư liệu, hình ảnh trong điều kiện có thể để phục vụ tốt hơn
nữa. Khi thực hiện bộ sách này, chúng tôi mong muốn giúp cho
bạn đọc – nhất là thanh thiếu niên – hiểu được sự hình thành của
các ngành nghề và thấm nhuần công đức của các danh nhân đã có
nhiều đóng góp trong các ngành nghề truyền thống. Đây là điều
cần thiết trên hành trình “về nguồn” để chúng ta cùng tự hào, hãnh
diện với những tên tuổi gắn liền với một ngành nghề nhất định.
Chúng tôi tin rằng, bạn đọc sẽ cùng chia sẻ và đồng tình với
chúng tôi về suy nghĩ mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu
nhân Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1969: “Trong nhiều truyền thống tốt
đẹp, dân tộc Việt Nam ta luôn giữ vững một truyền thống có ý nghĩa hay
và đẹp vô cùng: tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã có công lớn
trong việc dựng nước và giữ nước. Trong phạm vi của một tập thể nhỏ là
làng xóm, bao gồm nhiều họ, nhiều gia đình, cũng như trong phạm vi cả
nước, dân tộc Việt Nam ta, trong đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng
và đời sống của mình đều gắn liền hiện tại với quá khứ, quê hương nhỏ
với Tổ quốc và dân tộc, từ đó mà giữ vững và phát huy những đức tính
cổ truyền tốt đẹp: lòng yêu nước, tình đoàn kết, chí kiên cường, bất khuất,
niềm tin sâu xa và mạnh mẽ vào tài năng của mình”. Thiết nghĩ, đã là
5
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
người Việt Nam chúng ta không thể không biết đến công đức trời
biển các vị Vua Hùng đã công dựng nước và Tứ bất tử Việt Nam
rất gắn bó trong tâm thức dân gian, do đó, chúng tôi đặt lên đầu
bộ sách.
Khi khảo sát các ngành nghề truyền thống, ta cần hiểu rằng,
không phải chỉ khi có vị Tổ truyền nghề thì ở nước Nam ta mới có
nghề ấy. Mà thật ra ngay từ thuở bình minh dựng nước, tổ tiên ta
đã biết thành thạo các ngành nghề ấy. Đã đành các vị Tổ là người
có công dạy nghề cho dân, nhưng những người thợ tài hoa có công
cải tiến nghề, đem lại lợi ích cho cộng đồng thì cũng được tôn vinh
là tổ nghề. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh hoàn toàn có lý khi khẳng định:
“Tổ nghề (tổ sư hay thánh sư) không nhất thiết là con người thực, do đó,
gạt bỏ những nhân vật huyền thoại, là không đúng với thực tế, nhất là
sự thực ở tấm lòng và ở cảm quan thẩm mỹ của người dân”. Có một số
ngành nghề gắn liền với thần thoại hoặc cùng một nghề nhưng mỗi
địa phương lại thờ các Tổ khác nhau, cũng có những nghề mà người
ta không rõ Tổ của mình là ai v.v... Phần lớn các ngành nghề truyền
thống đề cập trong trang sách này như: nghề mộc, nghề thêu, nghề
hát xẩm, hát ả đào, nghề in, nghề kim hoàn, nghề dệt chiếu, nghề
đúc đồng, nghề dệt... không phải mới ra đời từ thời ông Tổ đó – mà
có thể đã có trước đó rất lâu. Vậy tại sao làng nghề lại chọn người
đó làm Tổ của nghề? Đây là điều hết sức thú vị và cũng phản ánh
rõ nét đạo lý của người Việt là luôn biết ơn cả những vị đã góp
phần nâng cao, cải tiến nghề nghiệp của mình để năng suất ngày
một hiệu quả hơn. Và đúng như sự phân tích của Giáo sư Vũ Ngọc
Khánh: “Việc thờ phụng các Tổ ngành nghề (người thực hay nhân vật
huyền thoại) thật ra là cốt để khẳng định, tôn vinh ngành nghề ấy. Một
ngày giỗ Tổ, một dịp hội hè, cũng là một bằng chứng cụ thể để thấy vị trí
của ngành nghề trong cuộc nhân sinh và “Ngày giỗ Tổ bao giờ cũng là
dịp “trình nghề”. Không phải sự trình nghề chung, đồng loạt như ta thấy
ở hội lễ nông nghiệp, mà thật sự là một cố gắng giới thiệu những thành
tựu của nghề. Những thành tựu ấy ít nhiều có liên quan đến vị Tổ sư và
gợi ra nhiều suy nghĩ”.
