Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Mori Ogai nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:11' 05-05-2025
Dung lượng: 253.8 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:11' 05-05-2025
Dung lượng: 253.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư
tưởng khai sáng
Nguyễn Nam Trân
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Phần I
Phần II
Phần III
Phần IV
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần I
Mori Ogai (ảnh trích từ Sigma Shin Kokugo Binran, 2002)
Văn học Nhật Bản trong giai đoạn sau của thời Minh Trị (1868-1926) được
đại diện bằng những nhân vật hoặc đứng bên trong hay bên ngoài nhóm
"Bạn Bút Nghiên" (Kenyuusha, Nghiễn Hữu Xã), một văn đoàn với văn
phong cổ điển kết hợp lại từ năm 1885. Ba người đứng đầu Kenyuusha là
Ôzaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp, 1867-1903), Yamada Bi.myô (Sơn Điền,
Mỹ Diệu, 1868-1910) và Ishibashi Shi.an (Thạch Kiều, Tư Án, 1867-1927).
Đứng ngoài nhóm và tượng trưng cho trào lưu văn học mới có Mori Ôgai
(Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922), Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn,
1872-1943) và Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894).
Thế nhưng các nhà viết văn học sử đều nhìn nhận chỉ có Mori Ôgai, tuy
xuất hiện về sau, mới là cái bóng lớn cùng với Natsume Sôseki đã bao trùm
lên văn học suốt thời mở nước, từ Minh Trị mãi đến Đại Chính.
Bước đầu của Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922):
Mori Ôgai người Shimane, tỉnh duyên hải nhìn ra biển Nhật Bản, sinh ra
trong một gia đình đời đời làm nghề thầy thuốc cho lãnh chúa, lớn lên theo
https://thuviensach.vn
truyền thống đó, vào Đại Học Đế Quốc Tôkyô học y khoa, Ông tốt nghiệp
năm 1881 và trở thành quân y của lục quân. Năm 1884, ông được gửi đi
học về khoa vệ sinh ở Berlin (Đức).
Khi mới từ nước ngoài về (1888) Mori Ôgai đã nhận thấy trong khi Âu
Châu đã bước vào thời cận kim thì Nhật Bản hãy còn ở trong thời tiền cận
kim nên đã ra sức hoạt động để kéo văn học Nhật tiến lên mau. Ông và em
trai, Mori Atsujirô (Sâm, Đốc Thứ Lang), lập ra Shiragami-zôshi (nguyệt
san văn học Bờ Giậu, 1889) để "định hướng cho một dòng văn học đang
chảy buông tuồng". Ông đang xúc tiến hoạt động có tính chất khai sáng cho
văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung thì vì bổn phận, phải đình bản
tạp chí để tùng quân tham gia trận chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95). Ông
đã đăng trên tạp chí đó phần đầu "Người ứng khẩu thành thơ" (Sokukyô
Shijin, Tức Hứng Thi Nhân,?1902), tác phẩm rất ăn khách do ông dịch từ
Improvisatoren (1835), tiểu thuyết trường thiên của văn hào Đan Mạch
Andersen nói về cuộc đời ái tình và sự nghiệp nhà thơ YÙ Antonio, người
phải đối đầu với nhiều nghịch cảnh trong tình yêu và tình bạn.
Về mặt sáng tác, ông đã viết tác phẩm đầu tay Maihime (Nàng vũ công,
1890) dưới hình thức một thiên hồi ký với lời văn thanh nhã mô tả mối tình
giữa một sinh viên Nhật tên Ôta Toyotarô (Thái Điền, Phong Thái Lang) và
nàng vũ công ba-lê (ballet dancer) nghèo tên Elise mới 16, 17 tuổi với bối
cảnh thành phố Berlin cuối thế kỷ 19. Toyotarô bắt buộc phải lựa chọn giữa
sự nghiệp và tình yêu, một được một mất. Chàng đã hy sinh tình yêu để
đuổi theo danh vọng, về nước rồi sau đó tiếc hận khôn nguôi vì khi vừa
khám phá được bản ngã, tìm được tự do ở nước ngoài thì đã bị ràng buộc vì
những qui luật của xã hội cũ ở quê hương. Trong đời thật, Ôgai sau khi đi
Đức học 5 năm trở về, có người con gái Đức cũng tên Elise theo chân ông
đến Nhật. Sau đó, ông đột nhiên cưới con gái Trung Tướng Akamatsu
Noriyoshi tên là Toshiko, nhưng vừa có con xong thì họ ly hôn. Ông không
hề cho biết lý do sự thất bại của cuộc hôn nhân nhưng nhiều thuyết cho
rằng nó bắt nguồn từ thái độ trịch thượng của bên nhà vợ đối với gia đình
ông.
Văn chương trong Maihime thanh nhã, tác giả kết hợp được lối hành văn
https://thuviensach.vn
mới mẻ của Tây Phương, cùng lúc biết sử dụng Hán văn một cách điêu
luyện, làm toát ra được hương vị trữ tình của Tây Âu cận đại. Với tác phẩm
tiêu biểu nầy, Ôgai đã thật sự thổi một luồng gió mới vào văn đàn thời
Minh Trị.
Cùng năm đó, ông viết Utakata no Ki (Truyện người ca kỹ) và năm sau lại
cho ra đời Fumizukai (Người đưa thư). Cả ba tác phẩm nầy có đặc điểm là
đều nhuốm màu tình cảm lãng mạn cá nhân, được giới bình luận gọi chung
là "bộ ba tác phẩm (trilogy) viết về nước Đức" của ông.
Đặc biệt thời điểm này được đánh dấu bằng hoạt động khai sáng có tính
cách tích cực của Ôgai. Tuy ông bàn luận khai sáng trong nhiều lãnh vực
nhưng qua việc sáng lập tạp chí văn nghệ Shiragami-zôshi (Bờ Giậu), ông
đã có công mở một diễn đàn cho những cuộc bút chiến về tiểu thuyết, ngoài
ra, thông qua phiên dịch, lại giới thiệu được nhiều danh tác ngoại quốc đến
với độc giả Nhật Bản.
Thời sáng tác sung mãn của Mori Ôgai
Sau khi góp mặt với văn đàn vào những năm Minh Trị thứ 20 (1887-97),
tiểu thuyết gia Ôgai gác bút một thời gian để tiếp tục ngành quân y. Ông đã
đạt được địa vị cao nhất trong nghề: Tổng cục trưởng hệ thống quân y của
lục quân. Hai năm sau đó, ông viết "Nửa ngày" (Hannichi, 1909), tiểu
thuyết diễn tả bằng lối văn nói với chủ đề sự xung đột giữa mẹ chồng nàng
dâu, đánh dấu sự trở về với văn đàn của mình, rồi từ đó sáng tác không
ngừng.
Để chống đối lại chủ nghĩa tự nhiên vốn xem tính dục như trung tâm của
cuộc sống con người, ông viết "Tính dục" (Vitas Sexualis, 1909) mô tả một
cách không ngượng ngùng cuộc sống tính dục của nhân vật trong truyện
(có lẽ là chính bản thân) từ thuở bé kể cả việc đi lại với gái làng chơi xóm
chị em ở Yoshiwara... Tác phẩm này đã bị cấm lưu hành một thời. Ông
mượn chi tiết của cuộc sống chung quanh mình đưa vào một số đoản thiên
trong đó có "Cuộc thảo luận" (Kondankai) và "Đang Trùng Tu"
(Fushinchuu, 1910). Ông còn viết "Tuổi Trẻ" (Seinen, 1910-11) nói về lớp
thanh niên thời đó, có lẽ lấy cảm hứng từ "Chàng Sanshirô" (Sanshirô, Tam
Tứ Lang) của Sôseki, một tác phẩm cũng đề cập đến tâm trạng thế hệ mới
https://thuviensach.vn
thời Minh Trị. "Ngỗng Trời" (Gan, 1911-1913) mô tả tâm lý và tình cảm
của một thiếu nữ, O-Tama (Ngọc), con gái nhà bán kẹo, thấy bản thân gặp
cảnh tù túng như lũ chim mình nuôi trong lồng khi cô phải lấy Suezô,
người làm nghề cho vay nặng lãi, ông chồng già mà mình không thương.
Okada, anh sinh viên trường thuốc hàng ngày đi đến trường qua dưới cửa
nhà cô trên con dốc mang cái tên định mệnh là... Muenzaka (Dốc Vô
Duyên) mới là người cô thầm yêu nhưng những run rủi của cuộc đời đã làm
họ không bao giờ được gần nhau. Ngay dịp may gặp gỡ cuối cùng trước khi
Okada sang Đức du học cũng bị tác giả (nhân vật xưng tôi trong truyện và
là bạn của Okada) vô tình phá đám. Trên đường về, Okada giận dữ ném
hòn đá nhỡ làm chết con ngỗng trời đang bơi trong hồ như thể giết mất một
tự do.
Ở giai đoạn sáng tác này, nói chung, đề tài của Ôgai rất phong phú.Tuy vậy,
nơi ông, không còn tìm đâu ra hình bóng con người tranh đấu cho tinh thần
khai sáng ngày xưa, có chăng là một thái độ "đứng bên lề" (bôkansha), "vui
chơi" (asobi) và "cam phận" (teinen). Thái độ nầy một phần cũng vì ở thế
đứng của ông giữa chốn quan trường, phải đau khổ chứng kiến thảm cảnh
của những nhà văn bị kết án "đại nghịch" bởi một nhà nước Minh Trị
phong kiến, và bị đem ra xử hình vì chủ trương và ý kiến của mình (1).
