BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Kể chuyện danh nhân Việt Nam tập 1 - Các vị tổ ngành nghề Việt nam (Lê Minh Quốc)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 13h:13' 29-04-2024
    Dung lượng: 6.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    1

    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
    Lê Minh Quốc
    Các vị tổ ngành nghề Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P. Hồ Chí Minh
    : Trẻ, 2009.
    208tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam; T.1)
    1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nghề nghiệp -- Việt Nam -- Lịch sử. 3. Nghề thủ công -- Việt Nam
    -- Lịch sử. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân Việt Nam.
    959.7092 -- dc 22
    L433-Q16

    nhà xuất bản trẻ

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
    Fax: 84.8.8437450
    E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
    Website: http://www. nxbtre.com.vn

    4

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Lời nói đầu

    “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” là tập sách mở đầu cho bộ
    sách nhiều tập KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà
    thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Tập sách này đã được tái bản nhiều
    lần. Nay theo yêu cầu của độc giả, chúng tôi sắp xếp, bổ sung thêm
    nhiều tư liệu, hình ảnh trong điều kiện có thể để phục vụ tốt hơn
    nữa. Khi thực hiện bộ sách này, chúng tôi mong muốn giúp cho
    bạn đọc – nhất là thanh thiếu niên – hiểu được sự hình thành của
    các ngành nghề và thấm nhuần công đức của các danh nhân đã có
    nhiều đóng góp trong các ngành nghề truyền thống. Đây là điều
    cần thiết trên hành trình “về nguồn” để chúng ta cùng tự hào, hãnh
    diện với những tên tuổi gắn liền với một ngành nghề nhất định.
    Chúng tôi tin rằng, bạn đọc sẽ cùng chia sẻ và đồng tình với
    chúng tôi về suy nghĩ mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu
    nhân Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1969: “Trong nhiều truyền thống tốt
    đẹp, dân tộc Việt Nam ta luôn giữ vững một truyền thống có ý nghĩa hay
    và đẹp vô cùng: tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã có công lớn
    trong việc dựng nước và giữ nước. Trong phạm vi của một tập thể nhỏ là
    làng xóm, bao gồm nhiều họ, nhiều gia đình, cũng như trong phạm vi cả
    nước, dân tộc Việt Nam ta, trong đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng
    và đời sống của mình đều gắn liền hiện tại với quá khứ, quê hương nhỏ
    với Tổ quốc và dân tộc, từ đó mà giữ vững và phát huy những đức tính
    cổ truyền tốt đẹp: lòng yêu nước, tình đoàn kết, chí kiên cường, bất khuất,
    niềm tin sâu xa và mạnh mẽ vào tài năng của mình”. Thiết nghĩ, đã là
    5

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    người Việt Nam chúng ta không thể không biết đến công đức trời
    biển các vị Vua Hùng đã công dựng nước và Tứ bất tử Việt Nam
    rất gắn bó trong tâm thức dân gian, do đó, chúng tôi đặt lên đầu
    bộ sách.
    Khi khảo sát các ngành nghề truyền thống, ta cần hiểu rằng,
    không phải chỉ khi có vị Tổ truyền nghề thì ở nước Nam ta mới có
    nghề ấy. Mà thật ra ngay từ thuở bình minh dựng nước, tổ tiên ta
    đã biết thành thạo các ngành nghề ấy. Đã đành các vị Tổ là người
    có công dạy nghề cho dân, nhưng những người thợ tài hoa có công
    cải tiến nghề, đem lại lợi ích cho cộng đồng thì cũng được tôn vinh
    là tổ nghề. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh hoàn toàn có lý khi khẳng định:
    “Tổ nghề (tổ sư hay thánh sư) không nhất thiết là con người thực, do đó,
    gạt bỏ những nhân vật huyền thoại, là không đúng với thực tế, nhất là
    sự thực ở tấm lòng và ở cảm quan thẩm mỹ của người dân”. Có một số
    ngành nghề gắn liền với thần thoại hoặc cùng một nghề nhưng mỗi
    địa phương lại thờ các Tổ khác nhau, cũng có những nghề mà người
    ta không rõ Tổ của mình là ai v.v... Phần lớn các ngành nghề truyền
    thống đề cập trong trang sách này như: nghề mộc, nghề thêu, nghề
    hát xẩm, hát ả đào, nghề in, nghề kim hoàn, nghề dệt chiếu, nghề
    đúc đồng, nghề dệt... không phải mới ra đời từ thời ông Tổ đó – mà
    có thể đã có trước đó rất lâu. Vậy tại sao làng nghề lại chọn người
    đó làm Tổ của nghề? Đây là điều hết sức thú vị và cũng phản ánh
    rõ nét đạo lý của người Việt là luôn biết ơn cả những vị đã góp
    phần nâng cao, cải tiến nghề nghiệp của mình để năng suất ngày
    một hiệu quả hơn. Và đúng như sự phân tích của Giáo sư Vũ Ngọc
    Khánh: “Việc thờ phụng các Tổ ngành nghề (người thực hay nhân vật
    huyền thoại) thật ra là cốt để khẳng định, tôn vinh ngành nghề ấy. Một
    ngày giỗ Tổ, một dịp hội hè, cũng là một bằng chứng cụ thể để thấy vị trí
    của ngành nghề trong cuộc nhân sinh và “Ngày giỗ Tổ bao giờ cũng là
    dịp “trình nghề”. Không phải sự trình nghề chung, đồng loạt như ta thấy
    ở hội lễ nông nghiệp, mà thật sự là một cố gắng giới thiệu những thành
    tựu của nghề. Những thành tựu ấy ít nhiều có liên quan đến vị Tổ sư và
    gợi ra nhiều suy nghĩ”.
    6