6
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Tiếc thay, công đức của các Tổ ngành nghề ấy, trải qua bao
thăng trầm lịch sử chưa được ghi lại thật đầy đủ. Chính vì thế, dù
có tham vọng muốn đề cập thêm một số ngành nghề cần tìm hiểu,
nhưng do tư liệu còn quá mỏng nên chúng tôi xin trở lại vào một
dịp thuận lợi hơn.
Trong quá trình biên soạn chúng tôi tham khảo nhiều tư liệu
và sử dụng khá nhiều hình ảnh minh họa – nhằm giúp cho bạn đọc
hiểu rõ hơn về ngành nghề đó. Ảnh minh họa chủ yếu được sử dụng
theo tranh khắc gỗ của Henri Oger – cựu sinh viên trường Đại học
Sorbonne – thực hiện đầu thế kỷ XX, (cụ thể là những 1908-1909 tại
Hà Nội), báo ảnh Việt Nam, kể cả một số ảnh sưu tập trên internet
mà chúng tôi không rõ tác giả. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
đến với các tác giả tập sách, tác giả ảnh đã thực hiện nhằm giúp cho
chúng tôi thuận lợi hơn về mặt tư liệu khi biên soạn.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc – nhất là các bạn thanh
thiếu niên – và ngày một hoàn hảo hơn, chúng tôi rất mong được
sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà
sử học và của các bạn đọc xa gần. Trước hết xin độc giả nhận ở đây
sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN Trẻ
7
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
8
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Vua Hùng
Biểu tượng sự đoàn kết,
thống nhất của dân tộc Việt
Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gầy dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm bộ bản đồ mênh mông
Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?
Quân thần hai chữ trên đầu
Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son
Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương
Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây
Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao, núi Tản chốn này còn ghi
Bốn bề cây cỏ xanh rì
Nhìn xem phong cảnh khác gì Đào Nguyên
Đường mây sẵn bậc bước lên
Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên, cha Rồng...
Bài Chúc phúc Hội Đền Hùng này ra đời trong những năm đầu
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thế kỷ XX, nay đọc lại vẫn còn xúc động. Tác giả là ai? Không rõ.
Chỉ biết nó được truyền miệng từ đời này qua đời khác.
Còn có câu ca dao mộc mạc, chân tình, ghi sâu vào trí nhớ của
nhiều thế hệ:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
Dựa vào truyền thuyết dân gian và chính sử của các triều đại
trước, nhà giáo, nhà sử học Trần Trọng Kim đã viết về nước ta thời
thượng cổ như sau:
“Họ Hồng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba
đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ
Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ
ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho Lộc
Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu
là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp
Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm
tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long
Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần
được một trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta
là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu
với nhau không được; nay được trăm con thì nhà ngươi đem 50 đứa
lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải”.
Nước Văn Lang: Lạc Long Quân phong cho người con trưởng
sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Cứ theo sử cũ
thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
10
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đền thờ Kinh Dương Vương
Bức tượng thờ
Quốc Mẫu Âu Cơ
được tạo tác từ thời Lê
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Các tập tục dân gian của người Việt cổ
được mô phỏng lại trong ngày
Lễ hội giỗ Tổ Âu Cơ
Đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ
ở Hạ Hòa, Phú Thọ
Lễ giỗ Mẹ Âu Cơ tại Thành phố Hồ Chí Minh
12
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ
gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi
là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ
cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quý Mão (158
trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Xét từ đời Kinh Dương
Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua.