Nổi khổ ấy ông đã lần lượt trình bày trong các tác phẩm nối liền với nhau
như "Dường như thế đấy" (Kanoyôni, 1912) và "Dưới cái chùy" (Tsui-ikka,
1913). Trong đó, ông nói về Gojô Hidemaro, một thanh niên quí tộc từng đi
du học, hấp thụ được tính hợp lý của Tây phương (ví dụ như thuyết tiến hóa
của Darwin mà thời đó coi là "tư tưởng nguy hiểm"), đứng trước cái không
hợp lý của Nhật Bản (như thần thoại về nguồn gốc linh thiêng của các thiên
hoàng) đang được nhà nước thổi phồng, tìm ra sự mâu thuẫn giữa hai bên
nên đâm ra đau khổ. Kết cục, điều nói trên mang đến cho ông ý nghĩ là
đành phải chấp nhận những nguyên lý của tôn giáo, khoa học, triết học, vốn
không kiểm chứng được một cách cụ thể, như là những thực thể. Cái cách
nhìn sự vật "dường như thế đấy" (2) của ông xem một việc xảy ra như sự
thực mà không cần tìm bằng cớ về sự hiện hữu của nó. Ông thử tìm cách
dựa vào giả thuyết này để tiếp tục sống.
https://thuviensach.vn
Thế nhưng mang một lập trường như vậy mà còn viết những tác phẩm có
tính hiện đại là việc không còn làm được dễ dàng nữa nên ông chuyển qua
loại tiểu thuyết lịch sử. Nhân cảm xúc vì cái chết của đại tướng Nogi
Marasuke (Nãi Mộc, Hy Điển, 1849-1912) người tự sát để được tháp tùng
chủ mình là thiên hoàng Meiji (1852-1912), về bên kia thế giới, ông viết
hai tác phẩm mang chủ đề "tự sát để theo chủ" (tuẫn tử ) là "Thư trối trăn
của Okitsuyaemon" (Okitsuyaemon no isho, 1912), "Một nhà họ Abe" (Abe
ichizoku,1913) rồi sau đó là những danh tác về lịch sử như "Truyện của
Sanshô, người kể dạo" (Shanshô Dayu, 1915) "Thuyền giải tù"
(Takasebune, 1916).
Người Viết Tiểu Thuyết Lịch Sử
Đến lúc ấy, Ôgai còn viết song song hai thứ tiểu thuyết lịch sử, một là " sát
với lịch sử" và hai là "tách khỏi lịch sử".Với Shibue Chôsai (Sáp Giang,
Trừu Trai, 1916), đăng trên báo ở Ôsaka và Tôkyô, ông kể lại cuộc đời nhà
y khoa và tư tưởng thời Edo, Shibue Chôsai (1805-1858), rồi từ đó triệt để
theo con đường "sát với lịch sử", cắt xén mọi sự kiện có tính cách tiểu
thuyết mà đi vào hẳn lãnh vực truyện ký. Con người của Chôsai "lòng chứa
đầy đạo nghĩa, đẩy lùi cám dỗ đến từ bên ngoài, lúc nào tâm thần cũng yên
ổn, biết đợi thời cơ, lúc cần tiến thì tiến, phải thoái thì thoái" được ông coi
như là một đàn anh mẫu mực trong công việc khảo chứng khoa học của
mình. Trong tiểu thuyết nầy, Ôgai như đặt lại vấn đề: một cuộc duy tân hấp
tấp và hời hợt (3) có thể làm mất đi những giá trị cổ truyền quí báu tượng
trưng bằng nhân vật Chôsai và để lại một khoảng trống tinh thần mà Nhật
Bản không cách gì bù đắp vào được.
Sau đó, ông còn biên soạn Izawa Ranken (4) (Y Trạch, Lan Hiên, 1916) và
Hôjô Katei (5) (Bắc Điều, Hà Đình, 1917-20), xem việc viết "truyện ký lịch
sử" như lối thoát cuối cùng của nhà văn.
Nhà Dịch Thuật và Khai Sáng
Ôgai cũng đóng một vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thơ Tây
Phương với người Nhật. Sau khi du học ở Đức về, ông đã cùng với Ochiai
Naobumi (6) và Koganei Kimiko (Tiểu Kim Tỉnh, Hỷ Mỹ Tử) lập ra tổ
chức "Tiếng Nói Mới" Shinseisha (Tân Thanh Xã) viết tắt là S.S.S., cho ra
https://thuviensach.vn
đời tập thơ dịch "Vang Bóng"(Omokage, 1889) trong đó họ dịch thơ từ chữ
Hán, từ thơ Tây Phương (của Heinrich Heine và Goethe) cũng như một tiết
cổ văn trong Truyện Heike. Bài thơ của Goethe (1749-1832) nhan đề
"Khúc hát của nàng Mignon", một mỹ nhân bạc mệnh, thấy trong tiểu
thuyết mang tên "Thời học việc của Wilhelm Meister (Wilhelm Meistes
Lehrjahre), với hình thức 10/10 âm tiết khác với thể 5/7 truyền thống của
người Nhật. Trong đó còn có thơ trích từ Faust (1774-1831), kịch thơ gồm
hai tập của Goethe nói về cuộc đời hứng thú, đầy bi kịch trong tình yêu và
cũng như cuộc đổi chác giữa học giả Faust và ác quỉ. Ôgai đã dịch từ
nguyên văn tiếng Đức theo lời yêu cầu của Bộ Giáo Dục và hoàn tất năm
1913. Khi xuất bản, sách bán rất chạy và gây được tiếng vang lớn.
Khác với việc đeo đuổi lý tưởng nhân bản của Natsume Sôseki, Ôgai là một
nhà văn trí thức, đứng bên ngoài dòng suy tưởng đó và gắn bó với truyền
thống tôn quân trọng đạo nhiều hơn. Về bút pháp, ông rõ ràng, chính xác và
chi tiết như một nhà giải phẫu, có lẽ vì lý do nghề nghiệp. Ông được đánh
giá như một kiện tướng của phong trào dùng văn nói để viết tiểu thuyết,
đóng góp nhiều cho sự phát triển của tiếng Nhật hiện đại. Ông từng viết
kịch theo phong cách Âu Tây và đồng thời cũng yêu chuộng sân khấu cổ
điển Kabuki. Ngoài ra, Ôgai còn để lại dấu ấn trên phương pháp luận của
các nhà phê bình văn học thời Minh Trị. Trong lãnh vực này, theo Ivan
Morris, ông tỏ ra chịu ảnh hưởng mỹ học của triết gia duy lý Đức Karl
Eduard von Hartmann (1842-1906). Tuy không có nhiều độc giả và thu hút
đệ tử lúc sinh thời như Sôseki, Ôgai được lớp nhà văn có tiếng tăm đi sau
với văn phong khác nhau từ Tanizaki, Akutagawa, Kawabata đến Mishima
đồng tôn làm thầy trong lãnh vực văn chương.
*
Sau khi rời khỏi chức vị Tổng Cục Trưởng Cục Quân Y, Ôgai vẫn còn là
viện trưởng Viện Mỹ Thuật Đế Quốc và Viện Bảo Tàng Đế Quốc cho đến
lúc qua đời vào năm 1922, thọ 60 tuổi. Có điều lạ là khi chết, ông đã để lại
di chúc từ chối tất cả những vinh dự mà chức phận của ông có thể dành cho
và chỉ xin khắc đơn sơ trên mộ bia tên cúng cơm của mình (Mori Rintarô =
Sâm, Lâm Thái Lang) để được chết như một người thường dân xứ
https://thuviensach.vn
Shimane, quê nhà của ông.
Ba đoản thiên của một người viết văn thời mở nước
Khoảng giữa năm 1971-72, nhà xuất bản Iwanami ở Tôkyô đã cho ra đời
toàn tập Mori Ôgai gồm 38 cuốn mà trong đó ba truyện được ra chọn để
dịch vì vừa thật ngắn, vừa có giá trị tiêu biểu.
Trước hết là "Đang Trùng Tu" (Fushinchuu, 1910), tác phẩm Ôgai viết năm
48 tuổi. Ông xem nó nó như một Ich Roman (tiểu thuyết tự thuật) của
mình, trong đó nhân vật tham tán ngoại giao Watanabe, đã gặp lại một phụ
nữ ngoại quốc, người yêu cũ của anh ta, trong khung cảnh đang xây dựng
dở dang của thành phố Tôkyô sau khi chiến tranh Nhật Nga (1904-05) vừa
chấm dứt với câu nói thời danh: "Đây là xứ Nhật mà!", đúc kết những hạn
chế và tiêu cực của một quốc gia đang muốn chen chân với liệt cường. Nó
như thầm bảo người phụ nữ ngoại quốc trong truyện không hiểu về Nhật
Bản cũng như Nhật Bản lai căng của thời Minh Trị chưa hiểu gì về ngoại
quốc, nếu hai bên có tìm đến với nhau thì chỉ là một cuộc hôn nhân tạm bợ.
Đất nước này còn cần một thời gian trùng tu để chuẩn bị tốt cho cuộc gặp
gỡ Đông Tây. Truyện này còn có thể xem là đoạn tiếp nối và lời trần tình
cho thái độ của nhân vật chính trong Maihime (Nàng Vũ Công, 1910), anh
chàng sinh viên du học Toyotarô đã bỏ rơi người yêu, một cô gái ngoại
quốc để về nước lấy vợ.
Hanako (1910), nhan đề của truyện thứ hai mang tên một người con gái
Nhật, Fukuhara Hanako. Cô cũng là một vũ công ba-lê, thực sự đã đến
Paris và có dịp làm người mẫu cho nhà điêu khắc Auguste Rodin (18401917). Tiểu phẩm chỉ có vài trang này của Ôgai nhằm đánh giá cao vẻ đẹp
Đông Phương của người con gái Nhật Bản, một cái đẹp chỉ có bậc đại sư
phóng khoáng như Rodin mới có thể cảm nhận trong khi chính đồng bào
của cô lại không nhìn thấy vì họ còn bị che khuất bởi những thành kiến về
giai cấp và về quan điểm mỹ thuật.
Takasebune (Thuyền Giải Tù, 1916), tác phẩm thứ ba được giới thiệu dưới
đây, là một truyện ngắn lịch sử Ôgai viết năm 54 tuổi, đăng lần đầu trên tờ
Chuô Kôron (Trung Ương Công Luận). Tác phẩm phản ánh những dằn vặt
nội tâm của tác giả, vừa là nhà văn có tư tưởng mới mẻ vừa là một công
https://thuviensach.vn
chức cao cấp trong chính quyền, đứng trước những mâu thuẫn của xã hội
mình đang sống mà không tìm ra lời giải đáp. Truyện cũng khơi gợi lên
một vấn đề y học mà ngày nay chúng ta còn đang bàn cãi: quan điểm đạo
đức về hành động trợ tử (euthanasia ).
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần II
ĐANG TRÙNG TU
ĐANG TRÙNG TU
(FUSHINCHUU) (7)
Viên tham tán Watanabe xuống xe điện trước rạp Kabuki-za.
Tránh mấy vũng nước còn đọng đây đó trên con đường vừa mới ngớt mưa,
ông men theo bờ kênh qua xóm Kobiki hướng về công thự Bộ Viễn Thông,
vừa đi vừa dáo dác nhìn, thử dò xem góc phố nào có để tấm bảng cửa hiệu
mà nhất định mình có lần trông thấy.
