Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Kể chuyện danh nhân Việt Nam tập 2 - Những người Việt Nam đi tiên phong (Lê Minh Quốc)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 13h:15' 29-04-2024
Dung lượng: 7.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 13h:15' 29-04-2024
Dung lượng: 7.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Lê Minh Quốc
Những người Việt Nam đi tiên phong / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P.
Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
228tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam ; T.2)
1. Danh nhân -- Việt Nam. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân Việt Nam.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
4
Lời nói đầu
Nhìn lại lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, chúng
ta tự hào Tổ quốc ta có những danh nhân đã đóng góp trí tuệ, tài
năng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa... Qua đó,
chúng ta nhận thấy, một trong những truyền thống tốt đẹp góp phần
tạo nên bản sắc của dân tộc ta là tinh thần hiếu học, say mê nghiên
cứu, tìm tòi không mệt mỏi và dũng cảm thực hiện hoài bão của mình
để từ đó, hình thành cái mới, cái đẹp phù hợp với nhu cầu phát triển
của thời đại. Lịch sử đã cho thấy bất kỳ trong giai đoạn nào đất nước
ta cũng có những con người tài hoa, họ đã đi những bước tiên phong
trên nhiều lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội... để khai quang mở lối,
rồi thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện.
Trong chiều hướng ấy, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản tập sách Những
người Việt Nam đi tiên phong - nằm trong bộ sách KỂ CHUYỆN DANH
NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Bộ sách này
được thực hiện từ nhiều năm trước, đã nhiều lần tái bản. Nay theo
yêu cầu của bạn đọc, chúng tôi sắp xếp lại nhân vật, bổ sung thêm
nhiều hình ảnh, tư liệu nhằm phục vụ bạn đọc tốt hơn nữa. Do khuôn
khổ có hạn, tập sách chưa thể đề cập đầy đủ các nhân vật như mong
muốn, chúng tôi sẽ bổ sung thêm sau.
Về thứ tự của nhân vật, trước mắt chúng tôi sắp xếp theo lĩnh
vực hoạt động.
Mở đầu tập sách là sử gia Lê Văn Hưu – người đặt nền móng cho
nền sử học Việt Nam với tác phẩm Đại Việt sử ký hoàn thành năm
1272; là Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm – người mở đầu cho thể loại vịnh
sử Nam bằng chữ Hán. Cũng nằm trong lĩnh vực văn hóa của nước
nhà, chúng tôi tiếp tục đề cập đến những tiếng tăm của thế kỷ XX
5
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
như họa sĩ Nam Sơn – người đã có công sáng lập trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương cùng Victor Tardieu – đào tạo nhiều thế hệ
họa sĩ thuộc lớp đầu đàn của nền hội họa Việt Nam. Là nhà viết kịch
Vũ Đình Long, người đã viết vở Chén thuốc độc công diễn năm 1921
tại Nhà hát Hà Nội – mà trong chuyên đề Lướt qua một thế kỷ, Hội
khoa học lịch sử Việt Nam đã ghi nhận: “Vở kịch đã đi vào văn học
sử và sân khấu Việt Nam với tư cách một sự mở đầu cho kịch nói
dân tộc” (Tạp chí Xưa-Nay số 1/2000).
Chúng tôi cũng không quên được vai trò tiên phong của nhà thơ,
nhà báo Thế Lữ, Phan Khôi, Tam Lang, Hoàng Tích Chu... đã có nhiều
đóng góp không thể phai mờ trong lịch sử phát triển báo chí Việt
Nam, văn học của nước nhà. Và chúng tôi cũng không quên những
nhân vật khác. Đó là nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị – người đã có những
bước tiên phong trong nghệ thuật chèo truyền thống; là nghệ sĩ Tống
Hữu Định – người có sáng kiến “ca ra bộ” góp phần thúc đẩy sự hình
thành và phát triển của loại hình nghệ thuật cải lương... Hoặc Nghệ
sĩ Nhân dân Tạ Duy Hiển – người có công đầu trong việc hình thành
loại hình nghệ thuật xiếc ở Việt Nam từ thế kỷ XX. Hoặc nhà báo
Trần Tấn Quốc, người đầu tiên lập ra giải Thanh Tâm rất đáng ghi
nhận, vì ông là người tiên phong góp phần tích cực để xóa bỏ thành
kiến “xướng ca vô loài” và nâng đỡ tâm hồn cho người nghệ sĩ về ý
thức đem tài đức của mình cống hiến cho xã hội. Hiện nay, để phát
huy ý nghĩa tích cực của giải thưởng này, Hội Sân khấu Thành phố
Hồ Chí Minh đã tổ chức giải Trần Hữu Trang kế thừa công việc mà
Trần Tấn Quốc đã khởi xướng từ thập niên 50 của thế kỷ XX v.v...
Riêng về lĩnh vực võ thuật của nước nhà, chúng tôi đề cập đến võ
sư Nguyễn Lộc – người đã có công sáng lập VoViNam (Việt võ đạo)
mà các thế hệ sau tôn vinh là Võ sư Sáng tổ. Ngoài phần võ thuật và
tinh thần võ đạo, ông còn muốn giáo dục các môn sinh sau này của
ông về danh dự của Tổ quốc. Nghĩa là thanh niên Việt Nam phải có
phương pháp tự vệ mang danh dân tộc Việt Nam, tiêu biểu cho tinh
thần tự chủ bất khuất của tiền nhân, để khi chiến đấu có được hùng
khí, quyết đem vinh quang về cho Tổ quốc, cho môn phái.
6
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, trước hết chúng tôi đề cập
đến nhà doanh điền Thoại Ngọc Hầu – đã trực tiếp chỉ huy đào và
hoàn thành kinh Đông Xuyên nối liền Châu Đốc đến cửa biển Giang
Thành (Hà Tiên) vào năm 1824. Sự kiện vĩ đại này được ghi nhận
trong Đại Nam nhất thống chí: “Từ đây đường sông mới lưu thông, việc
biên phòng, việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Về sau, trong
lĩnh vực kinh tế còn có những nhân vật hoạt động sôi nổi, nhằm cạnh
tranh với ngoại bang và qua đó, họ đã đóng góp nhiều tiền của cho
phong trào yêu nước. Chúng tôi đề cập đến nhân vật Trần Chánh
Chiếu – một trong những trụ cột của phong trào Duy tân, Đông du
tại Nam kỳ. Có một điều rất thú vị, chính ông đã lập tập đoàn kinh
tế đầu tiên ở miền Nam và cũng là người đã biết dùng công cụ báo
chí để tạo trong quảng đại quần chúng ý thức mới trong kinh doanh
thương nghiệp nhằm cạnh tranh với các thế lực tư bản ngoại quốc
đang thống lĩnh trong lĩnh vực kinh tế của nước nhà. Nối tiếp vai trò
tiên phong trong lĩnh vực này, chúng tôi tiếp tục đề cập đến những
tên tuổi lừng danh khác. Đó là ông Bạch Thái Bưởi – “ông vua” của
ngành vận tải đường thủy ở nước ta đầu thế kỷ XX – dám cạnh tranh
với tư bản Pháp và Hoa Kiều khi mà nền kinh tế nước nhà đang bị
họ thao túng nhiều mặt; là ông Nguyễn Sơn Hà – người Việt Nam
đầu tiên sản xuất sơn theo công nghệ hiện đại để cạnh tranh với sản
phẩm của người Pháp; là ông Trương Văn Bền – người đã vinh danh
xà bông Việt Nam qua nhãn hiệu “Xà bông Cô Ba” v.v...
Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc, chúng tôi rất mong được
sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà
sử học và của các bạn đọc xa gần để bộ sách này ngày một hoàn hảo
hơn. Trước hết xin quý độc giả ghi nhận nơi đây sự biết ơn sâu xa
của chúng tôi.
Nhà xuất bản TRẺ
7
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
8
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
LÊ VĂN HƯU
Người soạn quốc sử đầu tiên
của Việt Nam
Thời Chiến quốc ở nước Tề có nhân vật Mạnh Thường Quân- tên
thật là Điền Văn. Ông là người nghĩa hiệp và hiếu khách, thường nghĩ
rằng, muốn làm nên sự nghiệp ở đời thì nhà võ phải có võ tướng
theo hầu, nhà văn phải có văn nhân tài tử theo giúp. Vì thế khi kế
nghiệp cha, ông bỏ tiền ra chiêu hiền đãi sĩ, để lại tiếng thơm trên
đời. Ở nước ta vào thế kỷ thứ X, tại quận Cửu Chân, Châu Ái (nay
là Thanh Hóa) cũng có một Mạnh Thường Quân như thế. Đó là gia
đình ông Lê Lương, giàu có nhất trong vùng, làm đến chức Trấn quốc
bộc xạ. Trong nhà ông trữ thóc đến 110 lẫm, nuôi 3.000 người khách,
thường bỏ tiền ra để xây chùa, dựng miếu và dốc lòng làm việc thiện.
Gặp lúc thiên tai, hỏa hoạn nhân dân trong vùng lâm vào cảnh đói
rét thì ông đem thóc trong nhà ra phát chẩn. Thế lực của ông rất lớn
nên ai ai cũng kính nể. Năm 968 anh hùng Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi
hoàng đế, nghe tiếng tốt của ông nên phong cho làm chức Đô quốc
dịch sứ ở Châu Ái, lại ban cho hàm Kim tử quan lộc đại phu. Đến
thời vua Lê Đại Hành chống giặc Tống, ông được giao chức Bộc xạ
tướng công chuyên lo việc quân lương. Ông Lê Lương là ông tổ bảy
đời của nhà sử học Lê Văn Hưu.