Từ năm 1969, Hội Sử học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về đề tài
Hùng Vương; công việc kéo dài tiếp tục trong các năm 1961-1963 và
1966-1970. Các nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam đã vận dụng
phương pháp nghiên cứu khoa học tổng hợp và có ý niệm chung là
văn hóa thời Hùng Vương phát triển qua 4 giai đoạn lớn: giai đoạn
Phùng Nguyên, Đồng Mậu, Gò Muôn và Đông Sơn. Viện trưởng
Viện Khảo cổ học Phạm Huy Thông cho biết: Địa bàn của văn hóa
Đông Sơn chính là địa bàn mà sử sách nói về 15 bộ (hay 15 bộ lạc) của
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
nước Văn Lang và trung tâm xuất phát văn hóa Đông Sơn, chính là vùng
hợp lưu các sông Thao - sông Hồng, sông Đà, sông Lô, nơi văn hóa Phùng
Nguyên đậm nét, nơi sử sách và truyền thuyết nhớ là đất tổ Phong Châu,
trung tâm nước Văn Lang của các vua Hùng”.
Đến với truyền thuyết về thời đại Hùng Vương là ta đến với tâm
linh của nguồn cội, của tình cảm gắn bó máu thịt “nước non vẫn
nước non nhà”, của đồng bào “máu chảy ruột mềm”,... Tình cảm
Trống đồng thời các vua Hùng
Hải điểu bay mừng khi thuyền về
(trên trống đồng thời các vua Hùng)
Hình người giã cối trên trống đồng
Rìu bằng đồng thời vua Hùng
Nhạc sĩ thổi khèn trên trống đồng
14
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
ấy bất biến, tồn tại trường cửu như sức sống của cả một dân tộc có
hơn 4.000 năm văn hiến.
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện
Lâm Thao (Phú Thọ) – cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km về
phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90km. Đền Hùng được xây dựng trên
núi Hùng – còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương, (hay còn có
nhiều tên gọi khác nhau như Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương,
Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn…), thuộc đất Phong Châu –
vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang hơn 4.000 năm trước đây.
Cổng đền được xây dựng vào năm 1917, có khắc bức đại tự “Cao
sơn cảnh hành”. Riêng 4 chữ này nên hiểu như thế nào? Đã có cuộc
tranh luận rất thú vị. Theo ông Lê Trung Việt thì Viện Hán Nôm
dịch “Núi cao đường lớn” là chưa đúng, phải dịch là “Núi cao cảnh
đẹp”. Không đồng ý, theo ông Nguyễn Lưu hai chữ “Cảnh hành”
theo một từ điển là “Đức hạnh cao minh” – vì thế phải hiểu theo
nghĩa “Đức cao như núi”. Cụ thể trong trường hợp này là dùng để
ca ngợi đức cao cả của Tổ tiên, chứ không phải nhằm tả cảnh đẹp
đền Hùng. Hai bên cổng đền còn có câu đối (Vũ Kim Biên dịch):
Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối;
Lên cao nhìn rộng, ngàn trùng đồi núi tựa bầy con.
Từ cổng đền, bước lên núi. Trước hết, ta thấy Nhà bia ghi công
đức các vua Hùng. Tại đây có bia đá, ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19-9-1954:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Gần đó là đền Hạ, chùa Thiên Quang và gác chuông. Đền Hạ
được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII-XVIII. Tương
truyền đây là nơi Bà Âu Cơ trở dạ sinh ra một bọc trứng nở thành
100 con trai. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng,
nay còn ở phía sau đền. Hai tiếng “đồng bào” (cùng bọc) vì thế mà
có. Hẳn chúng ta không thể quên những câu thơ thống thiết, mà
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
nhà giáo Ngô Quý Siêu đã viết để giảng dạy học trò từ thời Đông
Kinh nghĩa thục:
Đã sinh cùng giống, cùng nòi
Cùng trong đất nước là người đồng thân
Phải coi ruột thịt cho gần
Phải thương, phải xót quây quần lấy nhau
Phúc cùng hưởng, họa cùng đau
Một gan một dạ ghi sâu chữ “đồng”
May ra trời cũng xiêu lòng
Đời đời để giống Lạc Hồng này cho
Gió thu hiu hắt song hồ
Sử xanh còn đó, địa đồ còn đây
Mấy câu mượn bút giãi bày
Xin người trong nước non này cùng nghe
Rời đền Hạ, lên đền Trung. Tương truyền, đây là nơi các Vua
Hùng thường họp bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng; cũng
là nơi hoàng tử Lang Liêu dâng bánh dày, bánh chưng, được vua
Hùng thứ 6 khen “bánh thì ngon, ý thì hay” và được nối nghiệp là
Hùng Vương thứ 7.