Con đường ít ai qua lại dù có năm sáu người mặc lối Âu giống như đám
công chức vừa tan sở ra đang nói chuyện hơi ồn ào. Một cô gái mặc
kimono choàng thêm cái áo ngắn sặc sỡ, chắc là dân làm ở một trà đình
đang chạy công việc sang bên hàng xóm, hấp tấp suýt đâm vào ông. Chiếc
xe kéo nào đó cứ buông mui sùm sụp từ đằng sau bỗng vượt lên trước.
Rốt cuộc Watanabe cũng tìm ra được cái bảng, hơi nhỏ một chút, có kẻ theo
chiều ngang (8) mấy chữ "Ô-ten Seiyôkan". Mặt trước của khách sạn nhìn
về hướng con đường dọc bờ kinh được che bằng những thanh ván. Lối vào
bên hông nằm trên con đường vắng. Hai bên tả hữu là hai cầu thang châu
đầu với nhau, tạo thành khung tam giác.Cuối hai bậc thang có cửa kính
chắn lối. Sau khi lưỡng lự không biết nên vào từ phía nào, Watanabe thử
bước lên cầu thang thì thấy trên cánh cửa bên trái có ghi chữ "Cửa Vào".
Watanabe cẩn thận chùi đôi giày khá lấm bùn rồi mở cánh cửa kính. Bên
trong, ông thấy ở bên hành lang rộng lát ván, người ta có để cái cọ lau giày
trải thêm tấm thảm chùi chân giống như ngoài cửa. Watanabe nghĩ thầm
ngoài mình ra hãy còn có những người khác mang giày bẩn vào đây nên lại
chùi chân thêm lần nữa. .
Bốn bề vắng vẻ, chẳng một bóng người. Chỉ có tiếng động ồn ào ở nơi nào
cách đó không xa vọng tới.Hình như là tiếng thợ đang sửa nhà. Nhớ lại
mấy thanh ván che vòng quanh bên ngoài khi ngoài khi nãy, mới thấy đúng
https://thuviensach.vn
là người ta đang làm công việc trùng tu.
Vì không thấy ai ra đón mình, Watanabe tiếp tục đi thẳng vào trong nhưng
đến cuối hành lang, lúc còn không biết nên quẹo phải hay trái thì mới thấy
có người ra vẻ bồi bàn đang lửng thửng tới nơi.
-Dạ hôm qua tôi có gọi điện thoại giữ chỗ...
-Vâng, cho hai người phải không ạ. Xin mời ông lên lầu hai.
Anh ta chỉ cho Watanabe lối bên tay mặt nơi có cái thang dẫn lên gác. Sở dĩ
anh ta biết là người khách mới đến đã đặt bàn hai chỗ bởi vì trong thời gian
đang trùng tu, khách sạn hầu như đóng cửa. Bước đến khu vực này, dần dần
mới nghe rõ tiếng búa đang đóng đinh.
Lên hết cầu thang đã thấy người bồi bước theo ngay. Chưa biết họ sắp cho
mình phòng nào, Watanabe mới quay lại sau lưng hỏi thăm:
- Ở đây coi bộ khá ồn đó nghe!
- Thưa không sao đâu. Năm giờ thợ họ về rồi. Lúc quí khách dùng cơm là
đã hết ồn. Xin vui lòng đợi ở đây một chút.
Anh ta rảo bước ra đằng trước, mở cánh cửa phòng nhìn về hướng Đông.
Nhìn vào mới thấy đó là một cái xa-lông hơi rộng nếu chỉ chứa hai người
khách. Họ đã đặt đó đây ba cái bàn nhỏ, mỗi bàn đều có bốn năm chiếc ghế
vây quanh.Dưới cánh cửa sổ trổ ra hướng Đông có một chiếc ghế xô-pha.
Bên cạnh là chậu nho kiểng cao độ ba tấc buông lơi chùm quả màu xanh
trong căn phòng ấm cúng.
Watanabe nhìn ngang nhìn dọc một vòng thì người bồi bàn đang đứng chờ
bên cánh cửa đã mở của căn buồng bên tay trái và bảo "Thưa đây là chỗ
ông dùng cơm". Căn buồng này mới thật vừa vặn. Bàn ăn đã bày biện sẵn
sàng, một lẳng lẵng hoa kết bằng hoa lệ quyên (9) và hoa đỗ quyên (10) rất
mỹ thuật được đặt ở giữa. Trên bàn có hai cu-ve (11) đối mặt nhau. Phòng
mới đúng là dành cho hai thực khách, nếu đặt sáu người vào đây thì hơi
chật.
Watanabe ra chiều vừa ý, quay lại xa-lông. Người bồi bàn đã rời phòng ăn
để đi về phía nhà bếp ngay nên bây giờ là lần đầu tiên Watanabe ngồi một
mình. Bỗng tiếng búa lớn búa con đột nhiên im bặt. Ông lấy đồng hồ ra
xem mới biết đã năm giờ chiều. Nghĩ thầm từ đây đến giờ hẹn hãy còn
https://thuviensach.vn
được nửa tiếng, Watanabe cắt giấy niêm phong hộp thuốc để trên chiếc bàn
nhỏ, lấy một điếu xì gà, cắt đầu và châm lửa
Có điều lạ là Watanabe không có tâm lý mình đang chờ đợi chút nào cả.
Ông còn như không cần nhớ cái người mình đang đợi là ai nữa. Cho dầu
một khuôn mặt nào xuất hiện từ đằng sau cái lẵng hoa, có lẽ ông cũng
chẳng buồn biết đến. Và cũng tự hỏi tại sao mình trở thành hững hờ đến
vậy.
Watanabe vừa phì phà điếu xì gà, đến mở cánh cửa sổ bên góc phòng có đặt
chiếc xô-pha để ngắm phong cảnh bên ngoài. Ngay dưới của sổ, ông thấy
rất nhiều thanh gỗ chất lên bên nhau. Đây mới đúng là mặt tiền khách sạn.
Bên kia bờ con kênh đầy ắp nước và hầu như ngừng chảy là mấy ngôi nhà
dân, có lẽ chỗ người ta dùng để hẹn hò. Trên đường không có bóng người,
ngoại trừ một thiếu phụ đang địu con đứng lơ đãng trước cửa một trong
những ngôi nhà ấy. Xa hơn nữa về phía tay mặt, ngôi dinh thự đồ sộ dùng
làm Sở Tư Liệu của Bộ Hải Quân với màu gạch đỏ vươn cao lên choán hết
tầm mắt.
Watanabe ngả lưng tựa ghế xô-pha, đảo mắt nhìn quanh xa-lông. Ở một đôi
chỗ trên tường có treo vài cuốn tranh Nhật. Chúng được xếp đặt một cách
tùy tiện, không ăn khớp với nhau chút nào: bên cạnh bức có chim oanh đậu
trên cành mơ là tranh vẽ sự tích chàng ngư phủ Urashima (12) và tranh
chim ưng. Ông thấy bức nào khổ cũng hẹp mà không đủ dài, lại treo từ chỗ
thật cao trên tường nên tưởng chừng chúng bị xén mất khúc dưới.Trên cánh
của lối dẫn vào phòng khách lại có lộng khung một bản kinh văn do vị giáo
chủ nào đó viết bằng lối chữ cổ. Nhật Bản thật không phải là một quốc gia
có óc nghệ thuật!
Trong một chốc, đầu óc trống rỗng, Watanabe không nghe không nhìn gì
cả, chỉ hút thuốc và để mặc thân thể lâng lâng trong khoái cảm.
Từ phía hành lang có tiếng chân và tiếng nói chuyện vọng tới. Cánh cửa
mở. Người mà Watanabe chờ đợi đã đến. Thiếu phụ đội một cái mũ rạ rộng
vành kiểu Anne-Marie có đính chuỗi hạt. Nàng mặc chiếc áo dài tay màu
xám mà từ phía ngực trở xuống là một tấm áo nịt bằng vải ba-tít trắng có
đường thêu. Chiếc váy cũng cùng màu xám. Thiếu phụ cầm trên tay cái dù
https://thuviensach.vn
Tây bé có viền tua, trông như món đồ chơi. Mặt Watanabe bất giác điểm
một nụ cười. Ông bật dậy khỏi chiếc xô pha và ném điếu xì gà vào cái gạt
tàn. Người đàn bà vừa đến quay đầu ngó người bồi bàn đi theo còn đang
đứng khựng ở chỗ cửa vào, xong đưa mắt nhìn Watanabe. Hai con mắt to
màu hạt dẻ của những cô nàng tóc nâu. Đó là đôi mắt ngày xưa Watanabe
đã được nhìn nhiều lần nhưng bây giờ trên đường viền quanh mắt còn đánh
thêm quầng màu hoa cà bề ngang bằng một lóng tay, cái mà ngày xưa
không thấy có.
-Xin lỗi đã bắt anh đợi lâu.
Nàng nói bằng tiếng Đức. Lời lẽ hững hờ, và với một cử chỉ cũng không
hợp tình hợp cảnh, nàng chuyền chiếc dù qua bàn tay trái, bình thản đưa
bàn tay phải có đeo găng cho ông bắt. Watanabe nghĩ thầm nàng đang đóng
kịch trước mặt người bồi bàn nhưng ông vẫn lịch sự nắm lấy mấy ngón tay
thiếu phụ chìa ra và quay lại bảo anh bồi:
-Khi nào cơm nước sẵn sàng thì cho biết nhé.
Người bồi bàn quay ra và đi khuất.
Thiếu phụ ném bừa cái dù lên mặt xô-pha, buông người xuống ra chiều mệt
mỏi. Nàng cứ chống hai khuỷu tay lên thành bàn, nàng nhìn khuôn mặt
Watanabe và không nói năng gì. Watanabe kéo ghế lại sát bên bàn rồi ngồi
xuống. Mãi một lúc sau thiếu phụ mới lên tiếng:
- Ở đây vắng vẻ quá anh nhỉ?
- Họ đang trùng tu mà. Mới hồi nãy còn làm việc ồn ào kinh khủng.
- Thế hở anh. Không biết sao không khí chỗ này làm em bồn chồn quá. Bề
gì cái số em không bao giờ ở yên một nơi.
- Sang đây từ hồi nào?
- Em vừa đến hôm kia thì ngày hôm qua tình cờ gặp anh giữa đường đó.
- Đi công việc gì thế?
- Em có mặt ở Vladivostok (13) từ cuối năm cơ.
- Thế vẫn trình diễn trên sân khấu trong cái ô-ten ấy à?
- Vâng, phải.
- Chắc không đi một mình đâu nhỉ? Hai mình à?
Nàng hơi ngập ngừng:
https://thuviensach.vn
- Có một mình hai mình gì đâu anh. Em đi với người mà anh đã biết đó!
- Vẫn cái anh chàng Ba-Lan? Thế thì em thành Kojinskaya (14) rồi hở?