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Tiếc thay, công đức của các Tổ ngành nghề ấy, trải qua bao
    thăng trầm lịch sử chưa được ghi lại thật đầy đủ. Chính vì thế, dù
    có tham vọng muốn đề cập thêm một số ngành nghề cần tìm hiểu,
    nhưng do tư liệu còn quá mỏng nên chúng tôi xin trở lại vào một
    dịp thuận lợi hơn.
    Trong quá trình biên soạn chúng tôi tham khảo nhiều tư liệu
    và sử dụng khá nhiều hình ảnh minh họa – nhằm giúp cho bạn đọc
    hiểu rõ hơn về ngành nghề đó. Ảnh minh họa chủ yếu được sử dụng
    theo tranh khắc gỗ của Henri Oger – cựu sinh viên trường Đại học
    Sorbonne – thực hiện đầu thế kỷ XX, (cụ thể là những 1908-1909 tại
    Hà Nội), báo ảnh Việt Nam, kể cả một số ảnh sưu tập trên internet
    mà chúng tôi không rõ tác giả. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
    đến với các tác giả tập sách, tác giả ảnh đã thực hiện nhằm giúp cho
    chúng tôi thuận lợi hơn về mặt tư liệu khi biên soạn.
    Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc – nhất là các bạn thanh
    thiếu niên – và ngày một hoàn hảo hơn, chúng tôi rất mong được
    sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà
    sử học và của các bạn đọc xa gần. Trước hết xin độc giả nhận ở đây
    sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
    NHÀ XUẤT BẢN Trẻ

    7

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    8

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Vua Hùng
    Biểu tượng sự đoàn kết,
    thống nhất của dân tộc Việt

    Cõi Nam riêng một góc trời
    Hùng Vương gầy dựng đời đời nghiệp vua
    Phong Châu là chốn kinh đô
    Chia mười lăm bộ bản đồ mênh mông
    Trứng Rồng lại nở ra Rồng
    Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long
    Cây kia ăn quả ai trồng
    Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?
    Quân thần hai chữ trên đầu
    Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son
    Ba tòa chót vót đầu non
    Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương
    Bụi hồng mấy cuộc tang thương
    Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây
    Trời cao bể rộng đất dày
    Sông Thao, núi Tản chốn này còn ghi
    Bốn bề cây cỏ xanh rì
    Nhìn xem phong cảnh khác gì Đào Nguyên
    Đường mây sẵn bậc bước lên
    Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên, cha Rồng...
    Bài Chúc phúc Hội Đền Hùng này ra đời trong những năm đầu
    9

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    thế kỷ XX, nay đọc lại vẫn còn xúc động. Tác giả là ai? Không rõ.
    Chỉ biết nó được truyền miệng từ đời này qua đời khác.
    Còn có câu ca dao mộc mạc, chân tình, ghi sâu vào trí nhớ của
    nhiều thế hệ:
    Dù ai đi ngược về xuôi
    Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
    Khắp miền truyền mãi câu ca
    Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
    Dựa vào truyền thuyết dân gian và chính sử của các triều đại
    trước, nhà giáo, nhà sử học Trần Trọng Kim đã viết về nước ta thời
    thượng cổ như sau:
    “Họ Hồng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba
    đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ
    Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ
    ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho Lộc
    Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu
    là Xích Quỷ.
    Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
    Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp
    Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
    Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm
    tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long
    Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
    Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần
    được một trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta
    là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu
    với nhau không được; nay được trăm con thì nhà ngươi đem 50 đứa
    lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải”.
    Nước Văn Lang: Lạc Long Quân phong cho người con trưởng
    sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Cứ theo sử cũ
    thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
    10