Rời đền Trung, lên đền Thượng. Tương truyền là nơi các vua
Hùng tiến hành các nghi thức cúng tế Trời đất, Thần lúa, thờ Thánh
Gióng để muôn dân ấm no hạnh phúc, hưởng thái bình an lạc đời
đời... Vì thế, đền Thượng vẫn còn gọi là Kính thiên Lĩnh điện (điện
thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh). Theo truyền thuyết dân gian, nơi này
vua Hùng thứ 18 đã truyền ngôi lại cho cháu là Thục Phán. Để giữ
lời thề giữ vững cơ nghiệp của vua Hùng, giữ vững non sông gấm
vóc, Thục Phán cho dựng hai cột đá thề. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m,
hình vuông; năm 1968 Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện
nay. Tại đây còn có những bức hoành phi như Hùng Vương linh tích
(vết tích thiêng liêng của Vua Hùng), Hùng Vương tổ miếu (Miễu tổ
Hùng Vương), Triệu tổ Nam bang (Tổ muôn đời của nước Nam)... và
nhiều câu đối chữ Hán, chữ Nôm như:
16
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
- Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ tích;
Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương.
- Con cháu ba kỳ thăm mộ Tổ;
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
- Thần thánh mở cơ đồ, đến nay đất vẫn thế, dân vẫn thế;
Công huân thờ đền miếu, đó là cây có gốc, nước có nguồn.
- Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồi nhiều sông
hợp lại;
Khí thiện Đế Vương vẫn đấy, thét gió mưa gào một ngọn núi
đứng cao.
- Con cháu còn, tôn tổ vẫn còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi;
Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững
bền lâu.
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6 – nằm
ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt
quay theo hướng Đông Nam. Tương truyền trước lúc lâm chung,
ngài trăn trối: “Hãy chôn ta trên núi cao để ta trông nom bờ cõi cho
con cháu”.
Từ đền Thượng đi xuống gần chân khu Đền Hùng, ta sẽ gặp đền
Giếng, tên chữ là Ngọc Tỉnh – xây dựng vào thế kỷ XVIII. Tương
truyền hai công chúa của vua Hùng là Tiên Dung (sau lấy Chữ Đồng
Tử), Ngọc Hoa (sau lấy Tản Viên) thường đến đây soi gương, chải
tóc. Từ năm 2001, ta xây dựng thêm Đền thờ Mẹ Âu Cơ. Trong đền
ngoài tượng thờ Mẹ Âu Cơ còn có hai Lạc hầu, Lạc tướng. Tiếp đó
là Nhà bảo tàng Hùng Vương – nằm gần vị trí cổng lên Đền Hùng
– được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thành
đúng ngày khai hội Đền Hùng năm 2003 do Tổng Bí thư Đỗ Mười
cắt băng khánh thành. Bảo tàng có gần 700 hiện vật gốc trên tổng
số hơn 4.000 hiện vật, 162 bức ảnh, khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các
Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
Có thể nói, Đền Hùng không chỉ là thắng cảnh đẹp, non nước
hữu tình, mà còn là một di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt quan trọng
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
đối với người Việt Nam. “Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương
là một giai đoạn rất trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính thời kỳ
này xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam và
truyền thống tinh thần Việt Nam” (Lịch sử Việt Nam- NXB Khoa
học Xã hội - 1971).
Đường lên Đền Hùng
Sơ đồ Đền Hùng hiện
nay (2007)
18
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Lễ giỗ Tổ Hùng Vương
năm 1905
Đền Hùng
tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đền thờ vua Hùng
của bà con Việt kiều ở Úc
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Thờ cúng gia tiên - một phong tục văn hóa của người Việt Nam
20
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Thánh Tản Viên
Bách nghệ Tổ sư của nước Nam
Trong tâm thức dân gian của người Việt, đứng đầu “tứ bất tử”,
đệ nhất phúc thần – biểu tượng cho sự trường tồn, bất diệt của dân
tộc ta là Thánh Tản Viên (còn gọi là Tản Viên sơn thánh, Sơn Tinh,
Thanh Sơn đại vương). Về sự tích Thánh Tản Viên, sách Đại Việt sử
ký toàn thư chép rằng:
Cuối thời Hùng Vương, nhà vua có người con gái gọi là Mî
Nương, nhan sắc rất xinh đẹp. Nhà vua muốn tìm người xứng đáng
để gả, mới nói rằng: “Đứa con gái này là giống Tiên, cho nên chỉ ai
đủ tài đức ta mới cho làm rể”.