Lê Văn Hưu sinh năm 1230, là con trai của ông Lê Văn Minh
và bà Đỗ Thị Hòa người làng Phủ Lý (tên nôm là Kẻ Ry) nay là xã
Thiệu Trung, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa). Khi bà Hòa mang thai
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Lê Văn Hưu được mấy tháng thì ông Minh bị bạo bệnh mất. Do đó,
mẹ con Lê Văn Hưu về sống với ông ngoại là Đỗ Tất Bình – vốn là
một nhà nho tinh thông địa học, phong thủy và là người từng lấy đất
đặt mộ cho dòng họ Lê. Tương truyền, lúc mới sinh ra Lê Văn Hưu
diện mạo khôi ngô tuấn tú nên cả dòng họ mừng rỡ, ông ngoại đặt
tên là Hưu với nhiều ý nghĩa: “Hưu” là để trừ điều may rủi (nghĩa là
nghỉ đi, dứt đi) ; còn có nghĩa là vui vẻ; là tên con thú lớn khỏe mạnh
(tì hưu), được các loài thú kính nể và cũng có nghĩa là lấy sơn sơn vật
cho đẹp. Chắc chắn, sự giáo dục chu đáo của ông ngoại có ảnh hưởng
sâu đậm đến Lê Văn Hưu. Ngay từ nhỏ, Lê Văn Hưu đã tỏ ra thông
minh và hiếu học hơn người.
Theo truyền thuyết dân gian, lúc ông đi học, bà mẹ thường thấy
bốn đám mây che râm mát trên đầu! Ban đầu Lê Văn Hưu được ông
ngoại dạy dỗ, sau theo học với ông đồ họ Nguyễn ở làng Phúc Triền,
Kẻ Bôn (cạnh Kẻ Ry). Ngày nọ thầy sai Lê Văn Hưu sang chỗ bác thợ
rèn mượn cái dùi về đóng sách. Nghe tiếng cậu học trò này là thần
đồng, tư chất thông minh nên bác thợ rèn bèn ra câu đối để thử tài:
- Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.
Thông thường ra câu đối thì dễ, chỉ có đối lại mới khó. Bác thợ
rèn vừa dứt lời, Lê Văn Hưu đã đọc ngay vế đối lại:
- Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn kinh ngạc, vì không chỉ vế đối rất chuẩn mà khẩu khí
hơn người. Sau này, khi lớn lên, Lê Văn Hưu trọ học ở chùa Báo Ân
(núi Nhôi, Đông Sơn). Ngày nọ, có đạo sĩ tu tiên ở núi Nhôi xuống
chơi chùa Báo Ân, thấy cậu học trò có gương mặt sáng láng nên muốn
thử tài. Đang thong thả đứng ngắm cảnh, ông buột miệng đọc:
- Cây thiên tuế sống ngàn năm.
Không ngờ, dù đang để tâm trí học bài, nhưng mới thoáng nghe
qua, cậu học trò liền trả lời:
- Hoa thiên lý thơm vạn dặm.
Khẩu khí của vế đối khiến vị đạo sĩ khen ngợi mãi. Một bên lấy
“trường sinh bất tử” làm lẽ sống thì một bên muốn “lưu danh muôn
10
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
đời” làm chí hướng! Thật vậy, sau này Lê Văn Hưu sẽ là người như
thế. Trong thời đi học, ông tỏ ra là người siêng năng, cần mẫn dù
học giỏi nhưng không kiêu, thường giúp cho bạn học yếu hơn mình.
Nhận thấy cậu học trò tính tình điềm đạm, tốt bụng như thế, thầy
đồ họ Nguyễn đã gả con gái là Nguyễn Thị Thanh cho ông. Có giai
thoại kể lại rằng, ngày nọ Lê Văn Hưu đang ngồi học thì hai cô con
gái của thầy ra trước sân phơi đậu. Hình ảnh hai cô thôn nữ xinh
tươi làm cậu học trò mải nhìn mà không để tâm trí vào bài vở. Thầy
đồ biết vậy bèn đọc to vế đối:
-Sân trước phơi đậu, sân sau phơi đậu, ngươi muốn đậu, ta cho đậu!
Lê Văn Hưu giật mình! Chao ôi! Thầy đã biết tỏng tình ý của
mình rồi. Vế đối này ngụ cả hai ý, nếu mình muốn thi đậu thì thầy
dạy cho đậu, còn nếu muốn lấy con gái của thầy thì thầy sẽ gả cho!
Dù bị “tấn công” bất ngờ như thế, nhưng cậu học trò giỏi nhất lớp
vẫn nhanh nhẹn lễ phép cúi đầu:
- Bẩm thầy, con xin thầy cho phép được đối lại ạ!
Thầy bao dung mỉm cười, Lê Văn Hưu đứng dậy vòng tay đáp:
- Cô lớn hái hoa, cô bé hái hoa, thầy thám hoa, con thám hoa.
Nghe xong thầy gật gù khen ngợi vì vế đối lại cũng ngụ hai ý
một là trò khẳng định mình sẽ đậu Thám hoa, và một ý khác là cũng
muốn thăm hoa (thám còn có nghĩa là thăm). Lần khác, do đi học trễ
nên Lê Văn Hưu phải đứng tựa gốc bàng ở ngoài cửa. Thầy đồ thấy
vậy liền ra câu đối, nếu đối lại được thì thầy cho vào lớp học, còn
không thì bị phạt. Thầy đọc:
- Con mộc tựa cây bàng nhìn nhà Bảng nhãn.
Cái khó của vế đối này là thầy ghép chữ “mộc” với chữ “bàng”
thành chữ “bảng” – tức bảng nhãn. Không ngờ thầy vừa dứt lời thì
trò cũng đối luôn:
- Thằng quỷ ôm cái đấu tựa cửa khôi nguyên.
Hay quá! Vì Lê Văn Hưu đã dùng chữ “quỷ” ghép với chữ “đấu”
thành chữ “khôi” – tức khôi nguyên. Từng chữ đối nhau chan chát
thật hoàn chỉnh.
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Năm 1247, vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh. Lúc
này Lê Văn Hưu mới 17 tuổi cũng lai kinh ứng thí. Ở khoa thi này
có 40 người đậu, trong đó có ba người đầu bảng gọi là Tam khôi. Từ
đây, danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa mới bắt đầu
xuất hiện. Điều đáng chú ý cả ba danh hiệu này đều lọt vào tay của
những thần đồng trẻ tuổi: Trạng nguyên Nguyễn Hiền mới 13 tuổi,
Bảng nhãn Lê Văn Hưu, 17 tuổi và Thám hoa Đặng Ma La, 14 tuổi.
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà sách Đăng khoa lục ghi nhận: “Tam
khôi tinh trung thiếu niên, cổ kim hãn kiến” (Học vị tam khôi đều thuộc
về tuổi thiếu niên, xưa nay hiếm thấy). Được biết, sử cũ còn ghi lại
đề bài thi của khoa thi này là “Áp tử từ kê mẫu du hồ phú” (Bài phú
về con vịt từ giã mẹ gà đi chơi hồ).
Sau khi thi đậu, Lê Văn Hưu ra làm quan, giữ chức Kiểm pháp quan
(chức quan trông coi về tư pháp, hình luật), rồi Binh bộ thượng thư,
sung chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu. Có một chi
tiết thú vị, Lê văn Hưu cũng chính là thầy dạy học của Chiêu Minh
Vương – tức Thượng tướng Trần Quang Khải - con trai vua Trần Thái
Tông, một danh tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc
Nguyên - Mông. Trong những năm tháng làm quan, Lê Văn Hưu đã
thực hiện một công trình khoa học có tầm vóc, đó là việc hoàn thành
bộ quốc sử đầu tiên trong lịch sử nước nhà và trở thành một nhà sử
học có uy tín. Trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Năm 1272, mùa
xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu
Lê Văn Hưu vâng sắc soạn xong bộ Đại Việt sử ký từ thời Triệu Vũ đế
(207- 136 trước CN) đến Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) gồm 30 quyển,
dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi“.
Đến thời đại của chúng ta, giáo sư Phan Huy Lê đánh giá xác đáng:
“Điều có ý nghĩa quan trọng hơn là vào đời Trần (1226-1400) và có
thể từ đời Lý (1010-1225) công việc biên soạn lịch sử dân tộc đã bắt
đầu và ngày càng phát triển. Trước và sau Đại Việt sử ký của Lê Văn
Hưu, đã có những bộ sử như Sử ký của Đỗ Thiện, Việt chí của Trần
Phổ, Trung Hưng thực lục, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược của Lê
Trắc , Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc…, những công trình thu
12
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
thập các truyền thuyết dân gian như Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên,
Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp… Đó là những tác phẩm và
tác giả đặt cơ sở cho sự ra đời của nền sử học Việt Nam, một bộ phận
tạo thành của nền văn hóa Thăng Long đang phát triển rực rỡ lúc bấy
giờ. Trong bối cảnh ấy, Lê Văn Hưu với tư cách là người đứng đầu
viện Quốc sử, đã biên soạn bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của
nước ta. Tham gia biên soạn hẳn còn nhiều sử thần của viện Quốc sử
mà tư liệu lịch sử không ghi chép. Trong lịch sử phát triển của nền sử
học Việt Nam, Đại Việt sử ký giữ vị trí bộ quốc sử đầu tiên”(1). Theo
Lê thị gia phả thì sau này Lê Văn Hưu “nghiên cứu sâu rộng về môn
địa lý… thường đi chơi khắp nơi để xem phong thủy”. Đây cũng là
một trong những hoạt động cần thiết cho người viết sử. Việc làm này
khiến ta nhớ đến nhà viết sử nổi tiếng đời nhà Hán bên Trung Quốc
là Tư Mã Thiên, ông cũng đi khắp nơi quan sát, ghi chép để bộ Sử
ký của mình sát với thực tế và phong phú về sử liệu. Do đó, không
phải ngẫu nhiên mà học giả Trần Văn Giáp khẳng định: “Vậy bộ Đại
Việt sử ký của Lê Văn Hưu đối với lịch
sử Việt Nam rất là quan trọng, không
khác gì bộ Sử ký của Tư Mã Thiên đối
với lịch sử Trung Quốc”.
Đến nay, bộ Đại Việt sử ký đã thất
lạc, không rõ bị mất trong trường hợp
nào. Điều này cũng dễ hiểu vì căn cứ
vào Lịch triều hiến chương loại chí, nhà
bác học Phan Huy Chú cho biết: “Trải
qua bao phen bể dâu, nhiều phen binh
lửa, như cuối đời nhà Trần bị nạn giặc
Minh, thư tịch đã bị mất một lần trước
(khi nhà Nhuận Hồ thất thủ, tướng Minh
là Trương Phụ lấy cả sách vở đưa về Kim
Lăng), đầu nhà Lê bị loạn Trần Cảo, thư
tịch lại tan mất một lần sau (cuối năm
Bia ghi công trạng
của Bảng nhãn Lê Văn Hưu
1 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học Xã hội - 1983, trang 19.
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Bia và mộ Lê Văn Hưu
Hồng Thuận 1509-1516, Trần Cảo làm loạn, kinh thành bị mất, nhân dân
tranh nhau vào các nơi cung cấm dinh thự lấy tiền của, văn thư, sách vở
ném ra đầy đường). Từ Trung hưng về sau, tuy có tìm tòi, nhưng sau khi
đã tản mát đi, thu thập lại cũng khó. Nội các thì không có kho chứa sách
riêng, sử thi lại không chép văn tịch, khiến cho điển cố các triều không còn
nữa, người muốn khảo cổ vì thế phải phàn nàn mà rất tiếc”. Tuy nhiên,
ngày nay chúng ta vẫn còn có thể tìm hiểu được quan điểm và bút
pháp của sử gia Lê Văn Hưu - khi đọc 30 đoạn “Lê Văn Hưu viết”
trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư do các sử thần triều Lê biên soạn.
Những lời bình xác đáng của “đại thủ bút đời Trần” (Ngô Sĩ Liên),
có “nghĩa lớn khen chê đã rõ rệt ở lời công luận của sử bút” (Phạm
Công Trứ) cho đến nay vẫn còn giá trị.
Nổi bật trong Đại Việt sử ký là tấm lòng yêu Nước thương Dân,
bàn về đạo làm vua và bàn những việc về trị nước. Khi bàn đến thời
nước Việt ta không có vua, bị bọn thứ sử phương Bắc tham tàn đày
đọa đau khổ, ngòi bút của ông như trào ra những dòng nước mắt:
“Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân tự làm đế, nước nhà
để khỏi bị người phương Bắc cướp vét”; và “Chỉ vì không có người
thống suất mà thôi! Thời không bỉ mãi, tất có lúc thái, thế không
14
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
khuất mãi, tất có lúc duỗi…”. Do đó, khi các vương đế nước ta giành
được thắng lợi thì ngòi bút của ông như reo lên, hào sảng lạ thường.
Về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, ông viết: “Trưng Trắc, Trưng
Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố
cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc xưng vương dễ như trở
bàn tay, có thể thấy hình thế nước Việt ta đủ dựng nghiệp bá vương. Tiếc
rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm,
bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng
xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt
bỏ mình vậy”. Chỉ riêng lời bình luận tuyệt hay này, về sau các nhà
viết sử cũng chịu ảnh hưởng từng câu chữ – chẳng hạn cụm từ “hô
một tiếng”, “xưng vương dễ như trở bàn tay”, “bọn đàn ông chỉ cúi
đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc”…
Khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, ông viết: “Có thể nói
một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”.
Khi bàn sự nghiệp hiển hách của Đinh Tiên Hoàng, ông viết: “Có
lẽ ý trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để nối quốc thống của
Triệu Vương chăng?”
Nhưng với tư cách của một sử gia, Lê Văn Hưu không ngần ngại
khi phê phán những việc làm sai trái của các bậc đế vương. Chẳng
hạn, vào năm 1129, vua Lý Thần Tông phong tước cho Lý Tử Khắc
và Lý Lộc vì hai người này dâng con hươu trắng – vì cho đó là điềm
lành – ông phê phán: “Phàm người xưa gọi là điềm lành, là nói việc
được người hiền và được mùa, ngoài ra không có gì đáng gọi là điềm
lành cả”, vậy trong trường hợp trên “người thưởng và người nhận
thưởng đều sai cả”. Sự việc này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “đều do tính
trẻ thơ mà không có người can ngăn”, còn sử gia Lê Tung phê phán
nặng nề: “Sao mà ngu thế!”. Năm 1130, vua Lý Thần Tông xuống
chiếu cho con gái các quan không được lấy chồng vội, phải đợi sau
khi sung vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy
chồng! Trước quy định vô lý này, Lê Văn Hưu không ngần ngại chỉ
trích đích đáng: “Nói về lòng trời thì trời sinh ra dân mà đặt người làm
vua để giữ việc chăn dắt dân, chứ đâu có phải dùng dân cung phụng riêng
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
cho mình đâu. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất, con trai
có vợ, con gái có chồng. Nay Thần Tông hạ chiếu như thế có hợp với đạo
lý của người làm cha mẹ dân không?”. Sự việc này sử gia Ngô Thì Sĩ
có lời bình: “Sáu cung của vua thiếu gì phi tần, mà cũng phải kén người
hiền thục mới phải, đâu lại có xét khắp con gái bách quan tìm sắc đẹp. Xưa
kia Tôn Hiệu và Tấn Vũ đã làm như thế. Nay vua Thần Tông cũng mọi
thói ấy, ham mê nữ sắc quá lắm”. Còn việc vua Đinh Tiên Hoàng lập
5 hoàng hậu, Lê Văn Hưu cũng phê phán: “Từ xưa chỉ lập hoàng hậu
một người để chủ việc nội trị mà thôi, chưa từng nghe nói lập đến 5 người.
Tiên Hoàng không kê cứu cổ học, mà bầy tôi đương thời không có ai biết
giúp sửa cho đúng, để đến nỗi chìm đắm trong tình riêng, cùng lập 5 hoàng
hậu. Sau đến hai triều Lê, Lý cũng phần nhiều bắt chước làm theo, ấy là do
Tiên Hoàng khởi xướng sự rối loạn thứ bậc vậy”.
Ngay cả việc các vua thậm xưng như vua Lý Thái Tông bảo các
quan gọi mình là “triều đình”, Lý Thánh Tông tự xưng mình là “Vạn
thặng”, Lý Cao Tông bảo mọi người gọi mình là “Phật” thì ông chỉ
trích: “Không theo khuôn phép ở đâu, mà là tính khoe khoang. Khổng
Tử nói: “Danh không chính thì nói không thuận” là thế”. Hoặc vua
Lý Thái Tông chịu cho bầy tôi dâng cho 8 chữ “Kim dũng, ngân sinh,
Nùng bình , Phiên phục” vào tôn hiệu thì ông đánh giá nghiêm khắc
đây là việc: “Khoe khoang lại thô bỉ nữa, Thái Tông không có học
nên không biết, nhưng bọn nho thần dâng lên những chữ ấy để nịnh
hót thì không thể bảo là không có tội”. Ngẫm lại, thấy những lời phê
phán ấy nghiêm khắc biết chừng nào!
Năm 1010, sau khi dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ xuống
chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ xây dựng 8 chùa ở phủ Thiên
Đức; trong thành làm chùa Ngự Thiên, Ngũ Phượng; ngoại thành
phía Nam dựng chùa Nghiêm Thắng; rồi trùng tu chùa quán ở các
lộ… Lê Văn Hưu có lời bình mà nay đọc lại khiến ta vẫn còn phải
suy nghĩ: “Thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không
biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không
phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét
máu mỡ của dân có thể gọi là việc làm phúc được chăng?”.
16
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Trong đạo trị nước, Lê Văn Hưu cũng có nhiều lời bàn xác đáng.
Khi bàn giữa vua Lê Đại Hành với vua Lý Thái Tổ, sau khi phân tích
công trạng của hai ngài, ông viết: “Hơn thì không biết, chỉ biết đức
của họ Lý dầy hơn họ Lê. Vì thế nên noi theo họ Lý” . Đối với kẻ thù,
ông vẫn chủ trương dùng đức để thu phục nhân tâm: “Nếu họ chịu
phục thì lấy đức mà vỗ yên, nếu làm phản thì lấy uy mà tỏ cho biết”.
Theo ông “Người khéo trị nước phải nên cẩn thận việc chọn người”
và ông đòi hỏi người làm vua phải có chữ hiếu để làm gương cho
muôn dân. Vì lẽ đó, ông phê phán gay gắt việc vua Lý Thần Tông
khi chưa hết tang cha, đã xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở và
đón hai hậu phi vào cung: “Không hiểu bấy giờ lấy gì để làm khuôn
mẫu cho thiên hạ và biểu đạt với quan. Thần Tông còn nhỏ tuổi, bề
tôi trong triều cũng lấy việc để tang ngắn làm may không có một lời
nói đến. Có thể bảo là trong triều không có người vậy”. Theo ông,
người làm vua – như Lý Thái Tông – không nên “Say đắm cái lòng
nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên cái nghĩa lớn của nhà vua”.
Ông viết như thế, vì bấy giờ việc sùng đạo Phật đến mức không còn
chỗ cho lý trí phán xét. Hãy đọc lại đoạn ông phê phán vua Lý Thần
Tông: “Phàm việc trù tính ở trong màn trướng quyết định được chiến
thắng ở ngoài nghìn dặm, đều là công của người tướng giỏi cầm quân
làm nên thắng lợi. Thái phó Lý Công Bình phá được quân Chân Lạp
cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận. Thần Tông đáng
lẽ phải cáo thắng trận ở nhà Thái Miếu, xét công ở triều đường để
thưởng cho bọn Công Bình về công đánh giặc. Nay lại quy công cho
Phật và Đạo, đi các chùa quán để lạy tạ, như thế không phải là cách
ủy lạo kẻ có công, cổ lệ chí khí quân sĩ”. Thiết tưởng, lời bình này
nay đọc lại vẫn còn thấy hợp lý.
Tuy nhiên, đây là bộ sử đầu tiên nên trong Đại Việt sử ký cũng có
những sai lầm. Chẳng hạn ông đã đánh giá cao Triệu Đà – vua nước
Nam Việt vào năm 216 trước CN đã dùng mưu giảng hòa và thông
gia với An Dương Vương để chiếm nước Âu Lạc vào năm 179 trước
CN. Dù có một vài hạn chế và sai sót ấy, nhưng Đại Việt sử ký của
Lê Văn Hưu vẫn là một di sản quý báu của văn hóa dân tộc.
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1322) thọ 93
xuân, mộ táng ở xứ Mả Giòm, thuộc địa phận thôn phủ Lý Nhân, xã
Triệu Trung, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa). Mộ chí bằng đá, đã bị
chuyển dịch cách mộ bia. Mộ chí cao 0,95m, rộng 0,45m, phía trên đề
“Bảng nhãn Lê tiên sinh bi” và tóm lược tiểu sử. Đây là di tích văn
hóa lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng và cấp kinh phí xây dựng.
Nhà nghiên cứu Đặng Đức Thi đã nhận định xác đáng về sự
nghiệp của Lê Văn Hưu: “Đại Việt sử ký đã mở đầu và có ảnh hưởng
lâu dài, sâu rộng đối với nền sử học nước ta trên nhiều phương diện, cả về
nội dung khoa học, nội dung tư tưởng lẫn phương pháp ghi chép. Cho nên
nếu nói rằng Đại Việt sử ký là sản phẩm của nền văn minh Đại Việt thì
cũng phải nói thêm rằng, Đại Việt sử ký đã làm cho nền văn minh Đại
Việt càng thêm kiêu hãnh vì đã sớm có một Đại Việt sử ký và một Lê Văn
Hưu từ thế kỷ XIII”(1).
1 Lê Văn Hưu - nhà sử học đầu tiên của nước ta - Đặng Đức Thi - NXB Tp. Hồ Chí Minh1994, trang 206.
18
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
ĐẶNG MINH KHIÊM
Người mở đầu loại thơ vịnh sử Nam
bằng chữ Hán
Đêm tối. Ngồi bên án thư, ông Tiến sĩ nhìn bâng quơ ra sân. Vầng
trăng tròn treo lửng lơ trên ngọn cau. Hương cau thoảng mơ hồ trong
gió. Lập lòe những con đom đóm. Xa xa vọng lại tiếng trẻ con đọc
sách, giọng đọc đều đều chậm rãi. Lắng tai, ông biết đó là một đoạn
sử xa xôi bên Tàu... Bất giác, ông khẽ thở dài ngẫm nghĩ:
- Sử nước nhà có biết bao anh hùng hiệt kiệt xứng đáng để đời
sau ngưỡng vọng công đức. Sao không ai viết lại thành thơ để dễ
nhớ, dễ đọc? Chao ôi! Ai cũng phải biết sử nước nhà cả, nhất là bọn
trẻ con rất cần phải học, phải nhớ!
Cầm chén trà trên tay, ông chiêu một ngụm nhưng hương trà
đắng nghét. Dĩa dầu đang cạn dần, ngọn bấc vẫn mờ tỏ soi ánh sáng
xuống án thư. Ngồi thừ người suy nghĩ trong chốc lát, ông Tiến sĩ
trải trang giấy ra trước mặt rồi cầm bút chấm vào nghiên mực... Khi
tiếng gà gáy le te trong đêm khuya, ông giật mình buông bút. Từng
dòng chữ thanh thoát như phượng múa, rồng bay đã hiện trên trang
giấy: “Làm thơ vịnh sử chủ yếu là để gửi gắm cái ý khen chê. Đề tài thường
lấy tên người, tên đất, hoặc lấy núi sông hoặc lấy những người tôn thất,
những văn nhân tài tử cổ kim, đặc biệt những người thực hành điều nghĩa
thì càng được chú trọng. Trời Nam từ thuở dựng nước đến nay, các bậc đế
vương, hậu phi, công hầu, tướng võ, tướng văn, kẻ sĩ và phụ nữ được ghi
chép trong sử sách không phải là không có nhiều, nhưng được người sau
đề vịnh thì mười chỉ mới một hai”.
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Có thể xem những dòng chữ này là một quan niệm cổ nhất về
thể loại thơ vịnh sử ở nước ta. Người viết là Tiến sĩ Đặng Minh
Khiêm, tự Trình Dự, hiệu Thoát Hiên sinh năm 1456 (?); vốn thuộc
dòng dõi Đặng Tất, Đặng Dung – những sĩ phu yêu nước thời Hậu
Trần. Nguyên quán của ông ở huyện Thiên Lộc, nay thuộc Hà Tĩnh,
nhưng sau đó chuyển đến cư ngụ tại làng Mao Phổ, huyện Sơn Vì
nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người
học giỏi và thi đậu Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487) dưới thời vua Lê
Thánh Tông. Bước đường hoạn lộ không mấy gập ghềnh, ông làm
quan đến Thượng thư Bộ lễ, kiêm phó tổng tài Sử quán, coi việc ở
Chiêu văn cục và Tú lâm cục. Nhà bác học Phan Huy Chú khi biên
soạn phần Nhân vật chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí có nhận
xét: “Ông học vấn rộng rãi, khẳng khái, có tiết tháo lớn”. Trong thời
gian làm quan, ông có hai lần đi sứ Trung Quốc và làm được nhiều
điều ích nước lợi dân.
Ý thức vịnh sử nước Nam đã hình thành trong tâm thức Đặng
Minh Khiêm từ lúc nào? Chính ông viết: “Khoảng niên hiệu Hồng Thuận
(1509-1516), tôi vào giữ chức vụ ở Sử quán, từng có ý thuật cổ. Hiềm vì
những thư tịch tàng trữ ở Bí thư, trải bao phen binh lửa, thành ra sách vở
bị tàn khuyết khá nhiều. Đọc thấy toàn tập, chỉ có Đại Việt sử ký toàn thư
của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập
của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp mà thôi.
Dưới những sự ghi chép của tác phẩm ấy, mở mà duyệt đọc, tàng trữ mà
khảo cứu và dựa theo đó mà ca vịnh, ngày qua tháng lại... Tự biết mình
tuổi già tài kém, chức vụ thấp, học vấn nông, bình luận phải trái nếu có sai
lầm, nhất định sẽ bị những bậc quân tử kiến thức cao minh, hiểu biết sâu
rộng chê cười, nhưng đối với việc truyền thụ và học tập của gia đình, về tài
liệu sử học thì chưa hẳn là không phần nào bổ ích”. Thật ra, trước Đặng
Minh Khiêm từ nửa sau thế kỷ XV đã có Cổ tâm bách vịnh – tập thơ
vịnh Bắc sử chữ Hán của vua Lê Thánh Tông cùng dăm bài thơ vịnh
sử Nam của các tác giả thời Hồng Đức. Nhưng phải đợi đến Đặng
Minh Khiêm thì thơ vịnh sử mới tiếp tục phát triển về số lượng lẫn
chất lượng.
20
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Tác phẩm để lại của ông là Việt giám vịnh sử tập (còn gọi là Thoát
Hiên vịnh sử tập), gồm ba tập, 125 bài thơ thất ngôn tuyệt cú – vịnh
125 nhân vật từ Kinh Dương Vương đến thời Hậu Trần. Tập thơ này
được các học giả thuở ấy khen là “danh bút”. Theo nhà bác học Lê
Quý Đôn đây là một áng “văn chương kiệt tác”, còn nhà bác học
Phan Huy Chú đánh giá “Văn chương ông thanh nhã, dồi dào đời
vẫn truyền tụng... không hổ bậc khoa danh”, còn Tiến sĩ Hà Nhậm
Đại cho biết “đến đâu cũng thấy người ta nói đến thơ Thoát Hiên”...
Và ngày nay các nhà nghiên cứu hiện đại khẳng định “là tập thơ đầu
tiên vịnh Nam sử quy mô và hệ thống” (Tổng tập văn học Việt Nam
tập 6 - NXB Khoa học Xã hội - 1987).
Để hiểu thêm về Đặng Minh Khiêm, thiết tưởng ta cũng nên biết
về thể loại thơ vịnh sử. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân: “Thơ vịnh
sử là thơ vịnh truyện cũ, người xưa, với ngụ ý răn dạy người đời, tính chất
sùng cổ và mục đích giáo huấn thể hiện rõ rệt, nhân vật được chọn lọc,
vừa phải là nhân vật lịch sử, vừa phù hợp với chuẩn mực đạo đức chính
thống. Nhà thơ vịnh sử của ta thường biết nhiều nhân vật lịch sử Trung
Quốc, nên thơ vịnh Bắc sử xuất hiện sớm và có số lượng nhiều. Ở thể loại
Nhượng nước kính anh yêu đức độ
Bắc Nam phân trị dựng phong cương
(Thơ Đặng Minh Khiêm vịnh Kinh Dương Vương)
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thơ vịnh sử, tính chất giáo huấn thể hiện khá lộ liễu, thơ vì thế mà hay khô
khan, đơn điệu. Nhưng trong mảng thơ vịnh lịch sử dân tộc, tính chất giáo
huấn thường được thể hiện chững chạc, tinh tế, thơ vì thế mà sống động,
nhuần nhuyễn, giàu cảm xúc. Ở đây cái đẹp là cái đạo đức, đạo đức ấy là
sự hỗn dung giữa đạo đức truyền thống dân tộc với phần tích cực của đạo
đức Nho giáo. Cho nên không ít bài thơ vịnh sử đã vượt lên trên quan niệm
giáo huấn khô khan gò gẫm của Nho giáo bảo thủ, trở nên những bài ca yêu
nước và tự hào về truyền thống văn hiến cao đẹp của dân tộc. Thơ vịnh sử
lấy con người làm đối tượng, nhưng thường đối chiếu con người lịch sử với
chuẩn mực đạo đ...
Lê Minh Quốc
Những người Việt Nam đi tiên phong / Lê Minh Quốc. - Tái bản có chỉnh sửa, bổ sung. - T.P.
Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
228tr. : tranh ảnh, hình vẽ ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam ; T.2)
1. Danh nhân -- Việt Nam. I. Ts. II. Ts: Kể chuyện danh nhân Việt Nam.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
4
Lời nói đầu
Nhìn lại lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, chúng
ta tự hào Tổ quốc ta có những danh nhân đã đóng góp trí tuệ, tài
năng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa... Qua đó,
chúng ta nhận thấy, một trong những truyền thống tốt đẹp góp phần
tạo nên bản sắc của dân tộc ta là tinh thần hiếu học, say mê nghiên
cứu, tìm tòi không mệt mỏi và dũng cảm thực hiện hoài bão của mình
để từ đó, hình thành cái mới, cái đẹp phù hợp với nhu cầu phát triển
của thời đại. Lịch sử đã cho thấy bất kỳ trong giai đoạn nào đất nước
ta cũng có những con người tài hoa, họ đã đi những bước tiên phong
trên nhiều lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội... để khai quang mở lối,
rồi thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện.
Trong chiều hướng ấy, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản tập sách Những
người Việt Nam đi tiên phong - nằm trong bộ sách KỂ CHUYỆN DANH
NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Bộ sách này
được thực hiện từ nhiều năm trước, đã nhiều lần tái bản. Nay theo
yêu cầu của bạn đọc, chúng tôi sắp xếp lại nhân vật, bổ sung thêm
nhiều hình ảnh, tư liệu nhằm phục vụ bạn đọc tốt hơn nữa. Do khuôn
khổ có hạn, tập sách chưa thể đề cập đầy đủ các nhân vật như mong
muốn, chúng tôi sẽ bổ sung thêm sau.
Về thứ tự của nhân vật, trước mắt chúng tôi sắp xếp theo lĩnh
vực hoạt động.
Mở đầu tập sách là sử gia Lê Văn Hưu – người đặt nền móng cho
nền sử học Việt Nam với tác phẩm Đại Việt sử ký hoàn thành năm
1272; là Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm – người mở đầu cho thể loại vịnh
sử Nam bằng chữ Hán. Cũng nằm trong lĩnh vực văn hóa của nước
nhà, chúng tôi tiếp tục đề cập đến những tiếng tăm của thế kỷ XX
5
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
như họa sĩ Nam Sơn – người đã có công sáng lập trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương cùng Victor Tardieu – đào tạo nhiều thế hệ
họa sĩ thuộc lớp đầu đàn của nền hội họa Việt Nam. Là nhà viết kịch
Vũ Đình Long, người đã viết vở Chén thuốc độc công diễn năm 1921
tại Nhà hát Hà Nội – mà trong chuyên đề Lướt qua một thế kỷ, Hội
khoa học lịch sử Việt Nam đã ghi nhận: “Vở kịch đã đi vào văn học
sử và sân khấu Việt Nam với tư cách một sự mở đầu cho kịch nói
dân tộc” (Tạp chí Xưa-Nay số 1/2000).
Chúng tôi cũng không quên được vai trò tiên phong của nhà thơ,
nhà báo Thế Lữ, Phan Khôi, Tam Lang, Hoàng Tích Chu... đã có nhiều
đóng góp không thể phai mờ trong lịch sử phát triển báo chí Việt
Nam, văn học của nước nhà. Và chúng tôi cũng không quên những
nhân vật khác. Đó là nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị – người đã có những
bước tiên phong trong nghệ thuật chèo truyền thống; là nghệ sĩ Tống
Hữu Định – người có sáng kiến “ca ra bộ” góp phần thúc đẩy sự hình
thành và phát triển của loại hình nghệ thuật cải lương... Hoặc Nghệ
sĩ Nhân dân Tạ Duy Hiển – người có công đầu trong việc hình thành
loại hình nghệ thuật xiếc ở Việt Nam từ thế kỷ XX. Hoặc nhà báo
Trần Tấn Quốc, người đầu tiên lập ra giải Thanh Tâm rất đáng ghi
nhận, vì ông là người tiên phong góp phần tích cực để xóa bỏ thành
kiến “xướng ca vô loài” và nâng đỡ tâm hồn cho người nghệ sĩ về ý
thức đem tài đức của mình cống hiến cho xã hội. Hiện nay, để phát
huy ý nghĩa tích cực của giải thưởng này, Hội Sân khấu Thành phố
Hồ Chí Minh đã tổ chức giải Trần Hữu Trang kế thừa công việc mà
Trần Tấn Quốc đã khởi xướng từ thập niên 50 của thế kỷ XX v.v...
Riêng về lĩnh vực võ thuật của nước nhà, chúng tôi đề cập đến võ
sư Nguyễn Lộc – người đã có công sáng lập VoViNam (Việt võ đạo)
mà các thế hệ sau tôn vinh là Võ sư Sáng tổ. Ngoài phần võ thuật và
tinh thần võ đạo, ông còn muốn giáo dục các môn sinh sau này của
ông về danh dự của Tổ quốc. Nghĩa là thanh niên Việt Nam phải có
phương pháp tự vệ mang danh dân tộc Việt Nam, tiêu biểu cho tinh
thần tự chủ bất khuất của tiền nhân, để khi chiến đấu có được hùng
khí, quyết đem vinh quang về cho Tổ quốc, cho môn phái.
6
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, trước hết chúng tôi đề cập
đến nhà doanh điền Thoại Ngọc Hầu – đã trực tiếp chỉ huy đào và
hoàn thành kinh Đông Xuyên nối liền Châu Đốc đến cửa biển Giang
Thành (Hà Tiên) vào năm 1824. Sự kiện vĩ đại này được ghi nhận
trong Đại Nam nhất thống chí: “Từ đây đường sông mới lưu thông, việc
biên phòng, việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Về sau, trong
lĩnh vực kinh tế còn có những nhân vật hoạt động sôi nổi, nhằm cạnh
tranh với ngoại bang và qua đó, họ đã đóng góp nhiều tiền của cho
phong trào yêu nước. Chúng tôi đề cập đến nhân vật Trần Chánh
Chiếu – một trong những trụ cột của phong trào Duy tân, Đông du
tại Nam kỳ. Có một điều rất thú vị, chính ông đã lập tập đoàn kinh
tế đầu tiên ở miền Nam và cũng là người đã biết dùng công cụ báo
chí để tạo trong quảng đại quần chúng ý thức mới trong kinh doanh
thương nghiệp nhằm cạnh tranh với các thế lực tư bản ngoại quốc
đang thống lĩnh trong lĩnh vực kinh tế của nước nhà. Nối tiếp vai trò
tiên phong trong lĩnh vực này, chúng tôi tiếp tục đề cập đến những
tên tuổi lừng danh khác. Đó là ông Bạch Thái Bưởi – “ông vua” của
ngành vận tải đường thủy ở nước ta đầu thế kỷ XX – dám cạnh tranh
với tư bản Pháp và Hoa Kiều khi mà nền kinh tế nước nhà đang bị
họ thao túng nhiều mặt; là ông Nguyễn Sơn Hà – người Việt Nam
đầu tiên sản xuất sơn theo công nghệ hiện đại để cạnh tranh với sản
phẩm của người Pháp; là ông Trương Văn Bền – người đã vinh danh
xà bông Việt Nam qua nhãn hiệu “Xà bông Cô Ba” v.v...
Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc, chúng tôi rất mong được
sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của các nhà
sử học và của các bạn đọc xa gần để bộ sách này ngày một hoàn hảo
hơn. Trước hết xin quý độc giả ghi nhận nơi đây sự biết ơn sâu xa
của chúng tôi.
Nhà xuất bản TRẺ
7
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
8
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
LÊ VĂN HƯU
Người soạn quốc sử đầu tiên
của Việt Nam
Thời Chiến quốc ở nước Tề có nhân vật Mạnh Thường Quân- tên
thật là Điền Văn. Ông là người nghĩa hiệp và hiếu khách, thường nghĩ
rằng, muốn làm nên sự nghiệp ở đời thì nhà võ phải có võ tướng
theo hầu, nhà văn phải có văn nhân tài tử theo giúp. Vì thế khi kế
nghiệp cha, ông bỏ tiền ra chiêu hiền đãi sĩ, để lại tiếng thơm trên
đời. Ở nước ta vào thế kỷ thứ X, tại quận Cửu Chân, Châu Ái (nay
là Thanh Hóa) cũng có một Mạnh Thường Quân như thế. Đó là gia
đình ông Lê Lương, giàu có nhất trong vùng, làm đến chức Trấn quốc
bộc xạ. Trong nhà ông trữ thóc đến 110 lẫm, nuôi 3.000 người khách,
thường bỏ tiền ra để xây chùa, dựng miếu và dốc lòng làm việc thiện.
Gặp lúc thiên tai, hỏa hoạn nhân dân trong vùng lâm vào cảnh đói
rét thì ông đem thóc trong nhà ra phát chẩn. Thế lực của ông rất lớn
nên ai ai cũng kính nể. Năm 968 anh hùng Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi
hoàng đế, nghe tiếng tốt của ông nên phong cho làm chức Đô quốc
dịch sứ ở Châu Ái, lại ban cho hàm Kim tử quan lộc đại phu. Đến
thời vua Lê Đại Hành chống giặc Tống, ông được giao chức Bộc xạ
tướng công chuyên lo việc quân lương. Ông Lê Lương là ông tổ bảy
đời của nhà sử học Lê Văn Hưu.
Lê Văn Hưu sinh năm 1230, là con trai của ông Lê Văn Minh
và bà Đỗ Thị Hòa người làng Phủ Lý (tên nôm là Kẻ Ry) nay là xã
Thiệu Trung, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa). Khi bà Hòa mang thai
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Lê Văn Hưu được mấy tháng thì ông Minh bị bạo bệnh mất. Do đó,
mẹ con Lê Văn Hưu về sống với ông ngoại là Đỗ Tất Bình – vốn là
một nhà nho tinh thông địa học, phong thủy và là người từng lấy đất
đặt mộ cho dòng họ Lê. Tương truyền, lúc mới sinh ra Lê Văn Hưu
diện mạo khôi ngô tuấn tú nên cả dòng họ mừng rỡ, ông ngoại đặt
tên là Hưu với nhiều ý nghĩa: “Hưu” là để trừ điều may rủi (nghĩa là
nghỉ đi, dứt đi) ; còn có nghĩa là vui vẻ; là tên con thú lớn khỏe mạnh
(tì hưu), được các loài thú kính nể và cũng có nghĩa là lấy sơn sơn vật
cho đẹp. Chắc chắn, sự giáo dục chu đáo của ông ngoại có ảnh hưởng
sâu đậm đến Lê Văn Hưu. Ngay từ nhỏ, Lê Văn Hưu đã tỏ ra thông
minh và hiếu học hơn người.
Theo truyền thuyết dân gian, lúc ông đi học, bà mẹ thường thấy
bốn đám mây che râm mát trên đầu! Ban đầu Lê Văn Hưu được ông
ngoại dạy dỗ, sau theo học với ông đồ họ Nguyễn ở làng Phúc Triền,
Kẻ Bôn (cạnh Kẻ Ry). Ngày nọ thầy sai Lê Văn Hưu sang chỗ bác thợ
rèn mượn cái dùi về đóng sách. Nghe tiếng cậu học trò này là thần
đồng, tư chất thông minh nên bác thợ rèn bèn ra câu đối để thử tài:
- Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.
Thông thường ra câu đối thì dễ, chỉ có đối lại mới khó. Bác thợ
rèn vừa dứt lời, Lê Văn Hưu đã đọc ngay vế đối lại:
- Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn kinh ngạc, vì không chỉ vế đối rất chuẩn mà khẩu khí
hơn người. Sau này, khi lớn lên, Lê Văn Hưu trọ học ở chùa Báo Ân
(núi Nhôi, Đông Sơn). Ngày nọ, có đạo sĩ tu tiên ở núi Nhôi xuống
chơi chùa Báo Ân, thấy cậu học trò có gương mặt sáng láng nên muốn
thử tài. Đang thong thả đứng ngắm cảnh, ông buột miệng đọc:
- Cây thiên tuế sống ngàn năm.
Không ngờ, dù đang để tâm trí học bài, nhưng mới thoáng nghe
qua, cậu học trò liền trả lời:
- Hoa thiên lý thơm vạn dặm.
Khẩu khí của vế đối khiến vị đạo sĩ khen ngợi mãi. Một bên lấy
“trường sinh bất tử” làm lẽ sống thì một bên muốn “lưu danh muôn
10
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
đời” làm chí hướng! Thật vậy, sau này Lê Văn Hưu sẽ là người như
thế. Trong thời đi học, ông tỏ ra là người siêng năng, cần mẫn dù
học giỏi nhưng không kiêu, thường giúp cho bạn học yếu hơn mình.
Nhận thấy cậu học trò tính tình điềm đạm, tốt bụng như thế, thầy
đồ họ Nguyễn đã gả con gái là Nguyễn Thị Thanh cho ông. Có giai
thoại kể lại rằng, ngày nọ Lê Văn Hưu đang ngồi học thì hai cô con
gái của thầy ra trước sân phơi đậu. Hình ảnh hai cô thôn nữ xinh
tươi làm cậu học trò mải nhìn mà không để tâm trí vào bài vở. Thầy
đồ biết vậy bèn đọc to vế đối:
-Sân trước phơi đậu, sân sau phơi đậu, ngươi muốn đậu, ta cho đậu!
Lê Văn Hưu giật mình! Chao ôi! Thầy đã biết tỏng tình ý của
mình rồi. Vế đối này ngụ cả hai ý, nếu mình muốn thi đậu thì thầy
dạy cho đậu, còn nếu muốn lấy con gái của thầy thì thầy sẽ gả cho!
Dù bị “tấn công” bất ngờ như thế, nhưng cậu học trò giỏi nhất lớp
vẫn nhanh nhẹn lễ phép cúi đầu:
- Bẩm thầy, con xin thầy cho phép được đối lại ạ!
Thầy bao dung mỉm cười, Lê Văn Hưu đứng dậy vòng tay đáp:
- Cô lớn hái hoa, cô bé hái hoa, thầy thám hoa, con thám hoa.
Nghe xong thầy gật gù khen ngợi vì vế đối lại cũng ngụ hai ý
một là trò khẳng định mình sẽ đậu Thám hoa, và một ý khác là cũng
muốn thăm hoa (thám còn có nghĩa là thăm). Lần khác, do đi học trễ
nên Lê Văn Hưu phải đứng tựa gốc bàng ở ngoài cửa. Thầy đồ thấy
vậy liền ra câu đối, nếu đối lại được thì thầy cho vào lớp học, còn
không thì bị phạt. Thầy đọc:
- Con mộc tựa cây bàng nhìn nhà Bảng nhãn.
Cái khó của vế đối này là thầy ghép chữ “mộc” với chữ “bàng”
thành chữ “bảng” – tức bảng nhãn. Không ngờ thầy vừa dứt lời thì
trò cũng đối luôn:
- Thằng quỷ ôm cái đấu tựa cửa khôi nguyên.
Hay quá! Vì Lê Văn Hưu đã dùng chữ “quỷ” ghép với chữ “đấu”
thành chữ “khôi” – tức khôi nguyên. Từng chữ đối nhau chan chát
thật hoàn chỉnh.
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Năm 1247, vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh. Lúc
này Lê Văn Hưu mới 17 tuổi cũng lai kinh ứng thí. Ở khoa thi này
có 40 người đậu, trong đó có ba người đầu bảng gọi là Tam khôi. Từ
đây, danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa mới bắt đầu
xuất hiện. Điều đáng chú ý cả ba danh hiệu này đều lọt vào tay của
những thần đồng trẻ tuổi: Trạng nguyên Nguyễn Hiền mới 13 tuổi,
Bảng nhãn Lê Văn Hưu, 17 tuổi và Thám hoa Đặng Ma La, 14 tuổi.
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà sách Đăng khoa lục ghi nhận: “Tam
khôi tinh trung thiếu niên, cổ kim hãn kiến” (Học vị tam khôi đều thuộc
về tuổi thiếu niên, xưa nay hiếm thấy). Được biết, sử cũ còn ghi lại
đề bài thi của khoa thi này là “Áp tử từ kê mẫu du hồ phú” (Bài phú
về con vịt từ giã mẹ gà đi chơi hồ).
Sau khi thi đậu, Lê Văn Hưu ra làm quan, giữ chức Kiểm pháp quan
(chức quan trông coi về tư pháp, hình luật), rồi Binh bộ thượng thư,
sung chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu. Có một chi
tiết thú vị, Lê văn Hưu cũng chính là thầy dạy học của Chiêu Minh
Vương – tức Thượng tướng Trần Quang Khải - con trai vua Trần Thái
Tông, một danh tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc
Nguyên - Mông. Trong những năm tháng làm quan, Lê Văn Hưu đã
thực hiện một công trình khoa học có tầm vóc, đó là việc hoàn thành
bộ quốc sử đầu tiên trong lịch sử nước nhà và trở thành một nhà sử
học có uy tín. Trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Năm 1272, mùa
xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu
Lê Văn Hưu vâng sắc soạn xong bộ Đại Việt sử ký từ thời Triệu Vũ đế
(207- 136 trước CN) đến Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) gồm 30 quyển,
dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi“.
Đến thời đại của chúng ta, giáo sư Phan Huy Lê đánh giá xác đáng:
“Điều có ý nghĩa quan trọng hơn là vào đời Trần (1226-1400) và có
thể từ đời Lý (1010-1225) công việc biên soạn lịch sử dân tộc đã bắt
đầu và ngày càng phát triển. Trước và sau Đại Việt sử ký của Lê Văn
Hưu, đã có những bộ sử như Sử ký của Đỗ Thiện, Việt chí của Trần
Phổ, Trung Hưng thực lục, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược của Lê
Trắc , Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc…, những công trình thu
12
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
thập các truyền thuyết dân gian như Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên,
Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp… Đó là những tác phẩm và
tác giả đặt cơ sở cho sự ra đời của nền sử học Việt Nam, một bộ phận
tạo thành của nền văn hóa Thăng Long đang phát triển rực rỡ lúc bấy
giờ. Trong bối cảnh ấy, Lê Văn Hưu với tư cách là người đứng đầu
viện Quốc sử, đã biên soạn bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của
nước ta. Tham gia biên soạn hẳn còn nhiều sử thần của viện Quốc sử
mà tư liệu lịch sử không ghi chép. Trong lịch sử phát triển của nền sử
học Việt Nam, Đại Việt sử ký giữ vị trí bộ quốc sử đầu tiên”(1). Theo
Lê thị gia phả thì sau này Lê Văn Hưu “nghiên cứu sâu rộng về môn
địa lý… thường đi chơi khắp nơi để xem phong thủy”. Đây cũng là
một trong những hoạt động cần thiết cho người viết sử. Việc làm này
khiến ta nhớ đến nhà viết sử nổi tiếng đời nhà Hán bên Trung Quốc
là Tư Mã Thiên, ông cũng đi khắp nơi quan sát, ghi chép để bộ Sử
ký của mình sát với thực tế và phong phú về sử liệu. Do đó, không
phải ngẫu nhiên mà học giả Trần Văn Giáp khẳng định: “Vậy bộ Đại
Việt sử ký của Lê Văn Hưu đối với lịch
sử Việt Nam rất là quan trọng, không
khác gì bộ Sử ký của Tư Mã Thiên đối
với lịch sử Trung Quốc”.
Đến nay, bộ Đại Việt sử ký đã thất
lạc, không rõ bị mất trong trường hợp
nào. Điều này cũng dễ hiểu vì căn cứ
vào Lịch triều hiến chương loại chí, nhà
bác học Phan Huy Chú cho biết: “Trải
qua bao phen bể dâu, nhiều phen binh
lửa, như cuối đời nhà Trần bị nạn giặc
Minh, thư tịch đã bị mất một lần trước
(khi nhà Nhuận Hồ thất thủ, tướng Minh
là Trương Phụ lấy cả sách vở đưa về Kim
Lăng), đầu nhà Lê bị loạn Trần Cảo, thư
tịch lại tan mất một lần sau (cuối năm
Bia ghi công trạng
của Bảng nhãn Lê Văn Hưu
1 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học Xã hội - 1983, trang 19.
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Bia và mộ Lê Văn Hưu
Hồng Thuận 1509-1516, Trần Cảo làm loạn, kinh thành bị mất, nhân dân
tranh nhau vào các nơi cung cấm dinh thự lấy tiền của, văn thư, sách vở
ném ra đầy đường). Từ Trung hưng về sau, tuy có tìm tòi, nhưng sau khi
đã tản mát đi, thu thập lại cũng khó. Nội các thì không có kho chứa sách
riêng, sử thi lại không chép văn tịch, khiến cho điển cố các triều không còn
nữa, người muốn khảo cổ vì thế phải phàn nàn mà rất tiếc”. Tuy nhiên,
ngày nay chúng ta vẫn còn có thể tìm hiểu được quan điểm và bút
pháp của sử gia Lê Văn Hưu - khi đọc 30 đoạn “Lê Văn Hưu viết”
trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư do các sử thần triều Lê biên soạn.
Những lời bình xác đáng của “đại thủ bút đời Trần” (Ngô Sĩ Liên),
có “nghĩa lớn khen chê đã rõ rệt ở lời công luận của sử bút” (Phạm
Công Trứ) cho đến nay vẫn còn giá trị.
Nổi bật trong Đại Việt sử ký là tấm lòng yêu Nước thương Dân,
bàn về đạo làm vua và bàn những việc về trị nước. Khi bàn đến thời
nước Việt ta không có vua, bị bọn thứ sử phương Bắc tham tàn đày
đọa đau khổ, ngòi bút của ông như trào ra những dòng nước mắt:
“Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân tự làm đế, nước nhà
để khỏi bị người phương Bắc cướp vét”; và “Chỉ vì không có người
thống suất mà thôi! Thời không bỉ mãi, tất có lúc thái, thế không
14
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
khuất mãi, tất có lúc duỗi…”. Do đó, khi các vương đế nước ta giành
được thắng lợi thì ngòi bút của ông như reo lên, hào sảng lạ thường.
Về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, ông viết: “Trưng Trắc, Trưng
Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố
cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc xưng vương dễ như trở
bàn tay, có thể thấy hình thế nước Việt ta đủ dựng nghiệp bá vương. Tiếc
rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm,
bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng
xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt
bỏ mình vậy”. Chỉ riêng lời bình luận tuyệt hay này, về sau các nhà
viết sử cũng chịu ảnh hưởng từng câu chữ – chẳng hạn cụm từ “hô
một tiếng”, “xưng vương dễ như trở bàn tay”, “bọn đàn ông chỉ cúi
đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc”…
Khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, ông viết: “Có thể nói
một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”.
Khi bàn sự nghiệp hiển hách của Đinh Tiên Hoàng, ông viết: “Có
lẽ ý trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để nối quốc thống của
Triệu Vương chăng?”
Nhưng với tư cách của một sử gia, Lê Văn Hưu không ngần ngại
khi phê phán những việc làm sai trái của các bậc đế vương. Chẳng
hạn, vào năm 1129, vua Lý Thần Tông phong tước cho Lý Tử Khắc
và Lý Lộc vì hai người này dâng con hươu trắng – vì cho đó là điềm
lành – ông phê phán: “Phàm người xưa gọi là điềm lành, là nói việc
được người hiền và được mùa, ngoài ra không có gì đáng gọi là điềm
lành cả”, vậy trong trường hợp trên “người thưởng và người nhận
thưởng đều sai cả”. Sự việc này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “đều do tính
trẻ thơ mà không có người can ngăn”, còn sử gia Lê Tung phê phán
nặng nề: “Sao mà ngu thế!”. Năm 1130, vua Lý Thần Tông xuống
chiếu cho con gái các quan không được lấy chồng vội, phải đợi sau
khi sung vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy
chồng! Trước quy định vô lý này, Lê Văn Hưu không ngần ngại chỉ
trích đích đáng: “Nói về lòng trời thì trời sinh ra dân mà đặt người làm
vua để giữ việc chăn dắt dân, chứ đâu có phải dùng dân cung phụng riêng
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
cho mình đâu. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất, con trai
có vợ, con gái có chồng. Nay Thần Tông hạ chiếu như thế có hợp với đạo
lý của người làm cha mẹ dân không?”. Sự việc này sử gia Ngô Thì Sĩ
có lời bình: “Sáu cung của vua thiếu gì phi tần, mà cũng phải kén người
hiền thục mới phải, đâu lại có xét khắp con gái bách quan tìm sắc đẹp. Xưa
kia Tôn Hiệu và Tấn Vũ đã làm như thế. Nay vua Thần Tông cũng mọi
thói ấy, ham mê nữ sắc quá lắm”. Còn việc vua Đinh Tiên Hoàng lập
5 hoàng hậu, Lê Văn Hưu cũng phê phán: “Từ xưa chỉ lập hoàng hậu
một người để chủ việc nội trị mà thôi, chưa từng nghe nói lập đến 5 người.
Tiên Hoàng không kê cứu cổ học, mà bầy tôi đương thời không có ai biết
giúp sửa cho đúng, để đến nỗi chìm đắm trong tình riêng, cùng lập 5 hoàng
hậu. Sau đến hai triều Lê, Lý cũng phần nhiều bắt chước làm theo, ấy là do
Tiên Hoàng khởi xướng sự rối loạn thứ bậc vậy”.
Ngay cả việc các vua thậm xưng như vua Lý Thái Tông bảo các
quan gọi mình là “triều đình”, Lý Thánh Tông tự xưng mình là “Vạn
thặng”, Lý Cao Tông bảo mọi người gọi mình là “Phật” thì ông chỉ
trích: “Không theo khuôn phép ở đâu, mà là tính khoe khoang. Khổng
Tử nói: “Danh không chính thì nói không thuận” là thế”. Hoặc vua
Lý Thái Tông chịu cho bầy tôi dâng cho 8 chữ “Kim dũng, ngân sinh,
Nùng bình , Phiên phục” vào tôn hiệu thì ông đánh giá nghiêm khắc
đây là việc: “Khoe khoang lại thô bỉ nữa, Thái Tông không có học
nên không biết, nhưng bọn nho thần dâng lên những chữ ấy để nịnh
hót thì không thể bảo là không có tội”. Ngẫm lại, thấy những lời phê
phán ấy nghiêm khắc biết chừng nào!
Năm 1010, sau khi dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ xuống
chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ xây dựng 8 chùa ở phủ Thiên
Đức; trong thành làm chùa Ngự Thiên, Ngũ Phượng; ngoại thành
phía Nam dựng chùa Nghiêm Thắng; rồi trùng tu chùa quán ở các
lộ… Lê Văn Hưu có lời bình mà nay đọc lại khiến ta vẫn còn phải
suy nghĩ: “Thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không
biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không
phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét
máu mỡ của dân có thể gọi là việc làm phúc được chăng?”.
16
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Trong đạo trị nước, Lê Văn Hưu cũng có nhiều lời bàn xác đáng.
Khi bàn giữa vua Lê Đại Hành với vua Lý Thái Tổ, sau khi phân tích
công trạng của hai ngài, ông viết: “Hơn thì không biết, chỉ biết đức
của họ Lý dầy hơn họ Lê. Vì thế nên noi theo họ Lý” . Đối với kẻ thù,
ông vẫn chủ trương dùng đức để thu phục nhân tâm: “Nếu họ chịu
phục thì lấy đức mà vỗ yên, nếu làm phản thì lấy uy mà tỏ cho biết”.
Theo ông “Người khéo trị nước phải nên cẩn thận việc chọn người”
và ông đòi hỏi người làm vua phải có chữ hiếu để làm gương cho
muôn dân. Vì lẽ đó, ông phê phán gay gắt việc vua Lý Thần Tông
khi chưa hết tang cha, đã xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở và
đón hai hậu phi vào cung: “Không hiểu bấy giờ lấy gì để làm khuôn
mẫu cho thiên hạ và biểu đạt với quan. Thần Tông còn nhỏ tuổi, bề
tôi trong triều cũng lấy việc để tang ngắn làm may không có một lời
nói đến. Có thể bảo là trong triều không có người vậy”. Theo ông,
người làm vua – như Lý Thái Tông – không nên “Say đắm cái lòng
nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên cái nghĩa lớn của nhà vua”.
Ông viết như thế, vì bấy giờ việc sùng đạo Phật đến mức không còn
chỗ cho lý trí phán xét. Hãy đọc lại đoạn ông phê phán vua Lý Thần
Tông: “Phàm việc trù tính ở trong màn trướng quyết định được chiến
thắng ở ngoài nghìn dặm, đều là công của người tướng giỏi cầm quân
làm nên thắng lợi. Thái phó Lý Công Bình phá được quân Chân Lạp
cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận. Thần Tông đáng
lẽ phải cáo thắng trận ở nhà Thái Miếu, xét công ở triều đường để
thưởng cho bọn Công Bình về công đánh giặc. Nay lại quy công cho
Phật và Đạo, đi các chùa quán để lạy tạ, như thế không phải là cách
ủy lạo kẻ có công, cổ lệ chí khí quân sĩ”. Thiết tưởng, lời bình này
nay đọc lại vẫn còn thấy hợp lý.
Tuy nhiên, đây là bộ sử đầu tiên nên trong Đại Việt sử ký cũng có
những sai lầm. Chẳng hạn ông đã đánh giá cao Triệu Đà – vua nước
Nam Việt vào năm 216 trước CN đã dùng mưu giảng hòa và thông
gia với An Dương Vương để chiếm nước Âu Lạc vào năm 179 trước
CN. Dù có một vài hạn chế và sai sót ấy, nhưng Đại Việt sử ký của
Lê Văn Hưu vẫn là một di sản quý báu của văn hóa dân tộc.
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1322) thọ 93
xuân, mộ táng ở xứ Mả Giòm, thuộc địa phận thôn phủ Lý Nhân, xã
Triệu Trung, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa). Mộ chí bằng đá, đã bị
chuyển dịch cách mộ bia. Mộ chí cao 0,95m, rộng 0,45m, phía trên đề
“Bảng nhãn Lê tiên sinh bi” và tóm lược tiểu sử. Đây là di tích văn
hóa lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng và cấp kinh phí xây dựng.
Nhà nghiên cứu Đặng Đức Thi đã nhận định xác đáng về sự
nghiệp của Lê Văn Hưu: “Đại Việt sử ký đã mở đầu và có ảnh hưởng
lâu dài, sâu rộng đối với nền sử học nước ta trên nhiều phương diện, cả về
nội dung khoa học, nội dung tư tưởng lẫn phương pháp ghi chép. Cho nên
nếu nói rằng Đại Việt sử ký là sản phẩm của nền văn minh Đại Việt thì
cũng phải nói thêm rằng, Đại Việt sử ký đã làm cho nền văn minh Đại
Việt càng thêm kiêu hãnh vì đã sớm có một Đại Việt sử ký và một Lê Văn
Hưu từ thế kỷ XIII”(1).
1 Lê Văn Hưu - nhà sử học đầu tiên của nước ta - Đặng Đức Thi - NXB Tp. Hồ Chí Minh1994, trang 206.
18
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
ĐẶNG MINH KHIÊM
Người mở đầu loại thơ vịnh sử Nam
bằng chữ Hán
Đêm tối. Ngồi bên án thư, ông Tiến sĩ nhìn bâng quơ ra sân. Vầng
trăng tròn treo lửng lơ trên ngọn cau. Hương cau thoảng mơ hồ trong
gió. Lập lòe những con đom đóm. Xa xa vọng lại tiếng trẻ con đọc
sách, giọng đọc đều đều chậm rãi. Lắng tai, ông biết đó là một đoạn
sử xa xôi bên Tàu... Bất giác, ông khẽ thở dài ngẫm nghĩ:
- Sử nước nhà có biết bao anh hùng hiệt kiệt xứng đáng để đời
sau ngưỡng vọng công đức. Sao không ai viết lại thành thơ để dễ
nhớ, dễ đọc? Chao ôi! Ai cũng phải biết sử nước nhà cả, nhất là bọn
trẻ con rất cần phải học, phải nhớ!
Cầm chén trà trên tay, ông chiêu một ngụm nhưng hương trà
đắng nghét. Dĩa dầu đang cạn dần, ngọn bấc vẫn mờ tỏ soi ánh sáng
xuống án thư. Ngồi thừ người suy nghĩ trong chốc lát, ông Tiến sĩ
trải trang giấy ra trước mặt rồi cầm bút chấm vào nghiên mực... Khi
tiếng gà gáy le te trong đêm khuya, ông giật mình buông bút. Từng
dòng chữ thanh thoát như phượng múa, rồng bay đã hiện trên trang
giấy: “Làm thơ vịnh sử chủ yếu là để gửi gắm cái ý khen chê. Đề tài thường
lấy tên người, tên đất, hoặc lấy núi sông hoặc lấy những người tôn thất,
những văn nhân tài tử cổ kim, đặc biệt những người thực hành điều nghĩa
thì càng được chú trọng. Trời Nam từ thuở dựng nước đến nay, các bậc đế
vương, hậu phi, công hầu, tướng võ, tướng văn, kẻ sĩ và phụ nữ được ghi
chép trong sử sách không phải là không có nhiều, nhưng được người sau
đề vịnh thì mười chỉ mới một hai”.
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
Có thể xem những dòng chữ này là một quan niệm cổ nhất về
thể loại thơ vịnh sử ở nước ta. Người viết là Tiến sĩ Đặng Minh
Khiêm, tự Trình Dự, hiệu Thoát Hiên sinh năm 1456 (?); vốn thuộc
dòng dõi Đặng Tất, Đặng Dung – những sĩ phu yêu nước thời Hậu
Trần. Nguyên quán của ông ở huyện Thiên Lộc, nay thuộc Hà Tĩnh,
nhưng sau đó chuyển đến cư ngụ tại làng Mao Phổ, huyện Sơn Vì
nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người
học giỏi và thi đậu Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487) dưới thời vua Lê
Thánh Tông. Bước đường hoạn lộ không mấy gập ghềnh, ông làm
quan đến Thượng thư Bộ lễ, kiêm phó tổng tài Sử quán, coi việc ở
Chiêu văn cục và Tú lâm cục. Nhà bác học Phan Huy Chú khi biên
soạn phần Nhân vật chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí có nhận
xét: “Ông học vấn rộng rãi, khẳng khái, có tiết tháo lớn”. Trong thời
gian làm quan, ông có hai lần đi sứ Trung Quốc và làm được nhiều
điều ích nước lợi dân.
Ý thức vịnh sử nước Nam đã hình thành trong tâm thức Đặng
Minh Khiêm từ lúc nào? Chính ông viết: “Khoảng niên hiệu Hồng Thuận
(1509-1516), tôi vào giữ chức vụ ở Sử quán, từng có ý thuật cổ. Hiềm vì
những thư tịch tàng trữ ở Bí thư, trải bao phen binh lửa, thành ra sách vở
bị tàn khuyết khá nhiều. Đọc thấy toàn tập, chỉ có Đại Việt sử ký toàn thư
của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập
của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp mà thôi.
Dưới những sự ghi chép của tác phẩm ấy, mở mà duyệt đọc, tàng trữ mà
khảo cứu và dựa theo đó mà ca vịnh, ngày qua tháng lại... Tự biết mình
tuổi già tài kém, chức vụ thấp, học vấn nông, bình luận phải trái nếu có sai
lầm, nhất định sẽ bị những bậc quân tử kiến thức cao minh, hiểu biết sâu
rộng chê cười, nhưng đối với việc truyền thụ và học tập của gia đình, về tài
liệu sử học thì chưa hẳn là không phần nào bổ ích”. Thật ra, trước Đặng
Minh Khiêm từ nửa sau thế kỷ XV đã có Cổ tâm bách vịnh – tập thơ
vịnh Bắc sử chữ Hán của vua Lê Thánh Tông cùng dăm bài thơ vịnh
sử Nam của các tác giả thời Hồng Đức. Nhưng phải đợi đến Đặng
Minh Khiêm thì thơ vịnh sử mới tiếp tục phát triển về số lượng lẫn
chất lượng.
20
TẬP 2: NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐI TIÊN PHONG
Tác phẩm để lại của ông là Việt giám vịnh sử tập (còn gọi là Thoát
Hiên vịnh sử tập), gồm ba tập, 125 bài thơ thất ngôn tuyệt cú – vịnh
125 nhân vật từ Kinh Dương Vương đến thời Hậu Trần. Tập thơ này
được các học giả thuở ấy khen là “danh bút”. Theo nhà bác học Lê
Quý Đôn đây là một áng “văn chương kiệt tác”, còn nhà bác học
Phan Huy Chú đánh giá “Văn chương ông thanh nhã, dồi dào đời
vẫn truyền tụng... không hổ bậc khoa danh”, còn Tiến sĩ Hà Nhậm
Đại cho biết “đến đâu cũng thấy người ta nói đến thơ Thoát Hiên”...
Và ngày nay các nhà nghiên cứu hiện đại khẳng định “là tập thơ đầu
tiên vịnh Nam sử quy mô và hệ thống” (Tổng tập văn học Việt Nam
tập 6 - NXB Khoa học Xã hội - 1987).
Để hiểu thêm về Đặng Minh Khiêm, thiết tưởng ta cũng nên biết
về thể loại thơ vịnh sử. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân: “Thơ vịnh
sử là thơ vịnh truyện cũ, người xưa, với ngụ ý răn dạy người đời, tính chất
sùng cổ và mục đích giáo huấn thể hiện rõ rệt, nhân vật được chọn lọc,
vừa phải là nhân vật lịch sử, vừa phù hợp với chuẩn mực đạo đức chính
thống. Nhà thơ vịnh sử của ta thường biết nhiều nhân vật lịch sử Trung
Quốc, nên thơ vịnh Bắc sử xuất hiện sớm và có số lượng nhiều. Ở thể loại
Nhượng nước kính anh yêu đức độ
Bắc Nam phân trị dựng phong cương
(Thơ Đặng Minh Khiêm vịnh Kinh Dương Vương)
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thơ vịnh sử, tính chất giáo huấn thể hiện khá lộ liễu, thơ vì thế mà hay khô
khan, đơn điệu. Nhưng trong mảng thơ vịnh lịch sử dân tộc, tính chất giáo
huấn thường được thể hiện chững chạc, tinh tế, thơ vì thế mà sống động,
nhuần nhuyễn, giàu cảm xúc. Ở đây cái đẹp là cái đạo đức, đạo đức ấy là
sự hỗn dung giữa đạo đức truyền thống dân tộc với phần tích cực của đạo
đức Nho giáo. Cho nên không ít bài thơ vịnh sử đã vượt lên trên quan niệm
giáo huấn khô khan gò gẫm của Nho giáo bảo thủ, trở nên những bài ca yêu
nước và tự hào về truyền thống văn hiến cao đẹp của dân tộc. Thơ vịnh sử
lấy con người làm đối tượng, nhưng thường đối chiếu con người lịch sử với
chuẩn mực đạo đ...
 