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Đền thờ Kinh Dương Vương

    Bức tượng thờ
    Quốc Mẫu Âu Cơ
    được tạo tác từ thời Lê

    11

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Các tập tục dân gian của người Việt cổ
    được mô phỏng lại trong ngày
    Lễ hội giỗ Tổ Âu Cơ

    Đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ
    ở Hạ Hòa, Phú Thọ

    Lễ giỗ Mẹ Âu Cơ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    12

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
    2. Châu Diên (Sơn Tây)
    3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
    4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
    5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
    6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
    7. Lục Hải (Lạng Sơn)
    8. Ninh Hải (Quảng Yên)
    9. Dương Tuyền (Hải Dương)
    10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
    11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
    12. Hoài Hoan (Nghệ An)
    13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
    14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
    15. Bình Văn (?)
    Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
    Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ
    gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi
    là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ
    cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
    Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quý Mão (158
    trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Xét từ đời Kinh Dương
    Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua.
    Từ năm 1969, Hội Sử học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về đề tài
    Hùng Vương; công việc kéo dài tiếp tục trong các năm 1961-1963 và
    1966-1970. Các nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam đã vận dụng
    phương pháp nghiên cứu khoa học tổng hợp và có ý niệm chung là
    văn hóa thời Hùng Vương phát triển qua 4 giai đoạn lớn: giai đoạn
    Phùng Nguyên, Đồng Mậu, Gò Muôn và Đông Sơn. Viện trưởng
    Viện Khảo cổ học Phạm Huy Thông cho biết: Địa bàn của văn hóa
    Đông Sơn chính là địa bàn mà sử sách nói về 15 bộ (hay 15 bộ lạc) của
    13

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    nước Văn Lang và trung tâm xuất phát văn hóa Đông Sơn, chính là vùng
    hợp lưu các sông Thao - sông Hồng, sông Đà, sông Lô, nơi văn hóa Phùng
    Nguyên đậm nét, nơi sử sách và truyền thuyết nhớ là đất tổ Phong Châu,
    trung tâm nước Văn Lang của các vua Hùng”.
    Đến với truyền thuyết về thời đại Hùng Vương là ta đến với tâm
    linh của nguồn cội, của tình cảm gắn bó máu thịt “nước non vẫn
    nước non nhà”, của đồng bào “máu chảy ruột mềm”,... Tình cảm

    Trống đồng thời các vua Hùng
    Hải điểu bay mừng khi thuyền về
    (trên trống đồng thời các vua Hùng)

    Hình người giã cối trên trống đồng

    Rìu bằng đồng thời vua Hùng

    Nhạc sĩ thổi khèn trên trống đồng

    14

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    ấy bất biến, tồn tại trường cửu như sức sống của cả một dân tộc có
    hơn 4.000 năm văn hiến.
    Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện
    Lâm Thao (Phú Thọ) – cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km về
    phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90km. Đền Hùng được xây dựng trên
    núi Hùng – còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương, (hay còn có
    nhiều tên gọi khác nhau như Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương,
    Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn…), thuộc đất Phong Châu –
    vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang hơn 4.000 năm trước đây.
    Cổng đền được xây dựng vào năm 1917, có khắc bức đại tự “Cao
    sơn cảnh hành”. Riêng 4 chữ này nên hiểu như thế nào? Đã có cuộc
    tranh luận rất thú vị. Theo ông Lê Trung Việt thì Viện Hán Nôm
    dịch “Núi cao đường lớn” là chưa đúng, phải dịch là “Núi cao cảnh
    đẹp”. Không đồng ý, theo ông Nguyễn Lưu hai chữ “Cảnh hành”
    theo một từ điển là “Đức hạnh cao minh” – vì thế phải hiểu theo
    nghĩa “Đức cao như núi”. Cụ thể trong trường hợp này là dùng để
    ca ngợi đức cao cả của Tổ tiên, chứ không phải nhằm tả cảnh đẹp
    đền Hùng. Hai bên cổng đền còn có câu đối (Vũ Kim Biên dịch):
    Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối;
    Lên cao nhìn rộng, ngàn trùng đồi núi tựa bầy con.
    Từ cổng đền, bước lên núi. Trước hết, ta thấy Nhà bia ghi công
    đức các vua Hùng. Tại đây có bia đá, ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ
    Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19-9-1954:
    “Các Vua Hùng đã có công dựng nước
    Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
    Gần đó là đền Hạ, chùa Thiên Quang và gác chuông. Đền Hạ
    được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII-XVIII. Tương
    truyền đây là nơi Bà Âu Cơ trở dạ sinh ra một bọc trứng nở thành
    100 con trai. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng,
    nay còn ở phía sau đền. Hai tiếng “đồng bào” (cùng bọc) vì thế mà
    có. Hẳn chúng ta không thể quên những câu thơ thống thiết, mà
    15