Bấy giờ, có hai người cùng vào lạy dưới sân xin cầu hôn. Nhà
vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng, một người là Sơn Tinh, một
người là Thuỷ Tinh, đều là ở trong cõi của nhà vua cả. Nay, nghe
tin nhà vua có thánh nữ, bèn đánh bạo tới xin chờ mệnh của vua.
Vua hạ lệnh cho hai người, rằng đến ngày hôm sau, ai đem đủ
sính lễ tới trước thì sẽ gả con cho người ấy. Hai người nghe xong, lạy
tạ rồi ra về. Hôm sau, Sơn Tinh đem các thứ châu báu bạc vàng, cùng
chim rừng thú núi tới dâng. Nhà vua y hẹn, gả con gái cho Sơn Tinh.
Sơn Tinh đón vợ về trên đỉnh cao của núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng
đem sính lễ đến, nhưng muộn hơn, bèn kéo mây làm mưa, dâng nước
tràn ngập, rồi đem các loài thuỷ tộc đuổi theo. Nhà vua cùng Sơn
Tinh lấy lưới sắt chắn ngang khu vực thượng lưu sông Từ Liêm (tức
khúc sông Hồng, chảy qua Chèm, ngoại thành Hà Nội) để ngăn lại.
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Thuỷ Tinh lại theo sông khác, từ vùng Lî Nhân vào chân núi Quảng
Oai, rồi men sông Hát và tràn ra sông Lớn (tức sông Hồng) mà ngoặt
sang sông Đà để đánh lên Tản Viên. Ở đâu Thuỷ Tinh cũng đào vực,
đào chằm để chứa nước hòng đánh úp Sơn Tinh. Sơn Tinh có phép
thần biến hoá, sai người đan tre thành hàng rào chắn nước, lấy cung
nỏ bắn xuống, khiến cho các loài thuỷ tộc đều bị trúng tên mà chạy
trốn. Rốt cuộc, Thuỷ Tinh không sao xâm phạm được núi Tản Viên.
Tục truyền, từ đó Thủy Tinh đời đời thù oán, hàng năm vẫn dâng
nước đánh Sơn Tinh.
Tước bỏ những yếu tố hoang đường, ta sẽ thấy được công việc trị
thủy của người Việt thời cổ xưa. Xét trong lời ăn tiếng nói của dân
gian, từ bao đời này vẫn còn truyền lại như nước lụt thì lút cả làng;
lụt to lút ngỏ, lụt nhỏ lút đồng; mưa tháng tư hư đất; mưa ngâu lâu ngày
cũng lụt; mưa thúi đất thúi trời...; hoặc trong “thủy, hỏa, đạo, tặc”, thì
“thủy” vẫn là khó khăn đầu tiên. Tuy nhiên, trong sản suất nông
nghiệp, nước lại là yếu tố đầu tiên “nước, phân, cần, giống”. Vì thế
chế ngự lũ lụt là điều bức thiết của dân tộc ta từ đời này qua đời
khác. Nhưng có một điều thú vị, thậm chí còn mang cả yếu tố lạc
quan, trong chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh ông cha ta đã hình tượng
bằng cuộc tranh giành người đẹp của hai vị thần si tình! Trong Đại
Nam quốc sử diễn ca viết:
Thủy Tinh lỡ bước chậm chân
Đùng đùng nổi giận đem ân oán thù
Mưa tuôn gió thổi mịt mù
Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia
Thì ra, lũ lụt dữ dội ấy cũng là do lòng ghen tức của vị thần
không... chiếm được trái tim giai nhân đấy thôi!