- Ghét anh quá! Kojinsky chỉ đệm đàn cho em hát thôi chớ có gì đâu!
- Làm gì chỉ có chừng đó!
- Thật ra hai người đi đường chung với nhau, có chuyện muốn tránh cũng
không được. Bảo hoàn toàn không thì đâu có lý.
- Anh biết thừa đi. Thế em dắt hắn theo qua Tôkyô đấy?
- Vâng. Bọn em trọ ở Atagoyama.
- Thế hắn chịu thả cho em đi gặp anh à.
- Ảnh chỉ theo đệm đàn lúc em hát thôi.
Nàng dùng chữ Begleiten, có nghĩa đệm đàn nhưng cũng có nghĩa là đi
kèm vào những dịp khác.
- Khi em nói có thấy anh ở Ginza thì ảnh bảo thế nào cũng xin gặp anh.
-Thôi thôi, cô cho tôi xin!
- Anh đừng lo, ảnh còn nhiều tiền, không vay mượn anh đâu!
- Nhiều thì nhiều nhưng nếu ở lại đây thì rồi cũng tiêu hết. Mai mốt hai
người còn tính đi đâu?
- Bọn em định sang Mỹ. Mọi người bảo đừng trông mong gì ở Nhật nên em
không hy vọng tìm ra việc làm ở đây.
- Em nghĩ đúng. Ngoài Nga, Mỹ là nước đáng đi đấy. Nhật Bản hãy còn
chậm tiến. Em thấy không, đang trùng tu đầy ra kìa!
- Eo ơi, nếu anh nói như thế thì khi qua Mỹ em sẽ mách với họ đó là ý kiến
của một người trí thức Nhật Bản cho coi. Của một người thuộc giới cầm
quyền nữa kia chứ.Có phải anh ở trong chính quyền không nào?
- Phải, trong chính quyền.
- Cung cách lại đàng hoàng?
- Khá đàng hoàng! Có thể nói là đang trở thành kẻ sống giả dối (15) nữa.
Hôm nay hẹn ăn cơm tối với em là ngoại lệ đó!
- Cảm ơn nhiều nghe anh.
Nàng chìa bàn tay qua khỏi mặt bàn. Bàn tay ấy nãy giờ đã cởi ra khỏi cái
găng có đơm vài cái cúc bấm. Watanabe trang trọng. nắm chặt lấy nó. Bàn
tay lạnh giá. Rồi cái bàn tay lạnh giá ấy vẫn để nguyên không chịu buông
https://thuviensach.vn
tay ông ra và đôi mắt vì có đánh quầng nên to hẳn, nhìn như chiếu thẳng
vào mặt ông:
- Có muốn em hôn cái không?
Watanabe làm bộ nhăn mặt:
- Đây là xứ Nhật mà!
Người bồi bàn không gõ trước mà cứ tự tiện mở cửa bước vào:
-Thưa, dọn cơm được chưa ạ?
- Đây là xứ Nhật mà!
Vừa nhắc lại câu nói một lần nữa, Watanabe đứng dậy, chỉ đường cho thiếu
phụ lối vào phòng ăn. Cùng lúc, ngọn đèn điện cũng bật sáng.
Thiếu phụ nhìn quanh căn phòng, vừa ngồi xuống cái ghế đối diện, vui vẻ
nói:
- Họ cho mình buồng riêng (16) !
Rồi hình như muốn xem phản ứng của Watanabe, nàng mới nhón vai lên để
thử nhìn ông ta vì lẵng hoa đặt giữa bàn làm ngáng mắt.
- Tình cờ may mắn thế thôi.
Watanabe trả lời như không có gì.
Người rót rượu sherry, người cắt dưa melon. Để tiếp có hai vị khách mà
những ba bồi bàn nên hơi thừa. Watanabe phê bình:
- Thấy mấy anh bồi này lăng xăng chưa?
- Họ không để ý để tứ gì cả hở anh.Trên khách sạn Atagoyama cũng giống
y hệt.
Thiếu phụ hơi khuỳnh tay cắt một miếng dưa đưa lên miệng vừa nói như
thế.
- Ở Atagoyama, hai ông bà bị họ phiền nhiễu lắm chứ gì?
- Coi kìa, anh lại hiểu ra đằng khác.Thôi, cũng được đi. Dưa này ngon đấy
chứ, anh!
- Bây giờ mà qua Mỹ thì thứ này sáng nào người ta cũng dọn đầy bàn.
Hai người vừa ăn cơm vừa nói với nhau toàn những chuyện không đâu.
Cuối cùng, bồi bàn dọn món xà-lách trái cây thập cẩm ra rồi rót xâm banh
vào cốc.
Thiếu phụ chợt lên tiếng hỏi:
https://thuviensach.vn
-Thế anh không thấy ghen chút nào sao hở anh?
Nàng nhớ lại ngày xưa sau khi ở Nhà Hát Trung Ương (17) ra, họ vẫn
thường ngồi đối diện như thế này bên bàn ăn của cái quán nằm trên vỉa hè
Bruhlsche Terrasse (18), lúc thì giận dỗi, lúc lại làm lành...Cho nên dầu
đang nói với nhau những câu chuyện vô nghĩa như bây giờ, nàng không
làm sao ngăn được dòng hồi tưởng. Định bụng sẽ nói chuyện một cách vui
vẻ bông đùa nhưng không hiểu sao giọng của nàng bất chợt trở thành trang
nghiêm và trong lòng không khỏi cảm thấy có gì tiếc hận.
Watanabe vẫn ngồi y nguyên, tay nâng cao cốc xâm banh cao khỏi lẳng
hoa, ông nói bằng một giọng rất rõ ràng:
-Kosinsky soll leben! (Chúc cho Kosinsky nhiều sức khỏe!)
Với một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt như đông cứng lại, thiếu phụ
lẳng lặng nâng cốc theo. Bàn tay của nàng còn run rẩy nhiều hơn là người
ta tưởng.
*
Lúc đó vừa mới tám giờ tối. Một chiếc xe hơi lặng lẽ băng qua đại lộ Ginza
bây giờ đã sáng lóa như một biển đèn đuốc để đi về hướng Shiba. Trên xe
có một người đàn bà đang dấu kín mặt mình sau tấm voan đen.
Tháng 6 năm Minh Trị 13 (1910)
(Dịch xong ngày 2/2/2006)
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần III
HANAKO
HANAKO
(Hanako)
Auguste Rodin bước vào chỗ xưởng ông làm việc.
Ánh sáng ban mai tràn đầy gian phòng rộng. Cái nơi mang cái tên Hôtel
Brion (19) này ngày xưa là ngôi biệt thự sang trọng do một nhà phú hào cất
lên nhưng cho đến gần đây nó đã trở thành tu viện của xơ dòng Thánh Tâm.
Có lẽ các bà nữ tu Sacré Coeur (20) này dùng gian phòng này làm nơi tụ
họp mấy em bé gái trong khu Faubourg Saint-Germain (21) để tập thánh ca.
Có thời các cô bé ấy đã đứng sắp hàng ngang, hé những cánh môi hồng ca
hát như lũ chim non trong tổ líu lo khi thấy bóng chim mẹ quay về.
Giờ đây phong cảnh huyên náo ấy không còn nữa.
Thế nhưng đang có một sự sống dưới hình thức khác ngự trị gian phòng.
Đó là một sự huyên náo không lời. Tuy không phát thành tiếng nhưng sự
sống này mãnh liệt, tinh vi và linh động một cách khác thường.
Trên mấy cái bục cao có đặt những tảng đất phèn (22) . Ở mấy cái bục khác
là những khối cẩm thạch. rắn chắc. Bàn tay của Rodin với thói quen bắt đầu
nhiều việc cùng một lúc, hết mó chỗ này mó chỗ khác thì thấy có gì gợi
hứng cho mình, làm cho cụm tượng có cái còn trễ tràng có cái đã tiến khá
xa. Dưới ánh nắng mai, chúng trông chẳng khác nào trăm thứ cây cỏ đua
chen sinh sôi giữa thiên nhiên. Con người Rodin có một sức tập trung nghị
lực đáng sợ. Ngay trong khoảnh khắc vừa mới bắt tay vào việc, ông đã có
thái độ như thể đã làm liên tục từ hàng giờ trước.
Thần thái khoan khoái, Rodin nhìn hết một lượt một lô tác phẩm đang nặn
dở dang. Khuôn mặt ông rộng bát ngát, ở giữa sống mũi dựng thẳng đứng.
Chòm râu bác xum xuê bao quanh hàm.
Có ai gõ cộc cộc ngoài cửa.
-Entrez! (23)
https://thuviensach.vn
Giọng trầm đầy nội lực, không có vẻ già nua chút nào, âm vang trong
không khí của gian buồng..
Người mở cửa bước vào là một gã đàn ông gầy gò trạc ngoài ba mươi tuổi
với mái tóc nâu đen, trông tựa tín đồ đạo Do Thái. Anh ta cho biết mình
đưa Mademoiselle Hanako (24) đến như đã hứa.
Từ khi thấy anh ta bước vào cho đến khi nghe anh ta nói, sắc mặt của
Rodin vẫn không có gì thay đổi.
Có lần ông đã gặp nàng vũ công tháp tùng tù trưởng Kambodscha (25) qua
thăm Paris. Nhìn bàn tay bàn chân thon thả và những cử động thanh nhã
của cô, ông cảm thấy có gì lôi cuốn và mê hoặc lòng người. Lúc đó ông có
thảo vội vài bức dessins (26) hiện vẫn còn giữ. Như thế mới biết dân tộc
nào cũng có nét đẹp của họ. Rodin tin rằng cái đẹp đó thể hiện ra tùy con
mắt người nhìn biết khám phá nó. Cho nên khi nghe tin dạo này có một nữ
nghệ sĩ variété (27) gốc Nhật Bản tên là Hanako đang ra mắt, ông đã nhờ
người thầu Hanako trình diễn đưa cô ta đến gặp mình.
Gã đàn ông vừa mới đến là ông bầu, imprésario của cô ta.
- Mời cô ấy vào đây cho tôi.
Rodin nói thế thôi. Ngay cả việc chỉ ghế mời anh ta ngồi, Rodin cũng
không làm. Không nhất thiết vì lúc đó ông đang bận tay. Ông bầu ý tứ dò
hỏi:
- Thưa cụ, tôi có dắt theo một thông dịch viên.
- Ai thế? Người Pháp à?
- Thưa không, Nhật ạ. Anh này là thực tập sinh ở L?Institut Pasteur (28).
Nghe Hanako cho biết cụ bảo đến gặp nên anh ta xung phong thô...
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư
tưởng khai sáng
Nguyễn Nam Trân
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Phần I
Phần II
Phần III
Phần IV
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần I
Mori Ogai (ảnh trích từ Sigma Shin Kokugo Binran, 2002)
Văn học Nhật Bản trong giai đoạn sau của thời Minh Trị (1868-1926) được
đại diện bằng những nhân vật hoặc đứng bên trong hay bên ngoài nhóm
"Bạn Bút Nghiên" (Kenyuusha, Nghiễn Hữu Xã), một văn đoàn với văn
phong cổ điển kết hợp lại từ năm 1885. Ba người đứng đầu Kenyuusha là
Ôzaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp, 1867-1903), Yamada Bi.myô (Sơn Điền,
Mỹ Diệu, 1868-1910) và Ishibashi Shi.an (Thạch Kiều, Tư Án, 1867-1927).
Đứng ngoài nhóm và tượng trưng cho trào lưu văn học mới có Mori Ôgai
(Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922), Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn,
1872-1943) và Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894).
Thế nhưng các nhà viết văn học sử đều nhìn nhận chỉ có Mori Ôgai, tuy
xuất hiện về sau, mới là cái bóng lớn cùng với Natsume Sôseki đã bao trùm
lên văn học suốt thời mở nước, từ Minh Trị mãi đến Đại Chính.
Bước đầu của Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922):
Mori Ôgai người Shimane, tỉnh duyên hải nhìn ra biển Nhật Bản, sinh ra
trong một gia đình đời đời làm nghề thầy thuốc cho lãnh chúa, lớn lên theo
https://thuviensach.vn
truyền thống đó, vào Đại Học Đế Quốc Tôkyô học y khoa, Ông tốt nghiệp
năm 1881 và trở thành quân y của lục quân. Năm 1884, ông được gửi đi
học về khoa vệ sinh ở Berlin (Đức).
Khi mới từ nước ngoài về (1888) Mori Ôgai đã nhận thấy trong khi Âu
Châu đã bước vào thời cận kim thì Nhật Bản hãy còn ở trong thời tiền cận
kim nên đã ra sức hoạt động để kéo văn học Nhật tiến lên mau. Ông và em
trai, Mori Atsujirô (Sâm, Đốc Thứ Lang), lập ra Shiragami-zôshi (nguyệt
san văn học Bờ Giậu, 1889) để "định hướng cho một dòng văn học đang
chảy buông tuồng". Ông đang xúc tiến hoạt động có tính chất khai sáng cho
văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung thì vì bổn phận, phải đình bản
tạp chí để tùng quân tham gia trận chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95). Ông
đã đăng trên tạp chí đó phần đầu "Người ứng khẩu thành thơ" (Sokukyô
Shijin, Tức Hứng Thi Nhân,?1902), tác phẩm rất ăn khách do ông dịch từ
Improvisatoren (1835), tiểu thuyết trường thiên của văn hào Đan Mạch
Andersen nói về cuộc đời ái tình và sự nghiệp nhà thơ YÙ Antonio, người
phải đối đầu với nhiều nghịch cảnh trong tình yêu và tình bạn.
Về mặt sáng tác, ông đã viết tác phẩm đầu tay Maihime (Nàng vũ công,
1890) dưới hình thức một thiên hồi ký với lời văn thanh nhã mô tả mối tình
giữa một sinh viên Nhật tên Ôta Toyotarô (Thái Điền, Phong Thái Lang) và
nàng vũ công ba-lê (ballet dancer) nghèo tên Elise mới 16, 17 tuổi với bối
cảnh thành phố Berlin cuối thế kỷ 19. Toyotarô bắt buộc phải lựa chọn giữa
sự nghiệp và tình yêu, một được một mất. Chàng đã hy sinh tình yêu để
đuổi theo danh vọng, về nước rồi sau đó tiếc hận khôn nguôi vì khi vừa
khám phá được bản ngã, tìm được tự do ở nước ngoài thì đã bị ràng buộc vì
những qui luật của xã hội cũ ở quê hương. Trong đời thật, Ôgai sau khi đi
Đức học 5 năm trở về, có người con gái Đức cũng tên Elise theo chân ông
đến Nhật. Sau đó, ông đột nhiên cưới con gái Trung Tướng Akamatsu
Noriyoshi tên là Toshiko, nhưng vừa có con xong thì họ ly hôn. Ông không
hề cho biết lý do sự thất bại của cuộc hôn nhân nhưng nhiều thuyết cho
rằng nó bắt nguồn từ thái độ trịch thượng của bên nhà vợ đối với gia đình
ông.
Văn chương trong Maihime thanh nhã, tác giả kết hợp được lối hành văn
https://thuviensach.vn
mới mẻ của Tây Phương, cùng lúc biết sử dụng Hán văn một cách điêu
luyện, làm toát ra được hương vị trữ tình của Tây Âu cận đại. Với tác phẩm
tiêu biểu nầy, Ôgai đã thật sự thổi một luồng gió mới vào văn đàn thời
Minh Trị.
Cùng năm đó, ông viết Utakata no Ki (Truyện người ca kỹ) và năm sau lại
cho ra đời Fumizukai (Người đưa thư). Cả ba tác phẩm nầy có đặc điểm là
đều nhuốm màu tình cảm lãng mạn cá nhân, được giới bình luận gọi chung
là "bộ ba tác phẩm (trilogy) viết về nước Đức" của ông.
Đặc biệt thời điểm này được đánh dấu bằng hoạt động khai sáng có tính
cách tích cực của Ôgai. Tuy ông bàn luận khai sáng trong nhiều lãnh vực
nhưng qua việc sáng lập tạp chí văn nghệ Shiragami-zôshi (Bờ Giậu), ông
đã có công mở một diễn đàn cho những cuộc bút chiến về tiểu thuyết, ngoài
ra, thông qua phiên dịch, lại giới thiệu được nhiều danh tác ngoại quốc đến
với độc giả Nhật Bản.
Thời sáng tác sung mãn của Mori Ôgai
Sau khi góp mặt với văn đàn vào những năm Minh Trị thứ 20 (1887-97),
tiểu thuyết gia Ôgai gác bút một thời gian để tiếp tục ngành quân y. Ông đã
đạt được địa vị cao nhất trong nghề: Tổng cục trưởng hệ thống quân y của
lục quân. Hai năm sau đó, ông viết "Nửa ngày" (Hannichi, 1909), tiểu
thuyết diễn tả bằng lối văn nói với chủ đề sự xung đột giữa mẹ chồng nàng
dâu, đánh dấu sự trở về với văn đàn của mình, rồi từ đó sáng tác không
ngừng.
Để chống đối lại chủ nghĩa tự nhiên vốn xem tính dục như trung tâm của
cuộc sống con người, ông viết "Tính dục" (Vitas Sexualis, 1909) mô tả một
cách không ngượng ngùng cuộc sống tính dục của nhân vật trong truyện
(có lẽ là chính bản thân) từ thuở bé kể cả việc đi lại với gái làng chơi xóm
chị em ở Yoshiwara... Tác phẩm này đã bị cấm lưu hành một thời. Ông
mượn chi tiết của cuộc sống chung quanh mình đưa vào một số đoản thiên
trong đó có "Cuộc thảo luận" (Kondankai) và "Đang Trùng Tu"
(Fushinchuu, 1910). Ông còn viết "Tuổi Trẻ" (Seinen, 1910-11) nói về lớp
thanh niên thời đó, có lẽ lấy cảm hứng từ "Chàng Sanshirô" (Sanshirô, Tam
Tứ Lang) của Sôseki, một tác phẩm cũng đề cập đến tâm trạng thế hệ mới
https://thuviensach.vn
thời Minh Trị. "Ngỗng Trời" (Gan, 1911-1913) mô tả tâm lý và tình cảm
của một thiếu nữ, O-Tama (Ngọc), con gái nhà bán kẹo, thấy bản thân gặp
cảnh tù túng như lũ chim mình nuôi trong lồng khi cô phải lấy Suezô,
người làm nghề cho vay nặng lãi, ông chồng già mà mình không thương.
Okada, anh sinh viên trường thuốc hàng ngày đi đến trường qua dưới cửa
nhà cô trên con dốc mang cái tên định mệnh là... Muenzaka (Dốc Vô
Duyên) mới là người cô thầm yêu nhưng những run rủi của cuộc đời đã làm
họ không bao giờ được gần nhau. Ngay dịp may gặp gỡ cuối cùng trước khi
Okada sang Đức du học cũng bị tác giả (nhân vật xưng tôi trong truyện và
là bạn của Okada) vô tình phá đám. Trên đường về, Okada giận dữ ném
hòn đá nhỡ làm chết con ngỗng trời đang bơi trong hồ như thể giết mất một
tự do.
Ở giai đoạn sáng tác này, nói chung, đề tài của Ôgai rất phong phú.Tuy vậy,
nơi ông, không còn tìm đâu ra hình bóng con người tranh đấu cho tinh thần
khai sáng ngày xưa, có chăng là một thái độ "đứng bên lề" (bôkansha), "vui
chơi" (asobi) và "cam phận" (teinen). Thái độ nầy một phần cũng vì ở thế
đứng của ông giữa chốn quan trường, phải đau khổ chứng kiến thảm cảnh
của những nhà văn bị kết án "đại nghịch" bởi một nhà nước Minh Trị
phong kiến, và bị đem ra xử hình vì chủ trương và ý kiến của mình (1).
Nổi khổ ấy ông đã lần lượt trình bày trong các tác phẩm nối liền với nhau
như "Dường như thế đấy" (Kanoyôni, 1912) và "Dưới cái chùy" (Tsui-ikka,
1913). Trong đó, ông nói về Gojô Hidemaro, một thanh niên quí tộc từng đi
du học, hấp thụ được tính hợp lý của Tây phương (ví dụ như thuyết tiến hóa
của Darwin mà thời đó coi là "tư tưởng nguy hiểm"), đứng trước cái không
hợp lý của Nhật Bản (như thần thoại về nguồn gốc linh thiêng của các thiên
hoàng) đang được nhà nước thổi phồng, tìm ra sự mâu thuẫn giữa hai bên
nên đâm ra đau khổ. Kết cục, điều nói trên mang đến cho ông ý nghĩ là
đành phải chấp nhận những nguyên lý của tôn giáo, khoa học, triết học, vốn
không kiểm chứng được một cách cụ thể, như là những thực thể. Cái cách
nhìn sự vật "dường như thế đấy" (2) của ông xem một việc xảy ra như sự
thực mà không cần tìm bằng cớ về sự hiện hữu của nó. Ông thử tìm cách
dựa vào giả thuyết này để tiếp tục sống.
https://thuviensach.vn
Thế nhưng mang một lập trường như vậy mà còn viết những tác phẩm có
tính hiện đại là việc không còn làm được dễ dàng nữa nên ông chuyển qua
loại tiểu thuyết lịch sử. Nhân cảm xúc vì cái chết của đại tướng Nogi
Marasuke (Nãi Mộc, Hy Điển, 1849-1912) người tự sát để được tháp tùng
chủ mình là thiên hoàng Meiji (1852-1912), về bên kia thế giới, ông viết
hai tác phẩm mang chủ đề "tự sát để theo chủ" (tuẫn tử ) là "Thư trối trăn
của Okitsuyaemon" (Okitsuyaemon no isho, 1912), "Một nhà họ Abe" (Abe
ichizoku,1913) rồi sau đó là những danh tác về lịch sử như "Truyện của
Sanshô, người kể dạo" (Shanshô Dayu, 1915) "Thuyền giải tù"
(Takasebune, 1916).
Người Viết Tiểu Thuyết Lịch Sử
Đến lúc ấy, Ôgai còn viết song song hai thứ tiểu thuyết lịch sử, một là " sát
với lịch sử" và hai là "tách khỏi lịch sử".Với Shibue Chôsai (Sáp Giang,
Trừu Trai, 1916), đăng trên báo ở Ôsaka và Tôkyô, ông kể lại cuộc đời nhà
y khoa và tư tưởng thời Edo, Shibue Chôsai (1805-1858), rồi từ đó triệt để
theo con đường "sát với lịch sử", cắt xén mọi sự kiện có tính cách tiểu
thuyết mà đi vào hẳn lãnh vực truyện ký. Con người của Chôsai "lòng chứa
đầy đạo nghĩa, đẩy lùi cám dỗ đến từ bên ngoài, lúc nào tâm thần cũng yên
ổn, biết đợi thời cơ, lúc cần tiến thì tiến, phải thoái thì thoái" được ông coi
như là một đàn anh mẫu mực trong công việc khảo chứng khoa học của
mình. Trong tiểu thuyết nầy, Ôgai như đặt lại vấn đề: một cuộc duy tân hấp
tấp và hời hợt (3) có thể làm mất đi những giá trị cổ truyền quí báu tượng
trưng bằng nhân vật Chôsai và để lại một khoảng trống tinh thần mà Nhật
Bản không cách gì bù đắp vào được.
Sau đó, ông còn biên soạn Izawa Ranken (4) (Y Trạch, Lan Hiên, 1916) và
Hôjô Katei (5) (Bắc Điều, Hà Đình, 1917-20), xem việc viết "truyện ký lịch
sử" như lối thoát cuối cùng của nhà văn.
Nhà Dịch Thuật và Khai Sáng
Ôgai cũng đóng một vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thơ Tây
Phương với người Nhật. Sau khi du học ở Đức về, ông đã cùng với Ochiai
Naobumi (6) và Koganei Kimiko (Tiểu Kim Tỉnh, Hỷ Mỹ Tử) lập ra tổ
chức "Tiếng Nói Mới" Shinseisha (Tân Thanh Xã) viết tắt là S.S.S., cho ra
https://thuviensach.vn
đời tập thơ dịch "Vang Bóng"(Omokage, 1889) trong đó họ dịch thơ từ chữ
Hán, từ thơ Tây Phương (của Heinrich Heine và Goethe) cũng như một tiết
cổ văn trong Truyện Heike. Bài thơ của Goethe (1749-1832) nhan đề
"Khúc hát của nàng Mignon", một mỹ nhân bạc mệnh, thấy trong tiểu
thuyết mang tên "Thời học việc của Wilhelm Meister (Wilhelm Meistes
Lehrjahre), với hình thức 10/10 âm tiết khác với thể 5/7 truyền thống của
người Nhật. Trong đó còn có thơ trích từ Faust (1774-1831), kịch thơ gồm
hai tập của Goethe nói về cuộc đời hứng thú, đầy bi kịch trong tình yêu và
cũng như cuộc đổi chác giữa học giả Faust và ác quỉ. Ôgai đã dịch từ
nguyên văn tiếng Đức theo lời yêu cầu của Bộ Giáo Dục và hoàn tất năm
1913. Khi xuất bản, sách bán rất chạy và gây được tiếng vang lớn.
Khác với việc đeo đuổi lý tưởng nhân bản của Natsume Sôseki, Ôgai là một
nhà văn trí thức, đứng bên ngoài dòng suy tưởng đó và gắn bó với truyền
thống tôn quân trọng đạo nhiều hơn. Về bút pháp, ông rõ ràng, chính xác và
chi tiết như một nhà giải phẫu, có lẽ vì lý do nghề nghiệp. Ông được đánh
giá như một kiện tướng của phong trào dùng văn nói để viết tiểu thuyết,
đóng góp nhiều cho sự phát triển của tiếng Nhật hiện đại. Ông từng viết
kịch theo phong cách Âu Tây và đồng thời cũng yêu chuộng sân khấu cổ
điển Kabuki. Ngoài ra, Ôgai còn để lại dấu ấn trên phương pháp luận của
các nhà phê bình văn học thời Minh Trị. Trong lãnh vực này, theo Ivan
Morris, ông tỏ ra chịu ảnh hưởng mỹ học của triết gia duy lý Đức Karl
Eduard von Hartmann (1842-1906). Tuy không có nhiều độc giả và thu hút
đệ tử lúc sinh thời như Sôseki, Ôgai được lớp nhà văn có tiếng tăm đi sau
với văn phong khác nhau từ Tanizaki, Akutagawa, Kawabata đến Mishima
đồng tôn làm thầy trong lãnh vực văn chương.
*
Sau khi rời khỏi chức vị Tổng Cục Trưởng Cục Quân Y, Ôgai vẫn còn là
viện trưởng Viện Mỹ Thuật Đế Quốc và Viện Bảo Tàng Đế Quốc cho đến
lúc qua đời vào năm 1922, thọ 60 tuổi. Có điều lạ là khi chết, ông đã để lại
di chúc từ chối tất cả những vinh dự mà chức phận của ông có thể dành cho
và chỉ xin khắc đơn sơ trên mộ bia tên cúng cơm của mình (Mori Rintarô =
Sâm, Lâm Thái Lang) để được chết như một người thường dân xứ
https://thuviensach.vn
Shimane, quê nhà của ông.
Ba đoản thiên của một người viết văn thời mở nước
Khoảng giữa năm 1971-72, nhà xuất bản Iwanami ở Tôkyô đã cho ra đời
toàn tập Mori Ôgai gồm 38 cuốn mà trong đó ba truyện được ra chọn để
dịch vì vừa thật ngắn, vừa có giá trị tiêu biểu.
Trước hết là "Đang Trùng Tu" (Fushinchuu, 1910), tác phẩm Ôgai viết năm
48 tuổi. Ông xem nó nó như một Ich Roman (tiểu thuyết tự thuật) của
mình, trong đó nhân vật tham tán ngoại giao Watanabe, đã gặp lại một phụ
nữ ngoại quốc, người yêu cũ của anh ta, trong khung cảnh đang xây dựng
dở dang của thành phố Tôkyô sau khi chiến tranh Nhật Nga (1904-05) vừa
chấm dứt với câu nói thời danh: "Đây là xứ Nhật mà!", đúc kết những hạn
chế và tiêu cực của một quốc gia đang muốn chen chân với liệt cường. Nó
như thầm bảo người phụ nữ ngoại quốc trong truyện không hiểu về Nhật
Bản cũng như Nhật Bản lai căng của thời Minh Trị chưa hiểu gì về ngoại
quốc, nếu hai bên có tìm đến với nhau thì chỉ là một cuộc hôn nhân tạm bợ.
Đất nước này còn cần một thời gian trùng tu để chuẩn bị tốt cho cuộc gặp
gỡ Đông Tây. Truyện này còn có thể xem là đoạn tiếp nối và lời trần tình
cho thái độ của nhân vật chính trong Maihime (Nàng Vũ Công, 1910), anh
chàng sinh viên du học Toyotarô đã bỏ rơi người yêu, một cô gái ngoại
quốc để về nước lấy vợ.
Hanako (1910), nhan đề của truyện thứ hai mang tên một người con gái
Nhật, Fukuhara Hanako. Cô cũng là một vũ công ba-lê, thực sự đã đến
Paris và có dịp làm người mẫu cho nhà điêu khắc Auguste Rodin (18401917). Tiểu phẩm chỉ có vài trang này của Ôgai nhằm đánh giá cao vẻ đẹp
Đông Phương của người con gái Nhật Bản, một cái đẹp chỉ có bậc đại sư
phóng khoáng như Rodin mới có thể cảm nhận trong khi chính đồng bào
của cô lại không nhìn thấy vì họ còn bị che khuất bởi những thành kiến về
giai cấp và về quan điểm mỹ thuật.
Takasebune (Thuyền Giải Tù, 1916), tác phẩm thứ ba được giới thiệu dưới
đây, là một truyện ngắn lịch sử Ôgai viết năm 54 tuổi, đăng lần đầu trên tờ
Chuô Kôron (Trung Ương Công Luận). Tác phẩm phản ánh những dằn vặt
nội tâm của tác giả, vừa là nhà văn có tư tưởng mới mẻ vừa là một công
https://thuviensach.vn
chức cao cấp trong chính quyền, đứng trước những mâu thuẫn của xã hội
mình đang sống mà không tìm ra lời giải đáp. Truyện cũng khơi gợi lên
một vấn đề y học mà ngày nay chúng ta còn đang bàn cãi: quan điểm đạo
đức về hành động trợ tử (euthanasia ).
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần II
ĐANG TRÙNG TU
ĐANG TRÙNG TU
(FUSHINCHUU) (7)
Viên tham tán Watanabe xuống xe điện trước rạp Kabuki-za.
Tránh mấy vũng nước còn đọng đây đó trên con đường vừa mới ngớt mưa,
ông men theo bờ kênh qua xóm Kobiki hướng về công thự Bộ Viễn Thông,
vừa đi vừa dáo dác nhìn, thử dò xem góc phố nào có để tấm bảng cửa hiệu
mà nhất định mình có lần trông thấy.
Con đường ít ai qua lại dù có năm sáu người mặc lối Âu giống như đám
công chức vừa tan sở ra đang nói chuyện hơi ồn ào. Một cô gái mặc
kimono choàng thêm cái áo ngắn sặc sỡ, chắc là dân làm ở một trà đình
đang chạy công việc sang bên hàng xóm, hấp tấp suýt đâm vào ông. Chiếc
xe kéo nào đó cứ buông mui sùm sụp từ đằng sau bỗng vượt lên trước.
Rốt cuộc Watanabe cũng tìm ra được cái bảng, hơi nhỏ một chút, có kẻ theo
chiều ngang (8) mấy chữ "Ô-ten Seiyôkan". Mặt trước của khách sạn nhìn
về hướng con đường dọc bờ kinh được che bằng những thanh ván. Lối vào
bên hông nằm trên con đường vắng. Hai bên tả hữu là hai cầu thang châu
đầu với nhau, tạo thành khung tam giác.Cuối hai bậc thang có cửa kính
chắn lối. Sau khi lưỡng lự không biết nên vào từ phía nào, Watanabe thử
bước lên cầu thang thì thấy trên cánh cửa bên trái có ghi chữ "Cửa Vào".
Watanabe cẩn thận chùi đôi giày khá lấm bùn rồi mở cánh cửa kính. Bên
trong, ông thấy ở bên hành lang rộng lát ván, người ta có để cái cọ lau giày
trải thêm tấm thảm chùi chân giống như ngoài cửa. Watanabe nghĩ thầm
ngoài mình ra hãy còn có những người khác mang giày bẩn vào đây nên lại
chùi chân thêm lần nữa. .
Bốn bề vắng vẻ, chẳng một bóng người. Chỉ có tiếng động ồn ào ở nơi nào
cách đó không xa vọng tới.Hình như là tiếng thợ đang sửa nhà. Nhớ lại
mấy thanh ván che vòng quanh bên ngoài khi ngoài khi nãy, mới thấy đúng
https://thuviensach.vn
là người ta đang làm công việc trùng tu.
Vì không thấy ai ra đón mình, Watanabe tiếp tục đi thẳng vào trong nhưng
đến cuối hành lang, lúc còn không biết nên quẹo phải hay trái thì mới thấy
có người ra vẻ bồi bàn đang lửng thửng tới nơi.
-Dạ hôm qua tôi có gọi điện thoại giữ chỗ...
-Vâng, cho hai người phải không ạ. Xin mời ông lên lầu hai.
Anh ta chỉ cho Watanabe lối bên tay mặt nơi có cái thang dẫn lên gác. Sở dĩ
anh ta biết là người khách mới đến đã đặt bàn hai chỗ bởi vì trong thời gian
đang trùng tu, khách sạn hầu như đóng cửa. Bước đến khu vực này, dần dần
mới nghe rõ tiếng búa đang đóng đinh.
Lên hết cầu thang đã thấy người bồi bước theo ngay. Chưa biết họ sắp cho
mình phòng nào, Watanabe mới quay lại sau lưng hỏi thăm:
- Ở đây coi bộ khá ồn đó nghe!
- Thưa không sao đâu. Năm giờ thợ họ về rồi. Lúc quí khách dùng cơm là
đã hết ồn. Xin vui lòng đợi ở đây một chút.
Anh ta rảo bước ra đằng trước, mở cánh cửa phòng nhìn về hướng Đông.
Nhìn vào mới thấy đó là một cái xa-lông hơi rộng nếu chỉ chứa hai người
khách. Họ đã đặt đó đây ba cái bàn nhỏ, mỗi bàn đều có bốn năm chiếc ghế
vây quanh.Dưới cánh cửa sổ trổ ra hướng Đông có một chiếc ghế xô-pha.
Bên cạnh là chậu nho kiểng cao độ ba tấc buông lơi chùm quả màu xanh
trong căn phòng ấm cúng.
Watanabe nhìn ngang nhìn dọc một vòng thì người bồi bàn đang đứng chờ
bên cánh cửa đã mở của căn buồng bên tay trái và bảo "Thưa đây là chỗ
ông dùng cơm". Căn buồng này mới thật vừa vặn. Bàn ăn đã bày biện sẵn
sàng, một lẳng lẵng hoa kết bằng hoa lệ quyên (9) và hoa đỗ quyên (10) rất
mỹ thuật được đặt ở giữa. Trên bàn có hai cu-ve (11) đối mặt nhau. Phòng
mới đúng là dành cho hai thực khách, nếu đặt sáu người vào đây thì hơi
chật.
Watanabe ra chiều vừa ý, quay lại xa-lông. Người bồi bàn đã rời phòng ăn
để đi về phía nhà bếp ngay nên bây giờ là lần đầu tiên Watanabe ngồi một
mình. Bỗng tiếng búa lớn búa con đột nhiên im bặt. Ông lấy đồng hồ ra
xem mới biết đã năm giờ chiều. Nghĩ thầm từ đây đến giờ hẹn hãy còn
https://thuviensach.vn
được nửa tiếng, Watanabe cắt giấy niêm phong hộp thuốc để trên chiếc bàn
nhỏ, lấy một điếu xì gà, cắt đầu và châm lửa
Có điều lạ là Watanabe không có tâm lý mình đang chờ đợi chút nào cả.
Ông còn như không cần nhớ cái người mình đang đợi là ai nữa. Cho dầu
một khuôn mặt nào xuất hiện từ đằng sau cái lẵng hoa, có lẽ ông cũng
chẳng buồn biết đến. Và cũng tự hỏi tại sao mình trở thành hững hờ đến
vậy.
Watanabe vừa phì phà điếu xì gà, đến mở cánh cửa sổ bên góc phòng có đặt
chiếc xô-pha để ngắm phong cảnh bên ngoài. Ngay dưới của sổ, ông thấy
rất nhiều thanh gỗ chất lên bên nhau. Đây mới đúng là mặt tiền khách sạn.
Bên kia bờ con kênh đầy ắp nước và hầu như ngừng chảy là mấy ngôi nhà
dân, có lẽ chỗ người ta dùng để hẹn hò. Trên đường không có bóng người,
ngoại trừ một thiếu phụ đang địu con đứng lơ đãng trước cửa một trong
những ngôi nhà ấy. Xa hơn nữa về phía tay mặt, ngôi dinh thự đồ sộ dùng
làm Sở Tư Liệu của Bộ Hải Quân với màu gạch đỏ vươn cao lên choán hết
tầm mắt.
Watanabe ngả lưng tựa ghế xô-pha, đảo mắt nhìn quanh xa-lông. Ở một đôi
chỗ trên tường có treo vài cuốn tranh Nhật. Chúng được xếp đặt một cách
tùy tiện, không ăn khớp với nhau chút nào: bên cạnh bức có chim oanh đậu
trên cành mơ là tranh vẽ sự tích chàng ngư phủ Urashima (12) và tranh
chim ưng. Ông thấy bức nào khổ cũng hẹp mà không đủ dài, lại treo từ chỗ
thật cao trên tường nên tưởng chừng chúng bị xén mất khúc dưới.Trên cánh
của lối dẫn vào phòng khách lại có lộng khung một bản kinh văn do vị giáo
chủ nào đó viết bằng lối chữ cổ. Nhật Bản thật không phải là một quốc gia
có óc nghệ thuật!
Trong một chốc, đầu óc trống rỗng, Watanabe không nghe không nhìn gì
cả, chỉ hút thuốc và để mặc thân thể lâng lâng trong khoái cảm.
Từ phía hành lang có tiếng chân và tiếng nói chuyện vọng tới. Cánh cửa
mở. Người mà Watanabe chờ đợi đã đến. Thiếu phụ đội một cái mũ rạ rộng
vành kiểu Anne-Marie có đính chuỗi hạt. Nàng mặc chiếc áo dài tay màu
xám mà từ phía ngực trở xuống là một tấm áo nịt bằng vải ba-tít trắng có
đường thêu. Chiếc váy cũng cùng màu xám. Thiếu phụ cầm trên tay cái dù
https://thuviensach.vn
Tây bé có viền tua, trông như món đồ chơi. Mặt Watanabe bất giác điểm
một nụ cười. Ông bật dậy khỏi chiếc xô pha và ném điếu xì gà vào cái gạt
tàn. Người đàn bà vừa đến quay đầu ngó người bồi bàn đi theo còn đang
đứng khựng ở chỗ cửa vào, xong đưa mắt nhìn Watanabe. Hai con mắt to
màu hạt dẻ của những cô nàng tóc nâu. Đó là đôi mắt ngày xưa Watanabe
đã được nhìn nhiều lần nhưng bây giờ trên đường viền quanh mắt còn đánh
thêm quầng màu hoa cà bề ngang bằng một lóng tay, cái mà ngày xưa
không thấy có.
-Xin lỗi đã bắt anh đợi lâu.
Nàng nói bằng tiếng Đức. Lời lẽ hững hờ, và với một cử chỉ cũng không
hợp tình hợp cảnh, nàng chuyền chiếc dù qua bàn tay trái, bình thản đưa
bàn tay phải có đeo găng cho ông bắt. Watanabe nghĩ thầm nàng đang đóng
kịch trước mặt người bồi bàn nhưng ông vẫn lịch sự nắm lấy mấy ngón tay
thiếu phụ chìa ra và quay lại bảo anh bồi:
-Khi nào cơm nước sẵn sàng thì cho biết nhé.
Người bồi bàn quay ra và đi khuất.
Thiếu phụ ném bừa cái dù lên mặt xô-pha, buông người xuống ra chiều mệt
mỏi. Nàng cứ chống hai khuỷu tay lên thành bàn, nàng nhìn khuôn mặt
Watanabe và không nói năng gì. Watanabe kéo ghế lại sát bên bàn rồi ngồi
xuống. Mãi một lúc sau thiếu phụ mới lên tiếng:
- Ở đây vắng vẻ quá anh nhỉ?
- Họ đang trùng tu mà. Mới hồi nãy còn làm việc ồn ào kinh khủng.
- Thế hở anh. Không biết sao không khí chỗ này làm em bồn chồn quá. Bề
gì cái số em không bao giờ ở yên một nơi.
- Sang đây từ hồi nào?
- Em vừa đến hôm kia thì ngày hôm qua tình cờ gặp anh giữa đường đó.
- Đi công việc gì thế?
- Em có mặt ở Vladivostok (13) từ cuối năm cơ.
- Thế vẫn trình diễn trên sân khấu trong cái ô-ten ấy à?
- Vâng, phải.
- Chắc không đi một mình đâu nhỉ? Hai mình à?
Nàng hơi ngập ngừng:
https://thuviensach.vn
- Có một mình hai mình gì đâu anh. Em đi với người mà anh đã biết đó!
- Vẫn cái anh chàng Ba-Lan? Thế thì em thành Kojinskaya (14) rồi hở?
- Ghét anh quá! Kojinsky chỉ đệm đàn cho em hát thôi chớ có gì đâu!
- Làm gì chỉ có chừng đó!
- Thật ra hai người đi đường chung với nhau, có chuyện muốn tránh cũng
không được. Bảo hoàn toàn không thì đâu có lý.
- Anh biết thừa đi. Thế em dắt hắn theo qua Tôkyô đấy?
- Vâng. Bọn em trọ ở Atagoyama.
- Thế hắn chịu thả cho em đi gặp anh à.
- Ảnh chỉ theo đệm đàn lúc em hát thôi.
Nàng dùng chữ Begleiten, có nghĩa đệm đàn nhưng cũng có nghĩa là đi
kèm vào những dịp khác.
- Khi em nói có thấy anh ở Ginza thì ảnh bảo thế nào cũng xin gặp anh.
-Thôi thôi, cô cho tôi xin!
- Anh đừng lo, ảnh còn nhiều tiền, không vay mượn anh đâu!
- Nhiều thì nhiều nhưng nếu ở lại đây thì rồi cũng tiêu hết. Mai mốt hai
người còn tính đi đâu?
- Bọn em định sang Mỹ. Mọi người bảo đừng trông mong gì ở Nhật nên em
không hy vọng tìm ra việc làm ở đây.
- Em nghĩ đúng. Ngoài Nga, Mỹ là nước đáng đi đấy. Nhật Bản hãy còn
chậm tiến. Em thấy không, đang trùng tu đầy ra kìa!
- Eo ơi, nếu anh nói như thế thì khi qua Mỹ em sẽ mách với họ đó là ý kiến
của một người trí thức Nhật Bản cho coi. Của một người thuộc giới cầm
quyền nữa kia chứ.Có phải anh ở trong chính quyền không nào?
- Phải, trong chính quyền.
- Cung cách lại đàng hoàng?
- Khá đàng hoàng! Có thể nói là đang trở thành kẻ sống giả dối (15) nữa.
Hôm nay hẹn ăn cơm tối với em là ngoại lệ đó!
- Cảm ơn nhiều nghe anh.
Nàng chìa bàn tay qua khỏi mặt bàn. Bàn tay ấy nãy giờ đã cởi ra khỏi cái
găng có đơm vài cái cúc bấm. Watanabe trang trọng. nắm chặt lấy nó. Bàn
tay lạnh giá. Rồi cái bàn tay lạnh giá ấy vẫn để nguyên không chịu buông
https://thuviensach.vn
tay ông ra và đôi mắt vì có đánh quầng nên to hẳn, nhìn như chiếu thẳng
vào mặt ông:
- Có muốn em hôn cái không?
Watanabe làm bộ nhăn mặt:
- Đây là xứ Nhật mà!
Người bồi bàn không gõ trước mà cứ tự tiện mở cửa bước vào:
-Thưa, dọn cơm được chưa ạ?
- Đây là xứ Nhật mà!
Vừa nhắc lại câu nói một lần nữa, Watanabe đứng dậy, chỉ đường cho thiếu
phụ lối vào phòng ăn. Cùng lúc, ngọn đèn điện cũng bật sáng.
Thiếu phụ nhìn quanh căn phòng, vừa ngồi xuống cái ghế đối diện, vui vẻ
nói:
- Họ cho mình buồng riêng (16) !
Rồi hình như muốn xem phản ứng của Watanabe, nàng mới nhón vai lên để
thử nhìn ông ta vì lẵng hoa đặt giữa bàn làm ngáng mắt.
- Tình cờ may mắn thế thôi.
Watanabe trả lời như không có gì.
Người rót rượu sherry, người cắt dưa melon. Để tiếp có hai vị khách mà
những ba bồi bàn nên hơi thừa. Watanabe phê bình:
- Thấy mấy anh bồi này lăng xăng chưa?
- Họ không để ý để tứ gì cả hở anh.Trên khách sạn Atagoyama cũng giống
y hệt.
Thiếu phụ hơi khuỳnh tay cắt một miếng dưa đưa lên miệng vừa nói như
thế.
- Ở Atagoyama, hai ông bà bị họ phiền nhiễu lắm chứ gì?
- Coi kìa, anh lại hiểu ra đằng khác.Thôi, cũng được đi. Dưa này ngon đấy
chứ, anh!
- Bây giờ mà qua Mỹ thì thứ này sáng nào người ta cũng dọn đầy bàn.
Hai người vừa ăn cơm vừa nói với nhau toàn những chuyện không đâu.
Cuối cùng, bồi bàn dọn món xà-lách trái cây thập cẩm ra rồi rót xâm banh
vào cốc.
Thiếu phụ chợt lên tiếng hỏi:
https://thuviensach.vn
-Thế anh không thấy ghen chút nào sao hở anh?
Nàng nhớ lại ngày xưa sau khi ở Nhà Hát Trung Ương (17) ra, họ vẫn
thường ngồi đối diện như thế này bên bàn ăn của cái quán nằm trên vỉa hè
Bruhlsche Terrasse (18), lúc thì giận dỗi, lúc lại làm lành...Cho nên dầu
đang nói với nhau những câu chuyện vô nghĩa như bây giờ, nàng không
làm sao ngăn được dòng hồi tưởng. Định bụng sẽ nói chuyện một cách vui
vẻ bông đùa nhưng không hiểu sao giọng của nàng bất chợt trở thành trang
nghiêm và trong lòng không khỏi cảm thấy có gì tiếc hận.
Watanabe vẫn ngồi y nguyên, tay nâng cao cốc xâm banh cao khỏi lẳng
hoa, ông nói bằng một giọng rất rõ ràng:
-Kosinsky soll leben! (Chúc cho Kosinsky nhiều sức khỏe!)
Với một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt như đông cứng lại, thiếu phụ
lẳng lặng nâng cốc theo. Bàn tay của nàng còn run rẩy nhiều hơn là người
ta tưởng.
*
Lúc đó vừa mới tám giờ tối. Một chiếc xe hơi lặng lẽ băng qua đại lộ Ginza
bây giờ đã sáng lóa như một biển đèn đuốc để đi về hướng Shiba. Trên xe
có một người đàn bà đang dấu kín mặt mình sau tấm voan đen.
Tháng 6 năm Minh Trị 13 (1910)
(Dịch xong ngày 2/2/2006)
https://thuviensach.vn
Nguyễn Nam Trân
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng
Phần III
HANAKO
HANAKO
(Hanako)
Auguste Rodin bước vào chỗ xưởng ông làm việc.
Ánh sáng ban mai tràn đầy gian phòng rộng. Cái nơi mang cái tên Hôtel
Brion (19) này ngày xưa là ngôi biệt thự sang trọng do một nhà phú hào cất
lên nhưng cho đến gần đây nó đã trở thành tu viện của xơ dòng Thánh Tâm.
Có lẽ các bà nữ tu Sacré Coeur (20) này dùng gian phòng này làm nơi tụ
họp mấy em bé gái trong khu Faubourg Saint-Germain (21) để tập thánh ca.
Có thời các cô bé ấy đã đứng sắp hàng ngang, hé những cánh môi hồng ca
hát như lũ chim non trong tổ líu lo khi thấy bóng chim mẹ quay về.
Giờ đây phong cảnh huyên náo ấy không còn nữa.
Thế nhưng đang có một sự sống dưới hình thức khác ngự trị gian phòng.
Đó là một sự huyên náo không lời. Tuy không phát thành tiếng nhưng sự
sống này mãnh liệt, tinh vi và linh động một cách khác thường.
Trên mấy cái bục cao có đặt những tảng đất phèn (22) . Ở mấy cái bục khác
là những khối cẩm thạch. rắn chắc. Bàn tay của Rodin với thói quen bắt đầu
nhiều việc cùng một lúc, hết mó chỗ này mó chỗ khác thì thấy có gì gợi
hứng cho mình, làm cho cụm tượng có cái còn trễ tràng có cái đã tiến khá
xa. Dưới ánh nắng mai, chúng trông chẳng khác nào trăm thứ cây cỏ đua
chen sinh sôi giữa thiên nhiên. Con người Rodin có một sức tập trung nghị
lực đáng sợ. Ngay trong khoảnh khắc vừa mới bắt tay vào việc, ông đã có
thái độ như thể đã làm liên tục từ hàng giờ trước.
Thần thái khoan khoái, Rodin nhìn hết một lượt một lô tác phẩm đang nặn
dở dang. Khuôn mặt ông rộng bát ngát, ở giữa sống mũi dựng thẳng đứng.
Chòm râu bác xum xuê bao quanh hàm.
Có ai gõ cộc cộc ngoài cửa.
-Entrez! (23)
https://thuviensach.vn
Giọng trầm đầy nội lực, không có vẻ già nua chút nào, âm vang trong
không khí của gian buồng..
Người mở cửa bước vào là một gã đàn ông gầy gò trạc ngoài ba mươi tuổi
với mái tóc nâu đen, trông tựa tín đồ đạo Do Thái. Anh ta cho biết mình
đưa Mademoiselle Hanako (24) đến như đã hứa.
Từ khi thấy anh ta bước vào cho đến khi nghe anh ta nói, sắc mặt của
Rodin vẫn không có gì thay đổi.
Có lần ông đã gặp nàng vũ công tháp tùng tù trưởng Kambodscha (25) qua
thăm Paris. Nhìn bàn tay bàn chân thon thả và những cử động thanh nhã
của cô, ông cảm thấy có gì lôi cuốn và mê hoặc lòng người. Lúc đó ông có
thảo vội vài bức dessins (26) hiện vẫn còn giữ. Như thế mới biết dân tộc
nào cũng có nét đẹp của họ. Rodin tin rằng cái đẹp đó thể hiện ra tùy con
mắt người nhìn biết khám phá nó. Cho nên khi nghe tin dạo này có một nữ
nghệ sĩ variété (27) gốc Nhật Bản tên là Hanako đang ra mắt, ông đã nhờ
người thầu Hanako trình diễn đưa cô ta đến gặp mình.
Gã đàn ông vừa mới đến là ông bầu, imprésario của cô ta.
- Mời cô ấy vào đây cho tôi.
Rodin nói thế thôi. Ngay cả việc chỉ ghế mời anh ta ngồi, Rodin cũng
không làm. Không nhất thiết vì lúc đó ông đang bận tay. Ông bầu ý tứ dò
hỏi:
- Thưa cụ, tôi có dắt theo một thông dịch viên.
- Ai thế? Người Pháp à?
- Thưa không, Nhật ạ. Anh này là thực tập sinh ở L?Institut Pasteur (28).
Nghe Hanako cho biết cụ bảo đến gặp nên anh ta xung phong thô...
 