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    nhà giáo Ngô Quý Siêu đã viết để giảng dạy học trò từ thời Đông
    Kinh nghĩa thục:
    Đã sinh cùng giống, cùng nòi
    Cùng trong đất nước là người đồng thân
    Phải coi ruột thịt cho gần
    Phải thương, phải xót quây quần lấy nhau
    Phúc cùng hưởng, họa cùng đau
    Một gan một dạ ghi sâu chữ “đồng”
    May ra trời cũng xiêu lòng
    Đời đời để giống Lạc Hồng này cho
    Gió thu hiu hắt song hồ
    Sử xanh còn đó, địa đồ còn đây
    Mấy câu mượn bút giãi bày
    Xin người trong nước non này cùng nghe
    Rời đền Hạ, lên đền Trung. Tương truyền, đây là nơi các Vua
    Hùng thường họp bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng; cũng
    là nơi hoàng tử Lang Liêu dâng bánh dày, bánh chưng, được vua
    Hùng thứ 6 khen “bánh thì ngon, ý thì hay” và được nối nghiệp là
    Hùng Vương thứ 7.
    Rời đền Trung, lên đền Thượng. Tương truyền là nơi các vua
    Hùng tiến hành các nghi thức cúng tế Trời đất, Thần lúa, thờ Thánh
    Gióng để muôn dân ấm no hạnh phúc, hưởng thái bình an lạc đời
    đời... Vì thế, đền Thượng vẫn còn gọi là Kính thiên Lĩnh điện (điện
    thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh). Theo truyền thuyết dân gian, nơi này
    vua Hùng thứ 18 đã truyền ngôi lại cho cháu là Thục Phán. Để giữ
    lời thề giữ vững cơ nghiệp của vua Hùng, giữ vững non sông gấm
    vóc, Thục Phán cho dựng hai cột đá thề. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m,
    hình vuông; năm 1968 Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện
    nay. Tại đây còn có những bức hoành phi như Hùng Vương linh tích
    (vết tích thiêng liêng của Vua Hùng), Hùng Vương tổ miếu (Miễu tổ
    Hùng Vương), Triệu tổ Nam bang (Tổ muôn đời của nước Nam)... và
    nhiều câu đối chữ Hán, chữ Nôm như:
    16

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    - Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ tích;
    Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương.
    - Con cháu ba kỳ thăm mộ Tổ;
    Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
    - Thần thánh mở cơ đồ, đến nay đất vẫn thế, dân vẫn thế;
    Công huân thờ đền miếu, đó là cây có gốc, nước có nguồn.
    - Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồi nhiều sông
    hợp lại;
    Khí thiện Đế Vương vẫn đấy, thét gió mưa gào một ngọn núi
    đứng cao.
    - Con cháu còn, tôn tổ vẫn còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi;
    Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững
    bền lâu.
    Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6 – nằm
    ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt
    quay theo hướng Đông Nam. Tương truyền trước lúc lâm chung,
    ngài trăn trối: “Hãy chôn ta trên núi cao để ta trông nom bờ cõi cho
    con cháu”.
    Từ đền Thượng đi xuống gần chân khu Đền Hùng, ta sẽ gặp đền
    Giếng, tên chữ là Ngọc Tỉnh – xây dựng vào thế kỷ XVIII. Tương
    truyền hai công chúa của vua Hùng là Tiên Dung (sau lấy Chữ Đồng
    Tử), Ngọc Hoa (sau lấy Tản Viên) thường đến đây soi gương, chải
    tóc. Từ năm 2001, ta xây dựng thêm Đền thờ Mẹ Âu Cơ. Trong đền
    ngoài tượng thờ Mẹ Âu Cơ còn có hai Lạc hầu, Lạc tướng. Tiếp đó
    là Nhà bảo tàng Hùng Vương – nằm gần vị trí cổng lên Đền Hùng
    – được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thành
    đúng ngày khai hội Đền Hùng năm 2003 do Tổng Bí thư Đỗ Mười
    cắt băng khánh thành. Bảo tàng có gần 700 hiện vật gốc trên tổng
    số hơn 4.000 hiện vật, 162 bức ảnh, khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các
    Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
    Có thể nói, Đền Hùng không chỉ là thắng cảnh đẹp, non nước
    hữu tình, mà còn là một di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt quan trọng
    17

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    đối với người Việt Nam. “Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương
    là một giai đoạn rất trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính thời kỳ
    này xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam và
    truyền thống tinh thần Việt Nam” (Lịch sử Việt Nam- NXB Khoa
    học Xã hội - 1971).