Càng cua lởm chởm giơ như mác
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo
22
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng
Đạp long đất núi, gầm xông xáo
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng
Sự tích Thánh Tản Viên đã phản ánh sức mạnh lớn lao của người
Việt trong cuộc chiến đấu thắng lũ lụt. Không những thế, trong tâm
thức dân gian Thánh Tản Viên còn là một con người vẹn toàn, có
công trong việc giữ nước và làm được nhiều ích nước lợi dân. Ngoài
việc giúp vua Hùng giữ được vẹn toàn lãnh thổ, Thánh Tản Viên còn
dạy dân làm ra lửa, làm ruộng, mở hội, săn bắt, kéo vó, dệt lụa... nên
được nhân dân từ ngàn xưa tôn là “Bách nghệ tổ sư của nước Nam”.
Sinh hoạt của người Việt ngày xưa
23
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Nhân đây thiết tưởng cũng nên nhắc đến nhân vật Cao Biền để
thấy thêm uy lực của Thánh Tản Viên. Thành ngữ Việt Nam có câu:
“Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Cao Biền (821-887) là ai? Y là một
viên tướng của nhà Đường, sang làm Tiết độ sứ cai quản nước Giao
Châu ta. Y là người quỷ quyệt, tinh thông lý số, giỏi về pháp thuật
“tản đậu thành binh”. Mỗi khi cần có quân lính, y chỉ cần rắc đậu
vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa
thành một người lính! Y sang Giao Châu nhằm triệt phá long mạch
và yểm bùa nơi có vượng khí làm lớn mạnh của nước Nam. Có lần y
nuôi 100 âm binh để phục vụ mục đích này. Để nuôi đủ 100 âm binh
y nhờ một bà hàng nước mỗi ngày thắp một nén hương để gọi dậy
một âm binh. Biết được âm mưu của y, bà lão đã phá bằng cách thắp
cả một lượt 100 nén hương trong vòng một ngày. Kết quả là âm binh
của y đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, dậy non nên không
có tác dụng! Lần khác y tìm đến núi Tản, thì gặp Thánh Tản Viên cưỡi
ngựa trắng ngồi trên mây bay ngang qua, nhìn thấy. Để tỏ ý khinh
bỉ trò khôi hài của Biền, ngài bèn nhổ xuống một bãi nước bọt, rồi
bỏ đi, không thèm nói năng. Cao Biền thấy vậy cả sợ, bèn dẹp ngay
trò quỷ thuật lại, rồi than rằng: “Linh khí phương Nam không thể
lường được. Vượng khí ở đây không bao giờ dứt. Ta phải về thôi!”.
Qua mẩu chuyện này, ta thấy tinh thần cảnh giác trước âm mưu
kẻ thù của người Việt thể hiện ở mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả
bà lão bán nước cũng ý thức nữa huống là... Thứ hai, dù đã về trời,
nhưng Thánh Tản Viên vẫn còn giúp nước, uy linh của ngài vẫn
còn khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Điều này cho thấy, không riêng gì
Đức Thánh Tản mà những ai một lòng một dạ với nước, dẫu mất
đi thì linh hồn vẫn còn đi theo phù trợ người trên cõi dương trần.
Hiện nay, Thánh Tản Viên được nhân dân thờ phụng chu đáo
qua nhiều đền, miếu. Có thể kể đền thờ thần Tản Viên thuộc xã
Trung Hưng, (Sơn Tây). Lễ hội được tổ chức ba năm một lần vào
ngày 15 tháng 1 âm lịch. Mở đầu là lễ rước kiệu Thánh Tản Viên
từ Đông Cung lên đến đền thờ Thánh trên núi Ba Vì. Sau đó có tục
lệ đánh cá, lấy nước sông Hồng tắm tượng thánh ở đền. Ở huyện
Phong Châu (Vĩnh Phú) tối 30 tháng Chạp hàng năm còn có lễ hội
24
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Vi Trẹo rước chúa gái – diễn lại cuộc đón dâu của Sơn Tinh; hoặc
lễ hội Tản Viên đánh Thục v.v...