    Đường lên Đền Hùng

    Sơ đồ Đền Hùng hiện
    nay (2007)

    18

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Lễ giỗ Tổ Hùng Vương
    năm 1905

    Đền Hùng
    tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Đền thờ vua Hùng
    của bà con Việt kiều ở Úc

    19

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Thờ cúng gia tiên - một phong tục văn hóa của người Việt Nam

    20

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Thánh Tản Viên
    Bách nghệ Tổ sư của nước Nam

    Trong tâm thức dân gian của người Việt, đứng đầu “tứ bất tử”,
    đệ nhất phúc thần – biểu tượng cho sự trường tồn, bất diệt của dân
    tộc ta là Thánh Tản Viên (còn gọi là Tản Viên sơn thánh, Sơn Tinh,
    Thanh Sơn đại vương). Về sự tích Thánh Tản Viên, sách Đại Việt sử
    ký toàn thư chép rằng:
    Cuối thời Hùng Vương, nhà vua có người con gái gọi là Mî
    Nương, nhan sắc rất xinh đẹp. Nhà vua muốn tìm người xứng đáng
    để gả, mới nói rằng: “Đứa con gái này là giống Tiên, cho nên chỉ ai
    đủ tài đức ta mới cho làm rể”.
    Bấy giờ, có hai người cùng vào lạy dưới sân xin cầu hôn. Nhà
    vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng, một người là Sơn Tinh, một
    người là Thuỷ Tinh, đều là ở trong cõi của nhà vua cả. Nay, nghe
    tin nhà vua có thánh nữ, bèn đánh bạo tới xin chờ mệnh của vua.
    Vua hạ lệnh cho hai người, rằng đến ngày hôm sau, ai đem đủ
    sính lễ tới trước thì sẽ gả con cho người ấy. Hai người nghe xong, lạy
    tạ rồi ra về. Hôm sau, Sơn Tinh đem các thứ châu báu bạc vàng, cùng
    chim rừng thú núi tới dâng. Nhà vua y hẹn, gả con gái cho Sơn Tinh.
    Sơn Tinh đón vợ về trên đỉnh cao của núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng
    đem sính lễ đến, nhưng muộn hơn, bèn kéo mây làm mưa, dâng nước
    tràn ngập, rồi đem các loài thuỷ tộc đuổi theo. Nhà vua cùng Sơn
    Tinh lấy lưới sắt chắn ngang khu vực thượng lưu sông Từ Liêm (tức
    khúc sông Hồng, chảy qua Chèm, ngoại thành Hà Nội) để ngăn lại.
    21

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Thuỷ Tinh lại theo sông khác, từ vùng Lî Nhân vào chân núi Quảng
    Oai, rồi men sông Hát và tràn ra sông Lớn (tức sông Hồng) mà ngoặt
    sang sông Đà để đánh lên Tản Viên. Ở đâu Thuỷ Tinh cũng đào vực,
    đào chằm để chứa nước hòng đánh úp Sơn Tinh. Sơn Tinh có phép
    thần biến hoá, sai người đan tre thành hàng rào chắn nước, lấy cung
    nỏ bắn xuống, khiến cho các loài thuỷ tộc đều bị trúng tên mà chạy
    trốn. Rốt cuộc, Thuỷ Tinh không sao xâm phạm được núi Tản Viên.
    Tục truyền, từ đó Thủy Tinh đời đời thù oán, hàng năm vẫn dâng
    nước đánh Sơn Tinh.
    Tước bỏ những yếu tố hoang đường, ta sẽ thấy được công việc trị
    thủy của người Việt thời cổ xưa. Xét trong lời ăn tiếng nói của dân
    gian, từ bao đời này vẫn còn truyền lại như nước lụt thì lút cả làng;
    lụt to lút ngỏ, lụt nhỏ lút đồng; mưa tháng tư hư đất; mưa ngâu lâu ngày
    cũng lụt; mưa thúi đất thúi trời...; hoặc trong “thủy, hỏa, đạo, tặc”, thì
    “thủy” vẫn là khó khăn đầu tiên. Tuy nhiên, trong sản suất nông
    nghiệp, nước lại là yếu tố đầu tiên “nước, phân, cần, giống”. Vì thế
    chế ngự lũ lụt là điều bức thiết của dân tộc ta từ đời này qua đời
    khác. Nhưng có một điều thú vị, thậm chí còn mang cả yếu tố lạc
    quan, trong chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh ông cha ta đã hình tượng
    bằng cuộc tranh giành người đẹp của hai vị thần si tình! Trong Đại
    Nam quốc sử diễn ca viết:
    Thủy Tinh lỡ bước chậm chân
    Đùng đùng nổi giận đem ân oán thù
    Mưa tuôn gió thổi mịt mù
    Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia
    Thì ra, lũ lụt dữ dội ấy cũng là do lòng ghen tức của vị thần
    không... chiếm được trái tim giai nhân đấy thôi!
    Càng cua lởm chởm giơ như mác
    Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao
    Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
    Niệm chú, đất nẩy vù lên cao
    Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo
    22