Đánh giá về vai trò Thánh Tản Viên, trong tập Hùng Vương dựng
nước (NXB Khoa học Xã hội - 1974), nhà nghiên cứu Đoàn Công
Hoạt đã có những nhận xét xác đáng:
“Những truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh cho ta thấy ngay
từ thời kỳ cuối các vua Hùng nhân dân ta đã có những truyền thống
đạo đức và tinh thần rất tốt đẹp. Vì điều kiện thiên nhiên khắc
nghiệt, con người thời Sơn Tinh trước hết là con người lao động
hết sức kiên cường. Bản thân Sơn Tinh là điển hình chói lọi về con
người lao động ấy. Có thể nói một mình Sơn Tinh đã làm đủ các
nghề “ngư, tiều, canh, mục”, từ đốn củi, phát nương đến cấy cày,
chài lưới. Nhưng rực rỡ nhất vẫn là hình tượng Sơn Tinh – người
khổng lồ làm thủy lợi: Sự tích núi Sụ Bá và Thạch Khoán cùng sự
tích đồi Vai, đồi Đùm kể rằng Sơn Tinh gánh đất đắp núi chặn nước
sông do Thủy Tinh dâng lên, mải miết ngày đêm đến nỗi đứt quang,
gãy đòn gánh mà vẫn không nghỉ.
Chỉ với tinh thần lao động quên mình như vậy, tổ tiên ta mới có
thể chế ngự được nạn lụt khủng khiếp của những dòng sông lớn,
mới có thể đứng vững chân trên mảnh đất mới đồng bằng. Trên ý
nghĩa đó mà nói thì có thể coi truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh
là bài ca lao động hùng tráng, là bài ca chiến thắng vẻ vang của sức
lao động sáng tạo và vĩ đại.
Gắn liền với ý thức bảo vệ lãnh thổ, khẳng định quyền tồn tại
và phát triển trên địa bàn sinh tụ mới là truyền thống quật cường
thượng võ của người Việt thời Hùng Vương. Chuyện rèn quân luyện
võ của Sơn Tinh đã nói rõ truyền thống đó.
Mặc dù trải qua nhiều gian khổ nhưng Sơn Tinh luôn luôn là
người chiến thắng. Điều đó phản ánh ước mơ mà cũng phản ảnh
hiện thực. Nó nói lên ý chí bất khuất, quyết tâm sắt đá của ông cha
ta kiên quyết đánh thắng mọi kẻ thù.
Sức sống mãnh liệt đó, phẩm chất tinh thần tốt đẹp đó qua nhiều
thời đại luôn luôn được dân tộc ta nuôi dưỡng và phát huy mạnh mẽ.
25
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Một trong những phẩm chất đạo đức cao quý thường được nhắc
đến trong truyền thuyết là tinh thần dân chủ, bình đẳng, quan
điểm “thân dân” của Sơn Tinh. Không những Sơn Tinh cùng làm
cùng hưởng với mọi người, có khi ông còn có hành động quên
mình vì dân. Sự tích núi Che thuật chuyện Sơn Tinh đắp núi ngăn
nước ở vùng Bất Bạt (thuộc Ba Vì - Hà Tây), lâu ngày không trở
về nhà. Thủy Tinh cho quân giả làm người nhà của Sơn Tinh đến
báo tin vợ con ông ốm nặng. Sơn Tinh thản nhiên nói: “Mọi người
còn đang khốn khổ vì bọn giặc dữ. Dù vợ con ta có mệnh hệ nào
chăng nữa thì ta cũng không thể bỏ việc để về nhà được”. Một số
truyền thuyết còn kể chuyện Sơn Tinh thường xuyên đi mọi nơi
thăm hỏi dân tình: có nơi ông dạy dân trồng lúa, có nơi ông chữa
cứu dân bị dịch,....
Thông qua hình ảnh Sơn Tinh, ta còn thấy được người Việt thời
xưa là con người có nghĩa, có tình, có tâm hồn đôn hậu, thủy chung.
Truyền thuyết kể rằng từ khi đến miền đất mới, mặc dù ngăn sông
cách núi, nhưng hằng năm Sơn Tinh vẫn trở về thăm quê cũ Lăng
Xương và về lễ Tết ở đền Hùng. Do đó, các làng ven sông Đà miền
Bất Bạt cũ thường có lệ cuối năm lại chở thuyền “rước quân Thánh
Tản” qua sông về quê lễ Tết. Người lái thuyền được chọn phải tắm
gội sạch sẽ, nửa đêm hôm tất niên mặc quần áo lễ toàn màu đỏ,
xuống thuyền chở “tượng trưng” ba chuyến từ bến sông Đà bên
Ba Vì sang miền Thanh Thủy. Và chiều mồng ba tết, lại qua sông
sang miền Thanh Thủy chở ba lượt thuyền về bên bến Ba Vì (tất
nhiên cũng vẫn chở thuyền không). Nghi thức này được nhân dân
địa phương hết sức tôn trọng vì nó phù hợp với truyền thống tôn
trọng tổ tiên; uống nước nhớ nguồn vốn có từ lâu đời của dân tộc”
(tr. 443-444).
26
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Đức Thánh Gióng
Biểu tượng chống ngoại xâm của dân tộc Việt
Thánh Gióng (tranh dân gian)
Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười, trơ trơ
Những ngờ oan trái bao giờ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang
Lời thưa mẹ, dạ cần vương
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh
27
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Sứ về tâu trước thiên đình
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào
Trận mây theo ngọn cờ đào
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan
Áo nhung cởi lại Linh San
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
Phong giao Kinh Bắc xưa có câu: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám
hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội Gióng”; “Lâm râm hội
Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Gióng” hoặc:
Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời
Từ truyền thuyết dân gian, nhà văn hóa Phan Kếâ Bính đã viết
lại chuyện Thánh Gióng trong tập Nam hải dị nhân như sau:
“Vào đời Hùng Vương thứ sáu, thiên hạ thái bình, dân gian giàu
có; vua Hùng không triều cống nhà Ân bên Tàu. Thấy vậy, vua nhà
Ân giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân xâm chiếm nước Nam.
Hùng Vương lo sợ, vời quần thần vào để hỏi mưu mẹo đánh giặc
ngoại xâm và giữ yên bờ cõi. Có người phương sĩ thưa với vua rằng:
- Bệ hạ nên kêu khấn với Long Quân để Ngài sai thiên tướng
xuống giúp thì mới xong.
Vua nghe lời, lập đàn chay, cúng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng
đâu trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có
một cụ già cao lớn chín thước, đầu bạc râu trắng, ngồi ở một ngã
đường cái, vừa cười vừa nói, ngâm hát múa mênh. Ai trông thấy
cũng cho là lạ, mới tâu vua. Vua thân hành đến mời ông cụ đến nơi
làm đàn chay, đem cơm rượu thiết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống
và cũng không nói năng câu nào.
Vua hỏi rằng:
- Sắp có giặc phương Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế
nào, xin cụ bảo cho.
28
TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM
Một hồi lâu, ông cụ mới nói:
- Ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp
cả thiên hạ, cầu người kỳ tài, phá được giặc, thì nên chia đất, phong
tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá
giặc không khó gì nữa.
Nói xong, cụ già bay vụt lên trời, biến mất.
Vua lấy làm lạ, mới tuân lời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu
người tài. Bấy giờ, ở làng Phù Đổng, tên nôm là làng Gióng, huyện
Võ Ninh (bây giờ là Võ Giàng), có một ông ngoài 60 tuổi, chỉ sinh
được một cậu con trai 3 tuổi mà chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa,
không ngồi đứng lên được. Khi nghe sứ giả đi cầu người tài, đến
làng ấy, người mẹ đã nói bỡn với con rằng:
- Đẻ được một chút con trai chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không
được thì đánh thế nào được giặc, để mà lãnh thưởng của vua, đền
công sinh dưỡng cho cha mẹ.
Người con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ giả lại
đây. Bà mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với láng giềng. Người láng giềng
thấy lạ chuyện, xui người nhà thử gọi sứ giả đến xem sao.
Khi sứ giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:
- Tiểu nhi kia, gọi ta đến để làm gì?
Cậu bé ngồi dậy, bảo với sứ giả rằng:
- Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa
sắt cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước và một cái nón sắt,
đem đến cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy,
vua can gì phải lo.
Sứ giả mừng lắm, về tâu với vua. Nhà vua mừng rỡ bảo với
quần thần rằng:
- Đây là Long Vương cứu ta đây! Năm trước ông cụ già nói
chuyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hồ nghi gì nữa!
Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem
29
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
lại đưa cho tiểu nhi. Sứ giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói
xằng thì vạ lây đến cả nhà.
Tiểu nhi cười ầm lên nói rằng:
- Mẹ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn vi...
 