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng
    Đạp long đất núi, gầm xông xáo
    Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng
    Sự tích Thánh Tản Viên đã phản ánh sức mạnh lớn lao của người
    Việt trong cuộc chiến đấu thắng lũ lụt. Không những thế, trong tâm
    thức dân gian Thánh Tản Viên còn là một con người vẹn toàn, có
    công trong việc giữ nước và làm được nhiều ích nước lợi dân. Ngoài
    việc giúp vua Hùng giữ được vẹn toàn lãnh thổ, Thánh Tản Viên còn
    dạy dân làm ra lửa, làm ruộng, mở hội, săn bắt, kéo vó, dệt lụa... nên
    được nhân dân từ ngàn xưa tôn là “Bách nghệ tổ sư của nước Nam”.

    Sinh hoạt của người Việt ngày xưa

    23

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Nhân đây thiết tưởng cũng nên nhắc đến nhân vật Cao Biền để
    thấy thêm uy lực của Thánh Tản Viên. Thành ngữ Việt Nam có câu:
    “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Cao Biền (821-887) là ai? Y là một
    viên tướng của nhà Đường, sang làm Tiết độ sứ cai quản nước Giao
    Châu ta. Y là người quỷ quyệt, tinh thông lý số, giỏi về pháp thuật
    “tản đậu thành binh”. Mỗi khi cần có quân lính, y chỉ cần rắc đậu
    vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa
    thành một người lính! Y sang Giao Châu nhằm triệt phá long mạch
    và yểm bùa nơi có vượng khí làm lớn mạnh của nước Nam. Có lần y
    nuôi 100 âm binh để phục vụ mục đích này. Để nuôi đủ 100 âm binh
    y nhờ một bà hàng nước mỗi ngày thắp một nén hương để gọi dậy
    một âm binh. Biết được âm mưu của y, bà lão đã phá bằng cách thắp
    cả một lượt 100 nén hương trong vòng một ngày. Kết quả là âm binh
    của y đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, dậy non nên không
    có tác dụng! Lần khác y tìm đến núi Tản, thì gặp Thánh Tản Viên cưỡi
    ngựa trắng ngồi trên mây bay ngang qua, nhìn thấy. Để tỏ ý khinh
    bỉ trò khôi hài của Biền, ngài bèn nhổ xuống một bãi nước bọt, rồi
    bỏ đi, không thèm nói năng. Cao Biền thấy vậy cả sợ, bèn dẹp ngay
    trò quỷ thuật lại, rồi than rằng: “Linh khí phương Nam không thể
    lường được. Vượng khí ở đây không bao giờ dứt. Ta phải về thôi!”.
    Qua mẩu chuyện này, ta thấy tinh thần cảnh giác trước âm mưu
    kẻ thù của người Việt thể hiện ở mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả
    bà lão bán nước cũng ý thức nữa huống là... Thứ hai, dù đã về trời,
    nhưng Thánh Tản Viên vẫn còn giúp nước, uy linh của ngài vẫn
    còn khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Điều này cho thấy, không riêng gì
    Đức Thánh Tản mà những ai một lòng một dạ với nước, dẫu mất
    đi thì linh hồn vẫn còn đi theo phù trợ người trên cõi dương trần.
    Hiện nay, Thánh Tản Viên được nhân dân thờ phụng chu đáo
    qua nhiều đền, miếu. Có thể kể đền thờ thần Tản Viên thuộc xã
    Trung Hưng, (Sơn Tây). Lễ hội được tổ chức ba năm một lần vào
    ngày 15 tháng 1 âm lịch. Mở đầu là lễ rước kiệu Thánh Tản Viên
    từ Đông Cung lên đến đền thờ Thánh trên núi Ba Vì. Sau đó có tục
    lệ đánh cá, lấy nước sông Hồng tắm tượng thánh ở đền. Ở huyện
    Phong Châu (Vĩnh Phú) tối 30 tháng Chạp hàng năm còn có lễ hội
    24

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Vi Trẹo rước chúa gái – diễn lại cuộc đón dâu của Sơn Tinh; hoặc
    lễ hội Tản Viên đánh Thục v.v...
    Đánh giá về vai trò Thánh Tản Viên, trong tập Hùng Vương dựng
    nước (NXB Khoa học Xã hội - 1974), nhà nghiên cứu Đoàn Công
    Hoạt đã có những nhận xét xác đáng:
    “Những truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh cho ta thấy ngay
    từ thời kỳ cuối các vua Hùng nhân dân ta đã có những truyền thống
    đạo đức và tinh thần rất tốt đẹp. Vì điều kiện thiên nhiên khắc
    nghiệt, con người thời Sơn Tinh trước hết là con người lao động
    hết sức kiên cường. Bản thân Sơn Tinh là điển hình chói lọi về con
    người lao động ấy. Có thể nói một mình Sơn Tinh đã làm đủ các
    nghề “ngư, tiều, canh, mục”, từ đốn củi, phát nương đến cấy cày,
    chài lưới. Nhưng rực rỡ nhất vẫn là hình tượng Sơn Tinh – người
    khổng lồ làm thủy lợi: Sự tích núi Sụ Bá và Thạch Khoán cùng sự
    tích đồi Vai, đồi Đùm kể rằng Sơn Tinh gánh đất đắp núi chặn nước
    sông do Thủy Tinh dâng lên, mải miết ngày đêm đến nỗi đứt quang,
    gãy đòn gánh mà vẫn không nghỉ.
    Chỉ với tinh thần lao động quên mình như vậy, tổ tiên ta mới có
    thể chế ngự được nạn lụt khủng khiếp của những dòng sông lớn,
    mới có thể đứng vững chân trên mảnh đất mới đồng bằng. Trên ý
    nghĩa đó mà nói thì có thể coi truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh
    là bài ca lao động hùng tráng, là bài ca chiến thắng vẻ vang của sức
    lao động sáng tạo và vĩ đại.
    Gắn liền với ý thức bảo vệ lãnh thổ, khẳng định quyền tồn tại
    và phát triển trên địa bàn sinh tụ mới là truyền thống quật cường
    thượng võ của người Việt thời Hùng Vương. Chuyện rèn quân luyện
    võ của Sơn Tinh đã nói rõ truyền thống đó.
    Mặc dù trải qua nhiều gian khổ nhưng Sơn Tinh luôn luôn là
    người chiến thắng. Điều đó phản ánh ước mơ mà cũng phản ảnh
    hiện thực. Nó nói lên ý chí bất khuất, quyết tâm sắt đá của ông cha
    ta kiên quyết đánh thắng mọi kẻ thù.
    Sức sống mãnh liệt đó, phẩm chất tinh thần tốt đẹp đó qua nhiều
    thời đại luôn luôn được dân tộc ta nuôi dưỡng và phát huy mạnh mẽ.
    25

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Một trong những phẩm chất đạo đức cao quý thường được nhắc
    đến trong truyền thuyết là tinh thần dân chủ, bình đẳng, quan
    điểm “thân dân” của Sơn Tinh. Không những Sơn Tinh cùng làm
    cùng hưởng với mọi người, có khi ông còn có hành động quên
    mình vì dân. Sự tích núi Che thuật chuyện Sơn Tinh đắp núi ngăn
    nước ở vùng Bất Bạt (thuộc Ba Vì - Hà Tây), lâu ngày không trở
    về nhà. Thủy Tinh cho quân giả làm người nhà của Sơn Tinh đến
    báo tin vợ con ông ốm nặng. Sơn Tinh thản nhiên nói: “Mọi người
    còn đang khốn khổ vì bọn giặc dữ. Dù vợ con ta có mệnh hệ nào
    chăng nữa thì ta cũng không thể bỏ việc để về nhà được”. Một số
    truyền thuyết còn kể chuyện Sơn Tinh thường xuyên đi mọi nơi
    thăm hỏi dân tình: có nơi ông dạy dân trồng lúa, có nơi ông chữa
    cứu dân bị dịch,....
    Thông qua hình ảnh Sơn Tinh, ta còn thấy được người Việt thời
    xưa là con người có nghĩa, có tình, có tâm hồn đôn hậu, thủy chung.
    Truyền thuyết kể rằng từ khi đến miền đất mới, mặc dù ngăn sông
    cách núi, nhưng hằng năm Sơn Tinh vẫn trở về thăm quê cũ Lăng
    Xương và về lễ Tết ở đền Hùng. Do đó, các làng ven sông Đà miền
    Bất Bạt cũ thường có lệ cuối năm lại chở thuyền “rước quân Thánh
    Tản” qua sông về quê lễ Tết. Người lái thuyền được chọn phải tắm
    gội sạch sẽ, nửa đêm hôm tất niên mặc quần áo lễ toàn màu đỏ,
    xuống thuyền chở “tượng trưng” ba chuyến từ bến sông Đà bên
    Ba Vì sang miền Thanh Thủy. Và chiều mồng ba tết, lại qua sông
    sang miền Thanh Thủy chở ba lượt thuyền về bên bến Ba Vì (tất
    nhiên cũng vẫn chở thuyền không). Nghi thức này được nhân dân
    địa phương hết sức tôn trọng vì nó phù hợp với truyền thống tôn
    trọng tổ tiên; uống nước nhớ nguồn vốn có từ lâu đời của dân tộc”
    (tr. 443-444).

    26

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Đức Thánh Gióng
    Biểu tượng chống ngoại xâm của dân tộc Việt

    Thánh Gióng (tranh dân gian)

    Sáu đời Hùng vận vừa suy
    Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài
    Làng Phù Đổng có một người
    Sinh ra chẳng nói, chẳng cười, trơ trơ
    Những ngờ oan trái bao giờ
    Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân
    Nghe vua cầu tướng ra quân,
    Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang
    Lời thưa mẹ, dạ cần vương
    Lấy trung làm hiếu một đường phân minh
    27

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Sứ về tâu trước thiên đình
    Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào
    Trận mây theo ngọn cờ đào
    Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan
    Áo nhung cởi lại Linh San
    Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên
    (Đại Nam quốc sử diễn ca)
    Phong giao Kinh Bắc xưa có câu: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám
    hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội Gióng”; “Lâm râm hội
    Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Gióng” hoặc:
    Ai ơi mồng chín tháng tư
    Không đi hội Gióng cũng hư mất đời
    Từ truyền thuyết dân gian, nhà văn hóa Phan Kếâ Bính đã viết
    lại chuyện Thánh Gióng trong tập Nam hải dị nhân như sau:
    “Vào đời Hùng Vương thứ sáu, thiên hạ thái bình, dân gian giàu
    có; vua Hùng không triều cống nhà Ân bên Tàu. Thấy vậy, vua nhà
    Ân giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân xâm chiếm nước Nam.
    Hùng Vương lo sợ, vời quần thần vào để hỏi mưu mẹo đánh giặc
    ngoại xâm và giữ yên bờ cõi. Có người phương sĩ thưa với vua rằng:
    - Bệ hạ nên kêu khấn với Long Quân để Ngài sai thiên tướng
    xuống giúp thì mới xong.
    Vua nghe lời, lập đàn chay, cúng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng
    đâu trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có
    một cụ già cao lớn chín thước, đầu bạc râu trắng, ngồi ở một ngã
    đường cái, vừa cười vừa nói, ngâm hát múa mênh. Ai trông thấy
    cũng cho là lạ, mới tâu vua. Vua thân hành đến mời ông cụ đến nơi
    làm đàn chay, đem cơm rượu thiết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống
    và cũng không nói năng câu nào.
    Vua hỏi rằng:
    - Sắp có giặc phương Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế
    nào, xin cụ bảo cho.
    28

    TẬP 1: CÁC VỊ TỔ NGÀNH NGHỀ VIỆT NAM

    Một hồi lâu, ông cụ mới nói:
    - Ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp
    cả thiên hạ, cầu người kỳ tài, phá được giặc, thì nên chia đất, phong
    tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá
    giặc không khó gì nữa.
    Nói xong, cụ già bay vụt lên trời, biến mất.
    Vua lấy làm lạ, mới tuân lời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu
    người tài. Bấy giờ, ở làng Phù Đổng, tên nôm là làng Gióng, huyện
    Võ Ninh (bây giờ là Võ Giàng), có một ông ngoài 60 tuổi, chỉ sinh
    được một cậu con trai 3 tuổi mà chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa,
    không ngồi đứng lên được. Khi nghe sứ giả đi cầu người tài, đến
    làng ấy, người mẹ đã nói bỡn với con rằng:
    - Đẻ được một chút con trai chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không
    được thì đánh thế nào được giặc, để mà lãnh thưởng của vua, đền
    công sinh dưỡng cho cha mẹ.
    Người con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ giả lại
    đây. Bà mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với láng giềng. Người láng giềng
    thấy lạ chuyện, xui người nhà thử gọi sứ giả đến xem sao.
    Khi sứ giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:
    - Tiểu nhi kia, gọi ta đến để làm gì?
    Cậu bé ngồi dậy, bảo với sứ giả rằng:
    - Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa
    sắt cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước và một cái nón sắt,
    đem đến cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy,
    vua can gì phải lo.
    Sứ giả mừng lắm, về tâu với vua. Nhà vua mừng rỡ bảo với
    quần thần rằng:
    - Đây là Long Vương cứu ta đây! Năm trước ông cụ già nói
    chuyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hồ nghi gì nữa!
    Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem
    29

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    lại đưa cho tiểu nhi. Sứ giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói
    xằng thì vạ lây đến cả nhà.
    Tiểu nhi cười ầm lên nói rằng:
    - Mẹ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn vi...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !