Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Ngày cuối cùng của một tử tù - Victor Hugo

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 09h:41' 08-05-2025
Dung lượng: 972.9 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 09h:41' 08-05-2025
Dung lượng: 972.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MỘT TỬ
TÙ
—★—
Tác giả: Victor Hugo
Người dịch: Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu đính: Trần Hinh
Minh Long phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2016
ebook©vctvegroup
08-11-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Tác phẩm ghi lại 24 giờ cuối cùng của cuộc đời một tử tù qua
nhật ký của nhân vật xưng tôi - nhân vật không tên tuổi, lai lịch,
không nguồn gốc tội lỗi, không ai biết anh ta phạm tội gì đến nỗi
trở thành tử tù. Anh ta kể về không gian sinh tồn là nhà tù,
những con người va chạm với anh ta trong 24 giờ đó là bạn tù,
linh mục, cai ngục… và những người phụ nữ trong tâm tưởng
gồm mẹ, vợ và con gái. Tất cả những suy tư đó đan xen với dòng
suy nghĩ về việc anh ta sắp bị thi hành án.
Tác phẩm này gần như chứa đựng đầy đủ phong cách, mô típ
nhân vật và chủ đề quen thuộc trong sáng tác văn xuôi của
Victor Hugo. Đặc biệt hơn nữa, có lẽ đây là tác phẩm chứa đựng
nhiều tâm sự thầm kín, những nhức nhối khôn cùng của một
nhà văn suốt đời đấu tranh cho quyền “được sống” của con
người: án tử hình và sự xóa bỏ vĩnh viễn nó khỏi cuộc sống nhân
loại.
Chương 1
Bị kết án tử hình!
Đã năm tuần trôi qua tôi phải mang ý nghĩ ấy trong đầu, một ý
nghĩ làm tôi ớn lạnh và luôn luôn đè nặng trên thân xác tôi.
Trước đây cũng như mọi người, tôi không chỉ sống hàng tuần
mà hàng năm, mỗi ngày, mỗi giờ khắc đều có ý nghĩa. Tâm hồn
tôi phơi phới và phong phú, luôn luôn đầy ắp những tưởng tượng
ngông cuồng lần lượt diễn ra trong tôi không theo một trật tự
nào, không bao giờ dứt làm cho cuộc đời khô cứng và mong
manh của tôi được thêu dệt bằng những đường nét ngẫu hứng
của hoa lá, cỏ cây…
Đó là các thiếu nữ độ tuổi thanh xuân, những bộ lễ phục rực
rỡ của linh mục, những trận chiến thắng lợi, những nhà hát ồn
ào đầy ánh sáng, rồi cả những cô gái trẻ với các cuộc dạo chơi
buổi tối dưới các tán lá sum sê của cây hạt dẻ. Đó luôn luôn là
những ngày hội trong trí tưởng tượng. Tôi có thể nghĩ gì cũng
được tùy theo ý muốn của bản thân. Tôi là người tự do.
Giờ đây tôi là người bị giam cầm. Thân thể tôi bị xiềng xích
trong ngục tối. Tâm trí tôi cũng bị giam hãm trong một ý nghĩ,
một ý nghĩ thật khủng khiếp, cay đắng khôn nguôi. Tôi chỉ còn
nghĩ đến một điều, một điều chắc chắn không thể khác được: tôi
bắt buộc phải chết.
Dù tôi có làm gì đi nữa, ý nghĩ khó chịu đến cùng cực kia vẫn
hiện hữu trong tôi như một bóng ma nặng nề duy nhất ở bên
cạnh tôi, luôn luôn đối mặt với con người khốn khổ là tôi, bằng
đôi tay lạnh giá giữ rịt lấy tôi mỗi khi tôi muốn quay đầu hay
nhắm mắt lại. Ý nghĩ ấy biến hóa dưới mọi dạng, theo đuổi tôi
mỗi khi tôi muốn trốn chạy khỏi nó, pha trộn như một điệp khúc
khủng khiếp với tất cả những lời lẽ mà người ta nói với tôi, luôn
luôn bám chặt vào chấn song sắt xấu xa của cái ngục tối này, ý
nghĩ ấy ám ảnh tôi mỗi khi thức giấc, rình mò giấc ngủ chập
chờn của tôi và tái hiện trong ác mộng dưới dạng con dao sắc
nhọn.
Tôi vừa giật mình tỉnh giấc, ý nghĩ đó đeo bám tôi và nói:
– Ah! Chỉ là một giấc mơ.
Vậy, trước khi những con mắt nặng nề có thời gian hé mở hơn
để nhìn thấy ý nghĩ định mệnh kia được hiện rõ trong cái thực tế
khủng khiếp bao quanh tôi, trên nền nhà ẩm ướt và tẻ ngắt của
xà lim, trong những tia sáng yếu ớt của chiếc đèn đêm, trong
manh áo bằng vải sợi thô, trên khuôn mặt u tối của người lính
gác có chiếc túi đạn cũ vẫn còn láng bóng qua chấn song sắt của
ngục tối, hình như một giọng nói đã thì thầm bên tai tôi: Án tử
hình đã tuyên rồi. Thế nào ngươi cũng phải chết.
Chương 2
Đó là một buổi sáng tháng tám đẹp trời.
Chỉ mới cách đây ba ngày vụ việc của tôi được đem ra xét xử.
Cũng mới chỉ có ba ngày tên tuổi và tội lỗi của tôi hàng sáng đã
gây sự chú ý của đám đông những người dự phiên tòa ngồi chen
chúc trên những hàng ghế dài trong phòng xử án như những đàn
quạ bu quanh một xác chết.
Mới chỉ cách đây ba ngày cả một đám đông những quan tòa,
những bóng ma hư ảo của những nhân chứng, quan tòa, luật sư,
biện lý đi qua đi lại trước mặt tôi, lúc thì kỳ cục, lúc lại cay độc,
luôn luôn u tối và định mệnh. Hai đêm đầu tiên vì lo lắng và
khiếp sợ, tôi không thể ngủ.
Đến đêm thứ ba, tôi đã thiếp đi trong tâm trạng phiền muộn
và mệt mỏi. Nửa đêm, trong lúc tòa nghị án, người ta đã đưa tôi
trở về với đệm rơm của phòng giam và ngay lập tức tôi đã rơi vào
một giấc ngủ sâu trong lãng quên. Đó là những giờ phút nghỉ
ngơi đầu tiên của tôi trong nhiều ngày qua.
Tôi đang ngủ mê mệt thì người ta đến dựng tôi dậy. Lần này
không cần bước đi nặng nề với đôi giày đóng cá sắt của người cai
ngục, tiếng loảng xoảng của dây chìa khóa, tiếng cót két khô
khan của ổ khóa kéo tôi ra khỏi giấc ngủ lịm với cái giọng nói tàn
nhẫn bên tai tôi và cánh tay cứng rắn trên tay tôi:
– Này, dậy đi.
Tôi mở mắt ngồi dậy khiếp đảm. Lúc đó, qua ô cửa sổ cao và
hẹp của xà lim, tôi nhìn thấy qua trần của hành lang bên cạnh
một khoảng trời duy nhất, cái ánh sáng màu vàng mà cặp mắt
quen nhìn bóng tối của nhà tù của tôi nhận ra khá rõ đó là mặt
trời. Tôi yêu mặt trời.
– Hôm nay trời đẹp đấy. - Tôi nói với cai ngục.
Viên cai ngục đứng yên một lát không nói, làm như thể không
hiểu có nên đáp để phí một câu trả lời vào việc đó không, rồi
dường như cố gắng ít nhiều, lão mới đột ngột lí nhí:
– Có thể…
Tôi đứng yên bất động, tâm trí nửa tỉnh, nửa mê, miệng cố nở
một nụ cười tươi, dán mắt vào thứ ánh sáng vàng óng nhưng yếu
ớt phản chiếu trên trần nhà như muốn tô điểm thêm.
– Một ngày đẹp trời đây. - Tôi nhắc lại.
– Đúng vậy, - Cai ngục nói, - người ta đang đợi ông.
Chỉ có mấy từ mỏng như sợi chỉ cắt ngang đường bay của con
côn trùng quật mạnh vào tôi kéo tôi trở về với thực tế phũ phàng.
Bỗng nhiên tôi lại nhìn thấy như trong ánh sáng của tia chớp
trong gian phòng xử án cái vành móng ngựa với những quan tòa
mặc bộ sắc phục màu đỏ tươi mà tôi ngỡ như quần áo rách rưới
vấy máu, ba hàng nhân chứng ngu ngốc, hai viên cảnh sát ở hai
đầu chiếc ghế dài tôi ngồi, những chiếc áo dài đen của các luật
sư, biện lý động đậy và những cái đầu của đám đông ngồi chật
cứng ở cuối phòng, trong bóng tối và ánh mắt của mười hai viên
quan tòa chiếu thẳng vào tôi. Các vị ấy đang thức còn tôi như
người ngủ mê.
Tôi đứng dậy, hai hàm răng run cầm cập, hai tay tôi cũng run
lên, không làm sao tìm ra quần áo, hai cẳng chân tôi nhão ra. Tôi
cất bước, người lảo đảo như phu khuân vác đang phải vác nặng.
Tuy nhiên, tôi vẫn phải đi theo cai ngục.
Hai viên cảnh sát chờ tôi ở bậc cửa xà lim. Người ta còng tay
tôi bằng cái cùm nhỏ và ấn chốt khóa cẩn thận. Tôi để họ làm, đó
chỉ là một cái máy trên một cái máy mà thôi.
Chúng tôi đi qua một cái sân phía trong. Khí trời ban mai làm
tôi thấy khoan khoái trở lại. Tôi ngẩng đầu lên. Bầu trời xanh và
những tia mặt trời nóng bỏng bị những ống khói cao cắt vụn,
rạch những góc ánh sáng trên các bức tường cao và tối của nhà
tù. Trời đẹp thật.
Chúng tôi bước lên một cầu thang hình xoắn ốc, đi qua một
hành lang, rồi một cái nữa, đến hành lang thứ ba thì một cửa
thấp mở ra. Một bầu khí nóng pha lẫn tiếng ồn quất vào mặt tôi.
Đó là hơi thở của đám đông trong phòng xử án. Tôi bước vào.
Khi tôi xuất hiện, tôi nghe thấy tiếng lách cách của vũ khí và
tiếng ồn ào của đám đông, tiếng ghế xê dịch. Tôi đi qua gian
phòng dài giữa hai hàng quần chúng được lính che kín. Dường
như tôi là tâm điểm gắn các sợi dây làm động đậy tất cả các
khuôn mặt, miệng há hốc và hơi cúi xuống.
Đến lúc đó tôi mới nhận ra là người ta đã cởi cùm cho tôi,
nhưng tôi không nhớ vào lúc nào và ở đâu.
Lúc bấy giờ, trong phòng xử án, một bầu không khí im lặng
bao trùm. Tôi được đưa vào chỗ ngồi. Đúng lúc tiếng ồn ào chấm
dứt, tâm trí tôi cũng trở lại thanh thản, các ý nghĩ trở nên rành
rọt. Tôi bỗng hiểu một cách rõ ràng những điều tôi chỉ thoáng
thấy lờ mờ cho tới nay và giờ đây, giờ phút quyết định đã đến và
tôi có mặt ở đây để nghe tuyên án.
Muốn giải thích ra sao thì giải thích nhưng theo cách mà ý
nghĩ đó đến với tôi thì nó không hề làm tôi sợ hãi. Các cửa sổ đều
mở toang cánh, khí trời và tiếng động của thành phố tự do từ
ngoài ùa vào. Gian phòng sáng sủa như để chuẩn bị lễ cưới.
Những tia nắng vui vẻ của mặt trời đây đó vạch ra hình ảnh sáng
ngời của các hình chữ thập khi thì chạy dài trên sàn nhà, khi thì
trải trên bàn, lúc thì gãy khúc ở góc tường, và từ những hình quả
trám rực rỡ đến cửa sổ, mỗi một tia nắng vẽ lên trong không khí
một khối lăng trụ lớn toàn bụi vàng.
Cuối phòng, các vị thẩm phán có vẻ hài lòng, chắc hẳn là vui
vẻ vì đã hoàn thành tốt công việc. Khuôn mặt ông chánh án được
soi sáng nhè nhẹ bằng ánh sáng từ cửa kính hắt vào, có vẻ hơi
hiền lành và tốt bụng. Một vị trợ tá trẻ tuổi nói chuyện gần như
vui vẻ, tay vò nhàu chiếc cà vạt màu trắng phủ ra ngoài cổ áo dài
đen rộng của quan tòa, với một bà mệnh phụ xinh đẹp được ưu
tiên ngồi sau lưng ông ta.
Chỉ có các quan bồi thẩm là có vẻ nhợt nhạt, suy sụp, bề ngoài
mệt mỏi vì đã thức suốt đêm để luận tội. Một vài vị ngáp. Nhìn
qua tư cách của họ không thấy gì chứng tỏ họ vừa quyết định
một bản án tử hình và trên khuôn mặt các ông trưởng giả tốt
bụng ấy, tôi chỉ đoán được là họ rất buồn ngủ.
Trước mặt tôi là một khuôn cửa sổ mở rất rộng. Tôi nghe thấy
tiếng cười của người bán hoa từ ngoài hè phố vọng vào và trên
mép hình chữ thập đó, trong khe đá có một cây con màu vàng,
tràn ngập trong tia nắng đu đưa trước gió.
Làm sao một ý nghĩ hung dữ lại có thể ló ra giữa bao nhiêu
cảm giác dịu dàng như thế nhỉ? Tràn ngập trong không khí và
ánh sáng, tôi không thể nào nghĩ gì khác hơn là nghĩ đến tự do.
Phần hy vọng tỏa sáng trong tôi như ánh sáng ban ngày bao
quanh tôi và lòng tin tưởng, tôi chờ đợi phán quyết của tòa như
người ta chờ đợi sự giải thoát và cuộc sống.
Tuy nhiên luật sư của tôi đã đến. Mọi người đang chờ ông. Ông
vừa dự một bữa trưa sang trọng và ăn rất ngon miệng. Đến chỗ
ngồi của tôi, ông ta cúi nghiêng đầu chào tôi với một nụ cười.
– Tôi hy vọng. - Ông ta nói với tôi.
– Có phải là hy vọng không? - Tôi trả lời nhẹ nhàng và cũng
mỉm cười đáp lại.
– Đúng. - Ông ta nhắc lại. - Tôi còn chưa biết một tí gì về lời
phát biểu của các quan tòa nhưng chắc chắn họ đã bác bỏ phán
xét của phiên xử trước và như thế sẽ là khổ sai chung thân thôi.
– Ông nói gì thế, thưa ông luật sư. - Tôi trả lời phẫn nộ: như
vậy thì trăm lần thà chết.
Vâng, thà chết. Vả lại có một giọng nói ở bên trong nhắc với
tôi. Tôi sợ gì mà không nói rõ ra điều đó. Có bao giờ người ta
tuyên án tử hình vào lúc khác hơn là lúc nửa đêm, phải đốt đuốc
trong căn phòng u tối, đen kịt và vào một đêm đông lạnh giá?
Nhưng đây là vào buổi sáng tháng tám, một ngày đẹp trời như
thế này thưa các vị thẩm phán tốt bụng. Thật là không thể thế
được, rồi mắt tôi lại trở lại nhìn dán vào bông hoa vàng dưới ánh
mặt trời.
Bất thình lình vị chánh án thấy luật sư của tôi đã đến, liền như
có một dòng điện chạy qua, hết thảy mọi người trong phòng xử
án nhất loạt đứng dậy. Một khuôn mặt tầm thường vô tích sự, tôi
nghĩ đó là viên lục sự. Anh ta phát biểu và đọc bản phán quyết
mà các quan tòa đã biểu quyết trong khi tôi không có ở đấy.
Chân tay tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi phải dựa vào tường để khỏi
ngã.
Chánh án hỏi luật sư của tôi: Ông có điều gì muốn nói về áp
dụng khung hình phạt không?
Đáng lẽ ra tôi có nhiều điều để nói nhưng không hiểu sao cứ
lặng đi, không nói lên được một lời nào, lưỡi dán chặt vào vòm
miệng.
Người bảo vệ đứng dậy.
Tôi hiểu rằng ông ta tìm cách giảm nhẹ lời công bố của đoàn
bồi thẩm và giảm xuống không phải là án này mà là án kia, cái
đã làm tôi rất bực tức khi nghe ông ta nói là ông ta hy vọng.
Sự phẫn nộ của tôi đã quá mạnh để lộ ra trăm nghìn cảm xúc
đang dồn nén trong tâm trí tôi. Tôi muốn hét to lên điều tôi đã
nói với ông ta: Thà một trăm lần chết còn hơn! Nhưng tôi không
còn đủ hơi sức để nói. Tôi chỉ có thể ngăn ông ta lại bằng cách
giơ cao cánh tay kêu lên một tiếng đau đớn: Không!
Viên chưởng lý tranh tụng với luật sư. Tôi lắng nghe họ với
một sự hài lòng ngu xuẩn. Rồi các vị thẩm phán ra ngoài, và trở
lại, sau đó ông chánh án lạnh lùng tuyên án.
Có tiếng xì xào trong đám đông. Trong lúc tôi bị dẫn đi, đám
đông ùa theo tôi, ồn ào như một tòa nhà đang đổ sập. Còn tôi
bước đi, lảo đảo như người say rượu, sững sờ một sự khuấy động
vừa xảy ra trong tôi. Cho đến lúc bị tuyên án tôi vẫn cảm thấy
được hít thở, tim vẫn đập mạnh trong cùng một môi trường sống
như mọi người khác. Bây giờ tôi phân biệt rõ giữa tôi và mọi
người có một hàng rào ngăn cách.
Đối với tôi không còn gì có chung một dáng vẻ với mọi người
như trước. Cũng vẫn những cửa sổ rộng mở, ánh sáng chói
chang, cũng vẫn mặt trời rực rỡ, bầu trời trong xanh, cũng vẫn
đóa hoa xinh đẹp nhưng tất cả bây giờ đều trắng bệch, nhợt nhạt
như một tấm vải liệm. Những người đàn ông ấy, những người
đàn bà ấy, những đứa trẻ ấy chen chúc xô đẩy nhau ùa ra chỗ tôi
bị dẫn đi qua, tôi thấy họ như những bóng ma.
Bên dưới cầu thang một chiếc ô tô màu đen có lưới sắt ở các ô
cửa, bẩn thỉu chờ sẵn. Lúc trèo lên, tôi bâng quơ nhìn ra quảng
trường.
– Một tên tử tù!
Những người qua đường vừa kêu lên vừa chạy đến chỗ tôi.
Qua đám mây đen tưởng như ngăn cách tôi và mọi sự vật chung
quanh, tôi nhận ra hai cô gái trẻ, chạy theo tôi với cặp mắt hau
háu.
– Chỉ còn sống được sáu tuần nữa thôi, tiếng cô trẻ hơn vỗ tay
thốt lên.
Chương 3
Tử tù!
Tại sao không? Tôi nhớ đã đọc trong một cuốn sách nào đó có
câu như thế này: “Tất cả mọi người đều bị kết án tử hình, thời
gian hoãn không xác định”[1]. Vậy có gì thay đổi so với hoàn cảnh
của tôi hiện nay?
Từ khi bản án được tuyên, bao nhiêu người nghĩ là được sống
lâu thế mà đã chết rồi! Bao nhiêu người đã đi trước tôi, những
thanh niên tự do và lành mạnh, tưởng được trông thấy đầu tôi rơi
vào một ngày nào đó ở quảng trường Grève. Từ nay đến hôm đó,
có bao nhiêu con người giờ đây đang tiếp bước, đang hít thở
trong bầu trời lồng lộng sẽ phải ra đi trước tôi?
Và rồi cuộc sống với tôi còn có gì đáng luyến tiếc nữa! Thực tế
ban ngày trong ngục tối với mẩu bánh mì đen nhẻm kèm một
bát nước canh loãng toẹt múc ở chiếc thùng gỗ do người tù đem
đến, tôi, một con người đã được hưởng thụ một nền giáo dục
mềm mỏng, - bị bọn cai tù đối xử thô bạo, tàn nhẫn, bao giờ được
gặp một người có thể nghĩ rằng tôi đáng để họ bắt chuyện và
đáng được trả lời, luôn luôn giật mình về việc tôi đã làm và về
việc người ta sẽ làm đối với tôi; đấy hầu như là những tài sản duy
nhất mà tên đao phủ có thể tước đoạt của tôi. - Mặc dù vậy, vẫn
là kinh khủng.
Chương 4
Chiếc ô tô màu đen chở tôi đến đây, trong nhà tù Bicêtre ghê
tởm này.
Nhìn từ xa, tòa nhà này có một vẻ uy nghi nào đó trải rộng ở
cuối chân trời, trước một ngọn đồi còn giữ lại được một vẻ đẹp cổ
kính xưa kia, một dáng vẻ lâu đài vua chúa. Nhưng khi càng đến
gần, tòa cung điện trở thành một tòa nhà tồi tàn đổ nát. Đầu hồi
bị hư hại như đâm vào mắt. Tôi không biết có gì đáng xấu hổ và
nghèo nàn hơn đã làm bẩn mặt ngoài của cung điện nhà vua.
Người ta có thể nói các bức tường như bị hủi gặm nhấm. Không
còn kính, không còn gương ở cửa sổ mà chỉ là những tấm sắt che
chắn đặt chéo nhau, đây đó dán những hình ảnh xanh xao gầy gò
một tên cai tù hay một thằng điên.
Đó là cuộc sống nhìn gần.
Chương 5
Vừa đến nơi, người ta vội vàng cùm tay tôi lại. Người ta tăng
gấp bội các biện pháp đề phòng: không một con dao, không một
dĩa cho tôi khi ăn. Một loại túi vải buồm - áo trói người điên - bọc
kín cánh tay tôi. Người ta có trách nhiệm phải giữ cho tôi sống
đến ngày lên đoạn đầu đài. Tôi đã xin chống án. Chỉ còn sáu hay
bảy tuần nữa cho một vụ việc tốn kém này, cần phải để tôi sống
bình an vô sự đặng đi tới quảng trường Grève.
Những ngày đầu người ta đối xử với tôi dịu dàng đến ghê
người. Thái độ vì nể của viên cai ngục đối với tôi như ngửi thấy
mùi máy chém. May thay, chỉ sau vài ngày, thói quen lại nổi dậy
chiếm ưu thế. Họ lẫn lộn tôi với các phạm nhân khác, áp dụng
một thái độ tàn bạo chung cho tất cả và không còn sự phân biệt
đối xử với tôi là phải có xử sự lễ phép khác thường để tên đao
phủ luôn luôn xuất hiện trước mắt tôi. Đây không phải là sự cải
thiện cuối cùng.
Tuổi trẻ của tôi, thái độ ngoan ngoãn quy phục của tôi, sự ân
cần của cha tuyên uý trong nhà tù, và nhất là vài lời bằng tiếng
La tinh tôi nói với người gác cổng mà anh ta không hiểu đã khiến
tôi được hưởng một buổi dạo chơi mỗi tuần cùng với những
phạm nhân khác và trút bỏ được áo trói người điên làm tôi như
bị liệt. Sau nhiều lần do dự người ta cũng cho tôi một ít mực,
giấy, bút và một chiếc đèn đêm.
Chủ nhật nào cũng vậy, sau lễ misa, người ta thả tôi đi lại
trong sân nhà tù trong giờ giải lao. Ở đó tôi trò chuyện với các
phạm nhân. Phải như thế. Họ là những người tử tế, những người
khốn khổ. Họ kể cho tôi nghe về những thủ đoạn của họ, có lẽ để
gây khiếp đảm, nhưng tôi biết là họ chỉ khoác lác. Họ dạy tôi
tiếng lóng mà họ gọi là đòi hỏi cái đe có hai đầu nhọn rouscailler
bigorne.
Đây là một thứ ngôn ngữ ghép vào ngôn ngữ chung như một
khối u gớm ghiếc, một chiếc mụn cóc ngoài da. Đôi khi tiếng
lóng có một năng lực đặc biệt, một cái đẹp rùng rợn như “máu
đổ trên đường” thì gọi là “nho ép ở ngã ba đường”, bị treo cổ thì
gọi là “kết hôn với bà góa” làm như thể cái dây thòng lọng của
giá treo cổ là góa phụ của tất cả những kẻ bị buộc tội treo cổ. Cái
đầu kẻ trộm có hai tên, sorbonne[2] - khi nó lý luận và bày ra tội
ác, trouche[3] là cái sọ hay cái thủ, khi nó bị đao phủ cắt cổ.
Đôi khi với tinh thần hài hước dân dã, người ta gọi cái lưỡi là
mụ đàn bà nói điêu, cái gùi của người đi lượm vải rách, sắt vụn
hay giấy vụn là cachemire d'osier - casơmia là một thứ vải dệt
bằng lông dê rất quý ở Ấn Độ, còn osier là cây liễu gió, thứ nguyên
liệu đan giỏ, gùi, v.v…
Rồi từng lúc lại có những từ rất lạ tai, bí ẩn, xấu xa, bẩn thỉu
không biết từ đâu đến như taule là tiếng lóng chỉ nhà tù, trong
khi taule có thể hiểu là nhà ở khách sạn. Sự chết là hình nón
cône, nơi hành hình gọi là placarde có nghĩa là quảng trường, là
chỗ ngồi hay chỗ làm béo bở. Người ta có thể nói tiếng lóng xấu
xa như loài cóc nhái, loài nhện. Khi nghe nói thứ tiếng này, tôi
cảm thấy một cái gì đó dơ bẩn, bụi bặm, như thể một đống giẻ
mà người ta giũ trước mặt anh.
Ít nhất, tôi cũng thấy thích những con người ấy. Chỉ có họ mới
làm tôi thú vị. Các cai ngục, người đeo chìa khóa phòng giam tôi đâu có giận họ - trò chuyện, cười nói về tôi, nói trước mặt tôi
như nói về một đồ vật.
Chương 6
Tôi tự nhủ: Tôi có phương tiện để viết, tại sao tôi không viết
nhỉ? Nhưng viết gì mới được chứ?
Bị giam cầm giữa bốn bức tường đá trần trụi, lạnh lẽo, chân
không được bước tự do, mắt không được nhìn thấu chân trời, chỉ
có một trò giải trí duy nhất là ngày nào cũng bận theo dõi một
cách máy móc tiến trình chậm chạp của ô vuông màu trắng nhạt
được cái lỗ nhìn của buồng giam đối diện với cái tường u tối cắt
vụn. Và như tôi nói ban nãy, một mình với một ý nghĩ về tội giết
người và hình phạt tử hình, có phải tôi có điều muốn nói, tôi
không có việc gì để làm ở thế giới này. Và tôi sẽ tìm thấy gì trong
bộ não héo hắt và trống rỗng này, đáng mất công để viết chăng?
Tại sao lại không? Nếu tất cả xung quanh tôi đều đơn điệu, tẻ
nhạt thì trong tôi làm gì có bão tố, có đấu tranh và bi kịch? Cái ý
tưởng cố định ấy luôn luôn ám ảnh tôi, hiện diện trong tôi mỗi
giờ, mỗi lúc dưới một hình thái khác, lúc nào cũng càng xấu xa
nhuốm máu, mỗi khi thời hạn thi hành án đến gần? Tại sao tôi
không cố nói với chính mình những điều tôi cảm thấy. Có cái gì
là bạo lực, là không biết trong tình cảnh bị bỏ rơi như hoàn cảnh
của tôi hiện nay.
Chắc hẳn là vật chất phong phú và cuộc đời tôi dù rút ngắn
như thế cũng còn khối chuyện phải nói trong các mối lo toan,
trong sự khiếp sợ, trong các lần tra tấn, từ lúc này đến giờ cuối
cùng còn có nhiều chuyện để làm mòn ngòi bút và cạn lọ mực.
Vả lại, những mối lo toan ấy, cách duy nhất để giảm đau khổ là
quan sát chúng và việc tô vẽ chúng sẽ giải khuây cho tôi. Và rồi,
những điều tôi sẽ viết ra có lẽ sẽ không phải là vô ích.
Quyển nhật ký ghi những đau khổ của tôi, từng giờ, từng phút,
hết nhục hình này đến nhục hình khác, nếu tôi có đủ sức lực để
viết cho đến lúc về mặt thể xác tôi không tiếp tục được nữa. Câu
chuyện ấy chắc là còn dang dở nhưng cũng nói lên đầy đủ trong
khả năng cho phép. Các cảm giác của tôi lẽ nào lại không mang
theo bài học lớn và sâu sắc nào hay sao? Phải chăng trong các
biên bản nói về ý nghĩ đang hấp hối, trong nỗi đau ngày một
tăng lên, trong cái thứ giải phẫu trí tuệ của một tử tù lại không có
thêm một bài học cho những kẻ kết án như tôi chăng?
Có lẽ đọc đoạn này sẽ làm bàn tay của họ nhẹ nhàng hơn
chăng khi một lần khác phải ném cái đầu biết suy nghĩ, một cái
đầu người vào cái được họ gọi là cán cân công lý! Chẳng lẽ họ
không bao giờ suy nghĩ đến cái chuỗi tra tấn chậm chạp mà một
bản án tử hình được soạn thảo mau mắn gây ra cho kẻ tử tù?
Chẳng lẽ không bao giờ họ có ý nghĩ xót xa cho rằng trong con
người mà họ sẽ xóa đi khỏi cuộc sống có một trí tuệ, một trí tuệ
dựa vào cuộc sống mà tồn tại, một tâm hồn không bao giờ sẵn
sàng để chết? Không! Họ chỉ nhìn thấy cái lưỡi dao ba góc rơi
thẳng đứng xuống và chẳng có gì sau khi lên đoạn đầu đài.
Mong cho những trang viết này sẽ làm cho họ tỉnh ngộ! Có lẽ
đến một ngày nào đó những trang viết này được công bố sẽ làm
cho họ nghĩ trong giây lát đến những đau khổ về tinh thần vì đó
là những đau khổ mà họ không thể hoài nghi. Họ đắc chí là đã có
thể giết chết một con người không làm đau khổ đến thể xác. Vấn
đề là ở chỗ đó. Thế nào là đau khổ về thể xác bên cạnh đau khổ
về tinh thần và thương hại cho những luật pháp được làm như
thế! Một ngày nào đó có lẽ những hồi ức này, những lời tâm sự
cuối cùng này của một kẻ khốn cùng sẽ góp phần tham gia vào
một việc làm như vậy….
Chỉ mong là sau khi tôi chết gió sẽ không thổi bay những mẩu
giấy vấy bùn này trong sân nhà tù hoặc sẽ thổi đi khi nước mưa
rơi xuống hoặc dán vào kính vỡ của người cai ngục như những
ngôi sao.
Chương 7
Mong cho những điều tôi viết ra một ngày kia sẽ có ích cho
người khác, sẽ làm quan tòa đã sẵn sàng xử án phải dừng tay,
mong cho điều đó cứu được những người khốn khổ vô tội hay có
tội ra khỏi cơn hấp hối như tôi đã bị kết án. Tại sao? Để làm gì?
Có quan trọng gì đâu? Khi đầu tôi đã bị chặt rồi, người ta có chặt
đầu những người khác thì cũng chẳng làm gì tôi được. Thật sự tôi
có nghĩ đến sự điên cuồng này không? Hãy phá bỏ đoạn đầu đài
sau khi tôi đã leo lên? Tôi thử hỏi bạn xem điều đó có lợi gì cho
tôi nào?
Sao? Mặt trời mùa xuân, những cánh đồng đầy hoa, những
con chim thức giấc lúc ban mai, mây, cây cối, thiên nhiên tự do,
cuộc sống, tất cả những cái đó không thuộc về tôi nữa chăng?
Ôi! Chính tôi mới là người cần phải giải cứu. Có đúng là điều
đó không thể xảy ra, là ngày mai tôi phải chết, có lẽ hôm nay
cũng có thể? Ôi, Thượng đế! Ý nghĩ khủng khiếp là đâm đầu vào
tường ngục tối cho vỡ tan.
Chương 8
Hãy tính xem tôi còn bao nhiêu ngày nữa? Ba ngày sau khi
tuyên án người bị kết án có thể chống án.
Tám ngày bị bỏ quên tại Viện Công tố, Tòa Đại hình, sau đó
toàn bộ hồ sơ - như họ nói - đều được gửi lên Bộ trưởng. Mười
lăm ngày chờ đợi ở Văn phòng Bộ trưởng, bản thân ông này cũng
chẳng biết có hồ sơ ấy hay không, tuy nhiên vẫn được giả định là
sau khi xem xét xong sẽ gửi lên Tòa Thượng thẩm.
Ở đó người ta xếp loại, đánh số, vào sổ vì máy chém còn đang
bận chém đầu một tử tù khác và mỗi người dù sẽ bị chặt đầu
cũng phải chờ đến lượt đã.
Mười lăm ngày trôi qua để xem trường hợp này có phải là
ngoại lệ không. Cuối cùng tòa họp lại, theo thông lệ là vào ngày
thứ năm bác bỏ hai chục trường hợp chống án rồi đệ trình tất cả
các vụ còn lại lên Bộ trưởng xem xét, rồi chuyển sang cho quan
chưởng lý, cuối cùng chuyển sang đao phủ. Tất cả là ba ngày!
Đến sáng ngày thứ tư, người tạm thay quan chưởng lý vừa thắt
cà vạt vừa nói: Dù sao, phải kết thúc vụ này thôi, vậy nếu ông
quyền lục sự không bận ăn trưa với bạn bè, lệnh thi hành án sẽ
viết xong bản nháp, được soạn thảo thành văn bản, sau khi
chỉnh lý sẽ được gửi đi và hôm sau, vào lúc rạng đông, người ta
nghe thấy tiếng đóng xà ngang ở quảng trường Grève, và trên
các ngã tư, sẽ vang lên tiếng hét khản đặc của các mõ tòa thông
báo cho mọi người biết án tử hình được thi hành.
Tất cả là sáu tuần, mọi việc sẽ xong hết. Con bé thế mà nói
đúng.
Thế là tôi đã ở trong xà lim nhốt tử tù ở Bicêtre ít nhất là năm
tuần, có lẽ là sáu, tôi không dám tính, vậy mà hình như chỉ mới
cách đây ba ngày, là ngày thứ năm.
Chương 9
Tôi vừa viết xong chúc thư. Để làm gì nhỉ? Người ta đã chi phí
tốn kém để kết án tôi. Tất cả của cải tôi để lại cũng không đủ bù
lại. Máy chém quả là quá đắt. Tôi để lại một người mẹ, tôi để lại
một người vợ, tôi để lại một đứa con.
Một đứa con gái mới lên ba, dịu dàng, hồng hào, yếu ớt, mắt to
và đen, tóc dài màu hạt dẻ.
Lần cuối cùng tôi gặp con, lúc đó nó mới hai năm một tháng.
Như vậy sau khi tôi chết, có ba người phụ nữ vì luật pháp mà
đành chịu mất con, mất chồng, mất cha. Ba người mồ côi theo ba
kiểu, ba người góa bụa về mặt luật pháp.
Tôi công nhận tôi bị trừng phạt là đáng lắm. Nhưng ba con
người đó, họ đã làm gì nên tội? Vậy mà người ta phỉ báng họ, làm
họ suy sụp. Công lý là vậy. Không phải bà mẹ đáng thương của
tôi khiến tôi lo lắng. Năm nay bà đã sáu tư tuổi, cũng chết nay
mai thôi, hoặc giả bà còn sống thêm ít ngày nữa miễn sao đến
ngày cuối cùng vẫn còn tro nóng trong cái lò sưởi của bà. Bà sẽ
không nói năng gì hết.
Vợ tôi cũng chẳng làm tôi lo lắng buồn phiền. Thể trạng cô ấy
lâu nay vẫn tồi tệ. Cô ấy rồi cũng sẽ chết. Trừ phi cô ta phát điên.
Người ta nói như thế cô ấy còn sống lâu hay ít nhất tâm trí cũng
không phải chịu đau đớn. Cô ấy ngủ coi như chết rồi.
Nhưng đứa con gái bé bỏng của tôi, bé Marie đáng thương giờ
này vẫn đang cười, đang chơi, đang ca hát, nó không nghĩ gì hết.
Chính con bé mới làm tôi khổ sở.
Chương 10
Đây là cái ngục tối tôi đang bị nhốt.
Hình vuông, mỗi chiều 8 piê (1 piê 30 cm), bốn bức tường
bằng đá đẽo, đặt trên nền đá lát cao hơn hành lang bên ngoài
một bậc.
Bên phải cửa ra vào có một chỗ thụt vào, như một cái hốc kê
chiếc giường, người ta vất vào đấy một bó rơm coi như có chỗ để
người tù nghỉ ngơi và ngủ. Quần áo của người tù chỉ là một chiếc
quần vải và một chiếc áo bằng vải chéo, đông hay hè cũng chỉ có
vậy.
Trên đầu tôi không phải trời cao lồng lộng mà là một vòm đen
ngòm hình cung nhọn, giăng đầy mạng nhện. Vả lại, không có
cửa sổ, một lỗ để ánh sáng bên ngoài lọt vào như cửa sổ tầng
hầm cũng chẳng có. Một cửa ra vào, cánh bằng gỗ nhưng bọc kín
bằng sắt có một ô vuông mỗi chiều 9 pút (mỗi pút khoảng 27
mm), có chấn song sắt chữ thập và buổi tối cai ngục đóng lại.
Bên ngoài là một hành lang hẹp, được chiếu sáng và thoáng
nhờ những ô cửa hẹp ở trên tường và chia thành nhiều ngăn
bằng gạch xây thông với nhau bằng một loạt cửa hẹp và thấp.
Mỗi một ngăn đó được dùng như phòng đợi giống như xà lim án
chém của tôi. Trong các xà lim này viên quản trại nhốt những
tên tù khổ sai vi phạm kỷ luật của trại. Có ba xà lim đầu tiên
dành để giam những tử tù đợi ngày ra pháp trường. Ba xà lim
này ở gần nhà ngục nhất nên rất tiện cho cai ngục để mắt.
Những xà lim này là tất cả những gì còn lại của lâu đài Bicêtre
do Hồng y giáo chủ Winchester xây từ thế kỷ XV, chính ông đã
cho thiêu sống Jean d'Arc. Tôi được nghe người ta nói như thế
hôm nọ, với những người tò mò đến tham quan, họ đã đứng xa
nhìn tôi như nhìn một con vật lạ ở vườn thú. Viên cai ngục đã bỏ
túi một trăm xu vì chuyện này.
Tôi quên không nói rằng đêm ngày có một lính gác túc trực ở
cửa xà lim của tôi và mỗi khi tôi ngước mắt nhìn qua ô cửa hình
vuông bên trên cửa ra vào thì đều gặp phải cặp mắt của người
lính gác lúc nào cũng mở trừng trừng nhìn tôi.
Vả chăng người ta giả định rằng trong chiếc hộp hình vuông
bằng đá này vẫn có không khí và ánh sáng ban ngày.
Chương 11
Đã coi như ban ngày không có thì ban đêm chẳng để làm gì.
Tôi nảy ra một ý tưởng. Tôi đứng dậy, lấy đèn soi lên bốn bức
tường thấy đầy những chữ viết, những bức vẽ, những hình thù kỳ
lạ, những tên người pha trộn chữ nọ với chữ kia chồng lấn lên
nhau. Hình như mỗi người bị án chém trước khi chết đều muốn
để lại dấu vết cho đời sau, ít nhất là tại đây. Nét viết, vẽ bằng bút
chì, bằng phấn, bằng than đủ các màu trắng đen, xám, đôi khi là
những nét khắc sâu vào tường đá, chỗ này, chỗ kia có màu gỉ sắt,
có thể nói là viết bằng máu. Chắc chắn nếu đầu óc thư thái hơn,
có thể tôi s...
TÙ
—★—
Tác giả: Victor Hugo
Người dịch: Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu đính: Trần Hinh
Minh Long phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2016
ebook©vctvegroup
08-11-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Tác phẩm ghi lại 24 giờ cuối cùng của cuộc đời một tử tù qua
nhật ký của nhân vật xưng tôi - nhân vật không tên tuổi, lai lịch,
không nguồn gốc tội lỗi, không ai biết anh ta phạm tội gì đến nỗi
trở thành tử tù. Anh ta kể về không gian sinh tồn là nhà tù,
những con người va chạm với anh ta trong 24 giờ đó là bạn tù,
linh mục, cai ngục… và những người phụ nữ trong tâm tưởng
gồm mẹ, vợ và con gái. Tất cả những suy tư đó đan xen với dòng
suy nghĩ về việc anh ta sắp bị thi hành án.
Tác phẩm này gần như chứa đựng đầy đủ phong cách, mô típ
nhân vật và chủ đề quen thuộc trong sáng tác văn xuôi của
Victor Hugo. Đặc biệt hơn nữa, có lẽ đây là tác phẩm chứa đựng
nhiều tâm sự thầm kín, những nhức nhối khôn cùng của một
nhà văn suốt đời đấu tranh cho quyền “được sống” của con
người: án tử hình và sự xóa bỏ vĩnh viễn nó khỏi cuộc sống nhân
loại.
Chương 1
Bị kết án tử hình!
Đã năm tuần trôi qua tôi phải mang ý nghĩ ấy trong đầu, một ý
nghĩ làm tôi ớn lạnh và luôn luôn đè nặng trên thân xác tôi.
Trước đây cũng như mọi người, tôi không chỉ sống hàng tuần
mà hàng năm, mỗi ngày, mỗi giờ khắc đều có ý nghĩa. Tâm hồn
tôi phơi phới và phong phú, luôn luôn đầy ắp những tưởng tượng
ngông cuồng lần lượt diễn ra trong tôi không theo một trật tự
nào, không bao giờ dứt làm cho cuộc đời khô cứng và mong
manh của tôi được thêu dệt bằng những đường nét ngẫu hứng
của hoa lá, cỏ cây…
Đó là các thiếu nữ độ tuổi thanh xuân, những bộ lễ phục rực
rỡ của linh mục, những trận chiến thắng lợi, những nhà hát ồn
ào đầy ánh sáng, rồi cả những cô gái trẻ với các cuộc dạo chơi
buổi tối dưới các tán lá sum sê của cây hạt dẻ. Đó luôn luôn là
những ngày hội trong trí tưởng tượng. Tôi có thể nghĩ gì cũng
được tùy theo ý muốn của bản thân. Tôi là người tự do.
Giờ đây tôi là người bị giam cầm. Thân thể tôi bị xiềng xích
trong ngục tối. Tâm trí tôi cũng bị giam hãm trong một ý nghĩ,
một ý nghĩ thật khủng khiếp, cay đắng khôn nguôi. Tôi chỉ còn
nghĩ đến một điều, một điều chắc chắn không thể khác được: tôi
bắt buộc phải chết.
Dù tôi có làm gì đi nữa, ý nghĩ khó chịu đến cùng cực kia vẫn
hiện hữu trong tôi như một bóng ma nặng nề duy nhất ở bên
cạnh tôi, luôn luôn đối mặt với con người khốn khổ là tôi, bằng
đôi tay lạnh giá giữ rịt lấy tôi mỗi khi tôi muốn quay đầu hay
nhắm mắt lại. Ý nghĩ ấy biến hóa dưới mọi dạng, theo đuổi tôi
mỗi khi tôi muốn trốn chạy khỏi nó, pha trộn như một điệp khúc
khủng khiếp với tất cả những lời lẽ mà người ta nói với tôi, luôn
luôn bám chặt vào chấn song sắt xấu xa của cái ngục tối này, ý
nghĩ ấy ám ảnh tôi mỗi khi thức giấc, rình mò giấc ngủ chập
chờn của tôi và tái hiện trong ác mộng dưới dạng con dao sắc
nhọn.
Tôi vừa giật mình tỉnh giấc, ý nghĩ đó đeo bám tôi và nói:
– Ah! Chỉ là một giấc mơ.
Vậy, trước khi những con mắt nặng nề có thời gian hé mở hơn
để nhìn thấy ý nghĩ định mệnh kia được hiện rõ trong cái thực tế
khủng khiếp bao quanh tôi, trên nền nhà ẩm ướt và tẻ ngắt của
xà lim, trong những tia sáng yếu ớt của chiếc đèn đêm, trong
manh áo bằng vải sợi thô, trên khuôn mặt u tối của người lính
gác có chiếc túi đạn cũ vẫn còn láng bóng qua chấn song sắt của
ngục tối, hình như một giọng nói đã thì thầm bên tai tôi: Án tử
hình đã tuyên rồi. Thế nào ngươi cũng phải chết.
Chương 2
Đó là một buổi sáng tháng tám đẹp trời.
Chỉ mới cách đây ba ngày vụ việc của tôi được đem ra xét xử.
Cũng mới chỉ có ba ngày tên tuổi và tội lỗi của tôi hàng sáng đã
gây sự chú ý của đám đông những người dự phiên tòa ngồi chen
chúc trên những hàng ghế dài trong phòng xử án như những đàn
quạ bu quanh một xác chết.
Mới chỉ cách đây ba ngày cả một đám đông những quan tòa,
những bóng ma hư ảo của những nhân chứng, quan tòa, luật sư,
biện lý đi qua đi lại trước mặt tôi, lúc thì kỳ cục, lúc lại cay độc,
luôn luôn u tối và định mệnh. Hai đêm đầu tiên vì lo lắng và
khiếp sợ, tôi không thể ngủ.
Đến đêm thứ ba, tôi đã thiếp đi trong tâm trạng phiền muộn
và mệt mỏi. Nửa đêm, trong lúc tòa nghị án, người ta đã đưa tôi
trở về với đệm rơm của phòng giam và ngay lập tức tôi đã rơi vào
một giấc ngủ sâu trong lãng quên. Đó là những giờ phút nghỉ
ngơi đầu tiên của tôi trong nhiều ngày qua.
Tôi đang ngủ mê mệt thì người ta đến dựng tôi dậy. Lần này
không cần bước đi nặng nề với đôi giày đóng cá sắt của người cai
ngục, tiếng loảng xoảng của dây chìa khóa, tiếng cót két khô
khan của ổ khóa kéo tôi ra khỏi giấc ngủ lịm với cái giọng nói tàn
nhẫn bên tai tôi và cánh tay cứng rắn trên tay tôi:
– Này, dậy đi.
Tôi mở mắt ngồi dậy khiếp đảm. Lúc đó, qua ô cửa sổ cao và
hẹp của xà lim, tôi nhìn thấy qua trần của hành lang bên cạnh
một khoảng trời duy nhất, cái ánh sáng màu vàng mà cặp mắt
quen nhìn bóng tối của nhà tù của tôi nhận ra khá rõ đó là mặt
trời. Tôi yêu mặt trời.
– Hôm nay trời đẹp đấy. - Tôi nói với cai ngục.
Viên cai ngục đứng yên một lát không nói, làm như thể không
hiểu có nên đáp để phí một câu trả lời vào việc đó không, rồi
dường như cố gắng ít nhiều, lão mới đột ngột lí nhí:
– Có thể…
Tôi đứng yên bất động, tâm trí nửa tỉnh, nửa mê, miệng cố nở
một nụ cười tươi, dán mắt vào thứ ánh sáng vàng óng nhưng yếu
ớt phản chiếu trên trần nhà như muốn tô điểm thêm.
– Một ngày đẹp trời đây. - Tôi nhắc lại.
– Đúng vậy, - Cai ngục nói, - người ta đang đợi ông.
Chỉ có mấy từ mỏng như sợi chỉ cắt ngang đường bay của con
côn trùng quật mạnh vào tôi kéo tôi trở về với thực tế phũ phàng.
Bỗng nhiên tôi lại nhìn thấy như trong ánh sáng của tia chớp
trong gian phòng xử án cái vành móng ngựa với những quan tòa
mặc bộ sắc phục màu đỏ tươi mà tôi ngỡ như quần áo rách rưới
vấy máu, ba hàng nhân chứng ngu ngốc, hai viên cảnh sát ở hai
đầu chiếc ghế dài tôi ngồi, những chiếc áo dài đen của các luật
sư, biện lý động đậy và những cái đầu của đám đông ngồi chật
cứng ở cuối phòng, trong bóng tối và ánh mắt của mười hai viên
quan tòa chiếu thẳng vào tôi. Các vị ấy đang thức còn tôi như
người ngủ mê.
Tôi đứng dậy, hai hàm răng run cầm cập, hai tay tôi cũng run
lên, không làm sao tìm ra quần áo, hai cẳng chân tôi nhão ra. Tôi
cất bước, người lảo đảo như phu khuân vác đang phải vác nặng.
Tuy nhiên, tôi vẫn phải đi theo cai ngục.
Hai viên cảnh sát chờ tôi ở bậc cửa xà lim. Người ta còng tay
tôi bằng cái cùm nhỏ và ấn chốt khóa cẩn thận. Tôi để họ làm, đó
chỉ là một cái máy trên một cái máy mà thôi.
Chúng tôi đi qua một cái sân phía trong. Khí trời ban mai làm
tôi thấy khoan khoái trở lại. Tôi ngẩng đầu lên. Bầu trời xanh và
những tia mặt trời nóng bỏng bị những ống khói cao cắt vụn,
rạch những góc ánh sáng trên các bức tường cao và tối của nhà
tù. Trời đẹp thật.
Chúng tôi bước lên một cầu thang hình xoắn ốc, đi qua một
hành lang, rồi một cái nữa, đến hành lang thứ ba thì một cửa
thấp mở ra. Một bầu khí nóng pha lẫn tiếng ồn quất vào mặt tôi.
Đó là hơi thở của đám đông trong phòng xử án. Tôi bước vào.
Khi tôi xuất hiện, tôi nghe thấy tiếng lách cách của vũ khí và
tiếng ồn ào của đám đông, tiếng ghế xê dịch. Tôi đi qua gian
phòng dài giữa hai hàng quần chúng được lính che kín. Dường
như tôi là tâm điểm gắn các sợi dây làm động đậy tất cả các
khuôn mặt, miệng há hốc và hơi cúi xuống.
Đến lúc đó tôi mới nhận ra là người ta đã cởi cùm cho tôi,
nhưng tôi không nhớ vào lúc nào và ở đâu.
Lúc bấy giờ, trong phòng xử án, một bầu không khí im lặng
bao trùm. Tôi được đưa vào chỗ ngồi. Đúng lúc tiếng ồn ào chấm
dứt, tâm trí tôi cũng trở lại thanh thản, các ý nghĩ trở nên rành
rọt. Tôi bỗng hiểu một cách rõ ràng những điều tôi chỉ thoáng
thấy lờ mờ cho tới nay và giờ đây, giờ phút quyết định đã đến và
tôi có mặt ở đây để nghe tuyên án.
Muốn giải thích ra sao thì giải thích nhưng theo cách mà ý
nghĩ đó đến với tôi thì nó không hề làm tôi sợ hãi. Các cửa sổ đều
mở toang cánh, khí trời và tiếng động của thành phố tự do từ
ngoài ùa vào. Gian phòng sáng sủa như để chuẩn bị lễ cưới.
Những tia nắng vui vẻ của mặt trời đây đó vạch ra hình ảnh sáng
ngời của các hình chữ thập khi thì chạy dài trên sàn nhà, khi thì
trải trên bàn, lúc thì gãy khúc ở góc tường, và từ những hình quả
trám rực rỡ đến cửa sổ, mỗi một tia nắng vẽ lên trong không khí
một khối lăng trụ lớn toàn bụi vàng.
Cuối phòng, các vị thẩm phán có vẻ hài lòng, chắc hẳn là vui
vẻ vì đã hoàn thành tốt công việc. Khuôn mặt ông chánh án được
soi sáng nhè nhẹ bằng ánh sáng từ cửa kính hắt vào, có vẻ hơi
hiền lành và tốt bụng. Một vị trợ tá trẻ tuổi nói chuyện gần như
vui vẻ, tay vò nhàu chiếc cà vạt màu trắng phủ ra ngoài cổ áo dài
đen rộng của quan tòa, với một bà mệnh phụ xinh đẹp được ưu
tiên ngồi sau lưng ông ta.
Chỉ có các quan bồi thẩm là có vẻ nhợt nhạt, suy sụp, bề ngoài
mệt mỏi vì đã thức suốt đêm để luận tội. Một vài vị ngáp. Nhìn
qua tư cách của họ không thấy gì chứng tỏ họ vừa quyết định
một bản án tử hình và trên khuôn mặt các ông trưởng giả tốt
bụng ấy, tôi chỉ đoán được là họ rất buồn ngủ.
Trước mặt tôi là một khuôn cửa sổ mở rất rộng. Tôi nghe thấy
tiếng cười của người bán hoa từ ngoài hè phố vọng vào và trên
mép hình chữ thập đó, trong khe đá có một cây con màu vàng,
tràn ngập trong tia nắng đu đưa trước gió.
Làm sao một ý nghĩ hung dữ lại có thể ló ra giữa bao nhiêu
cảm giác dịu dàng như thế nhỉ? Tràn ngập trong không khí và
ánh sáng, tôi không thể nào nghĩ gì khác hơn là nghĩ đến tự do.
Phần hy vọng tỏa sáng trong tôi như ánh sáng ban ngày bao
quanh tôi và lòng tin tưởng, tôi chờ đợi phán quyết của tòa như
người ta chờ đợi sự giải thoát và cuộc sống.
Tuy nhiên luật sư của tôi đã đến. Mọi người đang chờ ông. Ông
vừa dự một bữa trưa sang trọng và ăn rất ngon miệng. Đến chỗ
ngồi của tôi, ông ta cúi nghiêng đầu chào tôi với một nụ cười.
– Tôi hy vọng. - Ông ta nói với tôi.
– Có phải là hy vọng không? - Tôi trả lời nhẹ nhàng và cũng
mỉm cười đáp lại.
– Đúng. - Ông ta nhắc lại. - Tôi còn chưa biết một tí gì về lời
phát biểu của các quan tòa nhưng chắc chắn họ đã bác bỏ phán
xét của phiên xử trước và như thế sẽ là khổ sai chung thân thôi.
– Ông nói gì thế, thưa ông luật sư. - Tôi trả lời phẫn nộ: như
vậy thì trăm lần thà chết.
Vâng, thà chết. Vả lại có một giọng nói ở bên trong nhắc với
tôi. Tôi sợ gì mà không nói rõ ra điều đó. Có bao giờ người ta
tuyên án tử hình vào lúc khác hơn là lúc nửa đêm, phải đốt đuốc
trong căn phòng u tối, đen kịt và vào một đêm đông lạnh giá?
Nhưng đây là vào buổi sáng tháng tám, một ngày đẹp trời như
thế này thưa các vị thẩm phán tốt bụng. Thật là không thể thế
được, rồi mắt tôi lại trở lại nhìn dán vào bông hoa vàng dưới ánh
mặt trời.
Bất thình lình vị chánh án thấy luật sư của tôi đã đến, liền như
có một dòng điện chạy qua, hết thảy mọi người trong phòng xử
án nhất loạt đứng dậy. Một khuôn mặt tầm thường vô tích sự, tôi
nghĩ đó là viên lục sự. Anh ta phát biểu và đọc bản phán quyết
mà các quan tòa đã biểu quyết trong khi tôi không có ở đấy.
Chân tay tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi phải dựa vào tường để khỏi
ngã.
Chánh án hỏi luật sư của tôi: Ông có điều gì muốn nói về áp
dụng khung hình phạt không?
Đáng lẽ ra tôi có nhiều điều để nói nhưng không hiểu sao cứ
lặng đi, không nói lên được một lời nào, lưỡi dán chặt vào vòm
miệng.
Người bảo vệ đứng dậy.
Tôi hiểu rằng ông ta tìm cách giảm nhẹ lời công bố của đoàn
bồi thẩm và giảm xuống không phải là án này mà là án kia, cái
đã làm tôi rất bực tức khi nghe ông ta nói là ông ta hy vọng.
Sự phẫn nộ của tôi đã quá mạnh để lộ ra trăm nghìn cảm xúc
đang dồn nén trong tâm trí tôi. Tôi muốn hét to lên điều tôi đã
nói với ông ta: Thà một trăm lần chết còn hơn! Nhưng tôi không
còn đủ hơi sức để nói. Tôi chỉ có thể ngăn ông ta lại bằng cách
giơ cao cánh tay kêu lên một tiếng đau đớn: Không!
Viên chưởng lý tranh tụng với luật sư. Tôi lắng nghe họ với
một sự hài lòng ngu xuẩn. Rồi các vị thẩm phán ra ngoài, và trở
lại, sau đó ông chánh án lạnh lùng tuyên án.
Có tiếng xì xào trong đám đông. Trong lúc tôi bị dẫn đi, đám
đông ùa theo tôi, ồn ào như một tòa nhà đang đổ sập. Còn tôi
bước đi, lảo đảo như người say rượu, sững sờ một sự khuấy động
vừa xảy ra trong tôi. Cho đến lúc bị tuyên án tôi vẫn cảm thấy
được hít thở, tim vẫn đập mạnh trong cùng một môi trường sống
như mọi người khác. Bây giờ tôi phân biệt rõ giữa tôi và mọi
người có một hàng rào ngăn cách.
Đối với tôi không còn gì có chung một dáng vẻ với mọi người
như trước. Cũng vẫn những cửa sổ rộng mở, ánh sáng chói
chang, cũng vẫn mặt trời rực rỡ, bầu trời trong xanh, cũng vẫn
đóa hoa xinh đẹp nhưng tất cả bây giờ đều trắng bệch, nhợt nhạt
như một tấm vải liệm. Những người đàn ông ấy, những người
đàn bà ấy, những đứa trẻ ấy chen chúc xô đẩy nhau ùa ra chỗ tôi
bị dẫn đi qua, tôi thấy họ như những bóng ma.
Bên dưới cầu thang một chiếc ô tô màu đen có lưới sắt ở các ô
cửa, bẩn thỉu chờ sẵn. Lúc trèo lên, tôi bâng quơ nhìn ra quảng
trường.
– Một tên tử tù!
Những người qua đường vừa kêu lên vừa chạy đến chỗ tôi.
Qua đám mây đen tưởng như ngăn cách tôi và mọi sự vật chung
quanh, tôi nhận ra hai cô gái trẻ, chạy theo tôi với cặp mắt hau
háu.
– Chỉ còn sống được sáu tuần nữa thôi, tiếng cô trẻ hơn vỗ tay
thốt lên.
Chương 3
Tử tù!
Tại sao không? Tôi nhớ đã đọc trong một cuốn sách nào đó có
câu như thế này: “Tất cả mọi người đều bị kết án tử hình, thời
gian hoãn không xác định”[1]. Vậy có gì thay đổi so với hoàn cảnh
của tôi hiện nay?
Từ khi bản án được tuyên, bao nhiêu người nghĩ là được sống
lâu thế mà đã chết rồi! Bao nhiêu người đã đi trước tôi, những
thanh niên tự do và lành mạnh, tưởng được trông thấy đầu tôi rơi
vào một ngày nào đó ở quảng trường Grève. Từ nay đến hôm đó,
có bao nhiêu con người giờ đây đang tiếp bước, đang hít thở
trong bầu trời lồng lộng sẽ phải ra đi trước tôi?
Và rồi cuộc sống với tôi còn có gì đáng luyến tiếc nữa! Thực tế
ban ngày trong ngục tối với mẩu bánh mì đen nhẻm kèm một
bát nước canh loãng toẹt múc ở chiếc thùng gỗ do người tù đem
đến, tôi, một con người đã được hưởng thụ một nền giáo dục
mềm mỏng, - bị bọn cai tù đối xử thô bạo, tàn nhẫn, bao giờ được
gặp một người có thể nghĩ rằng tôi đáng để họ bắt chuyện và
đáng được trả lời, luôn luôn giật mình về việc tôi đã làm và về
việc người ta sẽ làm đối với tôi; đấy hầu như là những tài sản duy
nhất mà tên đao phủ có thể tước đoạt của tôi. - Mặc dù vậy, vẫn
là kinh khủng.
Chương 4
Chiếc ô tô màu đen chở tôi đến đây, trong nhà tù Bicêtre ghê
tởm này.
Nhìn từ xa, tòa nhà này có một vẻ uy nghi nào đó trải rộng ở
cuối chân trời, trước một ngọn đồi còn giữ lại được một vẻ đẹp cổ
kính xưa kia, một dáng vẻ lâu đài vua chúa. Nhưng khi càng đến
gần, tòa cung điện trở thành một tòa nhà tồi tàn đổ nát. Đầu hồi
bị hư hại như đâm vào mắt. Tôi không biết có gì đáng xấu hổ và
nghèo nàn hơn đã làm bẩn mặt ngoài của cung điện nhà vua.
Người ta có thể nói các bức tường như bị hủi gặm nhấm. Không
còn kính, không còn gương ở cửa sổ mà chỉ là những tấm sắt che
chắn đặt chéo nhau, đây đó dán những hình ảnh xanh xao gầy gò
một tên cai tù hay một thằng điên.
Đó là cuộc sống nhìn gần.
Chương 5
Vừa đến nơi, người ta vội vàng cùm tay tôi lại. Người ta tăng
gấp bội các biện pháp đề phòng: không một con dao, không một
dĩa cho tôi khi ăn. Một loại túi vải buồm - áo trói người điên - bọc
kín cánh tay tôi. Người ta có trách nhiệm phải giữ cho tôi sống
đến ngày lên đoạn đầu đài. Tôi đã xin chống án. Chỉ còn sáu hay
bảy tuần nữa cho một vụ việc tốn kém này, cần phải để tôi sống
bình an vô sự đặng đi tới quảng trường Grève.
Những ngày đầu người ta đối xử với tôi dịu dàng đến ghê
người. Thái độ vì nể của viên cai ngục đối với tôi như ngửi thấy
mùi máy chém. May thay, chỉ sau vài ngày, thói quen lại nổi dậy
chiếm ưu thế. Họ lẫn lộn tôi với các phạm nhân khác, áp dụng
một thái độ tàn bạo chung cho tất cả và không còn sự phân biệt
đối xử với tôi là phải có xử sự lễ phép khác thường để tên đao
phủ luôn luôn xuất hiện trước mắt tôi. Đây không phải là sự cải
thiện cuối cùng.
Tuổi trẻ của tôi, thái độ ngoan ngoãn quy phục của tôi, sự ân
cần của cha tuyên uý trong nhà tù, và nhất là vài lời bằng tiếng
La tinh tôi nói với người gác cổng mà anh ta không hiểu đã khiến
tôi được hưởng một buổi dạo chơi mỗi tuần cùng với những
phạm nhân khác và trút bỏ được áo trói người điên làm tôi như
bị liệt. Sau nhiều lần do dự người ta cũng cho tôi một ít mực,
giấy, bút và một chiếc đèn đêm.
Chủ nhật nào cũng vậy, sau lễ misa, người ta thả tôi đi lại
trong sân nhà tù trong giờ giải lao. Ở đó tôi trò chuyện với các
phạm nhân. Phải như thế. Họ là những người tử tế, những người
khốn khổ. Họ kể cho tôi nghe về những thủ đoạn của họ, có lẽ để
gây khiếp đảm, nhưng tôi biết là họ chỉ khoác lác. Họ dạy tôi
tiếng lóng mà họ gọi là đòi hỏi cái đe có hai đầu nhọn rouscailler
bigorne.
Đây là một thứ ngôn ngữ ghép vào ngôn ngữ chung như một
khối u gớm ghiếc, một chiếc mụn cóc ngoài da. Đôi khi tiếng
lóng có một năng lực đặc biệt, một cái đẹp rùng rợn như “máu
đổ trên đường” thì gọi là “nho ép ở ngã ba đường”, bị treo cổ thì
gọi là “kết hôn với bà góa” làm như thể cái dây thòng lọng của
giá treo cổ là góa phụ của tất cả những kẻ bị buộc tội treo cổ. Cái
đầu kẻ trộm có hai tên, sorbonne[2] - khi nó lý luận và bày ra tội
ác, trouche[3] là cái sọ hay cái thủ, khi nó bị đao phủ cắt cổ.
Đôi khi với tinh thần hài hước dân dã, người ta gọi cái lưỡi là
mụ đàn bà nói điêu, cái gùi của người đi lượm vải rách, sắt vụn
hay giấy vụn là cachemire d'osier - casơmia là một thứ vải dệt
bằng lông dê rất quý ở Ấn Độ, còn osier là cây liễu gió, thứ nguyên
liệu đan giỏ, gùi, v.v…
Rồi từng lúc lại có những từ rất lạ tai, bí ẩn, xấu xa, bẩn thỉu
không biết từ đâu đến như taule là tiếng lóng chỉ nhà tù, trong
khi taule có thể hiểu là nhà ở khách sạn. Sự chết là hình nón
cône, nơi hành hình gọi là placarde có nghĩa là quảng trường, là
chỗ ngồi hay chỗ làm béo bở. Người ta có thể nói tiếng lóng xấu
xa như loài cóc nhái, loài nhện. Khi nghe nói thứ tiếng này, tôi
cảm thấy một cái gì đó dơ bẩn, bụi bặm, như thể một đống giẻ
mà người ta giũ trước mặt anh.
Ít nhất, tôi cũng thấy thích những con người ấy. Chỉ có họ mới
làm tôi thú vị. Các cai ngục, người đeo chìa khóa phòng giam tôi đâu có giận họ - trò chuyện, cười nói về tôi, nói trước mặt tôi
như nói về một đồ vật.
Chương 6
Tôi tự nhủ: Tôi có phương tiện để viết, tại sao tôi không viết
nhỉ? Nhưng viết gì mới được chứ?
Bị giam cầm giữa bốn bức tường đá trần trụi, lạnh lẽo, chân
không được bước tự do, mắt không được nhìn thấu chân trời, chỉ
có một trò giải trí duy nhất là ngày nào cũng bận theo dõi một
cách máy móc tiến trình chậm chạp của ô vuông màu trắng nhạt
được cái lỗ nhìn của buồng giam đối diện với cái tường u tối cắt
vụn. Và như tôi nói ban nãy, một mình với một ý nghĩ về tội giết
người và hình phạt tử hình, có phải tôi có điều muốn nói, tôi
không có việc gì để làm ở thế giới này. Và tôi sẽ tìm thấy gì trong
bộ não héo hắt và trống rỗng này, đáng mất công để viết chăng?
Tại sao lại không? Nếu tất cả xung quanh tôi đều đơn điệu, tẻ
nhạt thì trong tôi làm gì có bão tố, có đấu tranh và bi kịch? Cái ý
tưởng cố định ấy luôn luôn ám ảnh tôi, hiện diện trong tôi mỗi
giờ, mỗi lúc dưới một hình thái khác, lúc nào cũng càng xấu xa
nhuốm máu, mỗi khi thời hạn thi hành án đến gần? Tại sao tôi
không cố nói với chính mình những điều tôi cảm thấy. Có cái gì
là bạo lực, là không biết trong tình cảnh bị bỏ rơi như hoàn cảnh
của tôi hiện nay.
Chắc hẳn là vật chất phong phú và cuộc đời tôi dù rút ngắn
như thế cũng còn khối chuyện phải nói trong các mối lo toan,
trong sự khiếp sợ, trong các lần tra tấn, từ lúc này đến giờ cuối
cùng còn có nhiều chuyện để làm mòn ngòi bút và cạn lọ mực.
Vả lại, những mối lo toan ấy, cách duy nhất để giảm đau khổ là
quan sát chúng và việc tô vẽ chúng sẽ giải khuây cho tôi. Và rồi,
những điều tôi sẽ viết ra có lẽ sẽ không phải là vô ích.
Quyển nhật ký ghi những đau khổ của tôi, từng giờ, từng phút,
hết nhục hình này đến nhục hình khác, nếu tôi có đủ sức lực để
viết cho đến lúc về mặt thể xác tôi không tiếp tục được nữa. Câu
chuyện ấy chắc là còn dang dở nhưng cũng nói lên đầy đủ trong
khả năng cho phép. Các cảm giác của tôi lẽ nào lại không mang
theo bài học lớn và sâu sắc nào hay sao? Phải chăng trong các
biên bản nói về ý nghĩ đang hấp hối, trong nỗi đau ngày một
tăng lên, trong cái thứ giải phẫu trí tuệ của một tử tù lại không có
thêm một bài học cho những kẻ kết án như tôi chăng?
Có lẽ đọc đoạn này sẽ làm bàn tay của họ nhẹ nhàng hơn
chăng khi một lần khác phải ném cái đầu biết suy nghĩ, một cái
đầu người vào cái được họ gọi là cán cân công lý! Chẳng lẽ họ
không bao giờ suy nghĩ đến cái chuỗi tra tấn chậm chạp mà một
bản án tử hình được soạn thảo mau mắn gây ra cho kẻ tử tù?
Chẳng lẽ không bao giờ họ có ý nghĩ xót xa cho rằng trong con
người mà họ sẽ xóa đi khỏi cuộc sống có một trí tuệ, một trí tuệ
dựa vào cuộc sống mà tồn tại, một tâm hồn không bao giờ sẵn
sàng để chết? Không! Họ chỉ nhìn thấy cái lưỡi dao ba góc rơi
thẳng đứng xuống và chẳng có gì sau khi lên đoạn đầu đài.
Mong cho những trang viết này sẽ làm cho họ tỉnh ngộ! Có lẽ
đến một ngày nào đó những trang viết này được công bố sẽ làm
cho họ nghĩ trong giây lát đến những đau khổ về tinh thần vì đó
là những đau khổ mà họ không thể hoài nghi. Họ đắc chí là đã có
thể giết chết một con người không làm đau khổ đến thể xác. Vấn
đề là ở chỗ đó. Thế nào là đau khổ về thể xác bên cạnh đau khổ
về tinh thần và thương hại cho những luật pháp được làm như
thế! Một ngày nào đó có lẽ những hồi ức này, những lời tâm sự
cuối cùng này của một kẻ khốn cùng sẽ góp phần tham gia vào
một việc làm như vậy….
Chỉ mong là sau khi tôi chết gió sẽ không thổi bay những mẩu
giấy vấy bùn này trong sân nhà tù hoặc sẽ thổi đi khi nước mưa
rơi xuống hoặc dán vào kính vỡ của người cai ngục như những
ngôi sao.
Chương 7
Mong cho những điều tôi viết ra một ngày kia sẽ có ích cho
người khác, sẽ làm quan tòa đã sẵn sàng xử án phải dừng tay,
mong cho điều đó cứu được những người khốn khổ vô tội hay có
tội ra khỏi cơn hấp hối như tôi đã bị kết án. Tại sao? Để làm gì?
Có quan trọng gì đâu? Khi đầu tôi đã bị chặt rồi, người ta có chặt
đầu những người khác thì cũng chẳng làm gì tôi được. Thật sự tôi
có nghĩ đến sự điên cuồng này không? Hãy phá bỏ đoạn đầu đài
sau khi tôi đã leo lên? Tôi thử hỏi bạn xem điều đó có lợi gì cho
tôi nào?
Sao? Mặt trời mùa xuân, những cánh đồng đầy hoa, những
con chim thức giấc lúc ban mai, mây, cây cối, thiên nhiên tự do,
cuộc sống, tất cả những cái đó không thuộc về tôi nữa chăng?
Ôi! Chính tôi mới là người cần phải giải cứu. Có đúng là điều
đó không thể xảy ra, là ngày mai tôi phải chết, có lẽ hôm nay
cũng có thể? Ôi, Thượng đế! Ý nghĩ khủng khiếp là đâm đầu vào
tường ngục tối cho vỡ tan.
Chương 8
Hãy tính xem tôi còn bao nhiêu ngày nữa? Ba ngày sau khi
tuyên án người bị kết án có thể chống án.
Tám ngày bị bỏ quên tại Viện Công tố, Tòa Đại hình, sau đó
toàn bộ hồ sơ - như họ nói - đều được gửi lên Bộ trưởng. Mười
lăm ngày chờ đợi ở Văn phòng Bộ trưởng, bản thân ông này cũng
chẳng biết có hồ sơ ấy hay không, tuy nhiên vẫn được giả định là
sau khi xem xét xong sẽ gửi lên Tòa Thượng thẩm.
Ở đó người ta xếp loại, đánh số, vào sổ vì máy chém còn đang
bận chém đầu một tử tù khác và mỗi người dù sẽ bị chặt đầu
cũng phải chờ đến lượt đã.
Mười lăm ngày trôi qua để xem trường hợp này có phải là
ngoại lệ không. Cuối cùng tòa họp lại, theo thông lệ là vào ngày
thứ năm bác bỏ hai chục trường hợp chống án rồi đệ trình tất cả
các vụ còn lại lên Bộ trưởng xem xét, rồi chuyển sang cho quan
chưởng lý, cuối cùng chuyển sang đao phủ. Tất cả là ba ngày!
Đến sáng ngày thứ tư, người tạm thay quan chưởng lý vừa thắt
cà vạt vừa nói: Dù sao, phải kết thúc vụ này thôi, vậy nếu ông
quyền lục sự không bận ăn trưa với bạn bè, lệnh thi hành án sẽ
viết xong bản nháp, được soạn thảo thành văn bản, sau khi
chỉnh lý sẽ được gửi đi và hôm sau, vào lúc rạng đông, người ta
nghe thấy tiếng đóng xà ngang ở quảng trường Grève, và trên
các ngã tư, sẽ vang lên tiếng hét khản đặc của các mõ tòa thông
báo cho mọi người biết án tử hình được thi hành.
Tất cả là sáu tuần, mọi việc sẽ xong hết. Con bé thế mà nói
đúng.
Thế là tôi đã ở trong xà lim nhốt tử tù ở Bicêtre ít nhất là năm
tuần, có lẽ là sáu, tôi không dám tính, vậy mà hình như chỉ mới
cách đây ba ngày, là ngày thứ năm.
Chương 9
Tôi vừa viết xong chúc thư. Để làm gì nhỉ? Người ta đã chi phí
tốn kém để kết án tôi. Tất cả của cải tôi để lại cũng không đủ bù
lại. Máy chém quả là quá đắt. Tôi để lại một người mẹ, tôi để lại
một người vợ, tôi để lại một đứa con.
Một đứa con gái mới lên ba, dịu dàng, hồng hào, yếu ớt, mắt to
và đen, tóc dài màu hạt dẻ.
Lần cuối cùng tôi gặp con, lúc đó nó mới hai năm một tháng.
Như vậy sau khi tôi chết, có ba người phụ nữ vì luật pháp mà
đành chịu mất con, mất chồng, mất cha. Ba người mồ côi theo ba
kiểu, ba người góa bụa về mặt luật pháp.
Tôi công nhận tôi bị trừng phạt là đáng lắm. Nhưng ba con
người đó, họ đã làm gì nên tội? Vậy mà người ta phỉ báng họ, làm
họ suy sụp. Công lý là vậy. Không phải bà mẹ đáng thương của
tôi khiến tôi lo lắng. Năm nay bà đã sáu tư tuổi, cũng chết nay
mai thôi, hoặc giả bà còn sống thêm ít ngày nữa miễn sao đến
ngày cuối cùng vẫn còn tro nóng trong cái lò sưởi của bà. Bà sẽ
không nói năng gì hết.
Vợ tôi cũng chẳng làm tôi lo lắng buồn phiền. Thể trạng cô ấy
lâu nay vẫn tồi tệ. Cô ấy rồi cũng sẽ chết. Trừ phi cô ta phát điên.
Người ta nói như thế cô ấy còn sống lâu hay ít nhất tâm trí cũng
không phải chịu đau đớn. Cô ấy ngủ coi như chết rồi.
Nhưng đứa con gái bé bỏng của tôi, bé Marie đáng thương giờ
này vẫn đang cười, đang chơi, đang ca hát, nó không nghĩ gì hết.
Chính con bé mới làm tôi khổ sở.
Chương 10
Đây là cái ngục tối tôi đang bị nhốt.
Hình vuông, mỗi chiều 8 piê (1 piê 30 cm), bốn bức tường
bằng đá đẽo, đặt trên nền đá lát cao hơn hành lang bên ngoài
một bậc.
Bên phải cửa ra vào có một chỗ thụt vào, như một cái hốc kê
chiếc giường, người ta vất vào đấy một bó rơm coi như có chỗ để
người tù nghỉ ngơi và ngủ. Quần áo của người tù chỉ là một chiếc
quần vải và một chiếc áo bằng vải chéo, đông hay hè cũng chỉ có
vậy.
Trên đầu tôi không phải trời cao lồng lộng mà là một vòm đen
ngòm hình cung nhọn, giăng đầy mạng nhện. Vả lại, không có
cửa sổ, một lỗ để ánh sáng bên ngoài lọt vào như cửa sổ tầng
hầm cũng chẳng có. Một cửa ra vào, cánh bằng gỗ nhưng bọc kín
bằng sắt có một ô vuông mỗi chiều 9 pút (mỗi pút khoảng 27
mm), có chấn song sắt chữ thập và buổi tối cai ngục đóng lại.
Bên ngoài là một hành lang hẹp, được chiếu sáng và thoáng
nhờ những ô cửa hẹp ở trên tường và chia thành nhiều ngăn
bằng gạch xây thông với nhau bằng một loạt cửa hẹp và thấp.
Mỗi một ngăn đó được dùng như phòng đợi giống như xà lim án
chém của tôi. Trong các xà lim này viên quản trại nhốt những
tên tù khổ sai vi phạm kỷ luật của trại. Có ba xà lim đầu tiên
dành để giam những tử tù đợi ngày ra pháp trường. Ba xà lim
này ở gần nhà ngục nhất nên rất tiện cho cai ngục để mắt.
Những xà lim này là tất cả những gì còn lại của lâu đài Bicêtre
do Hồng y giáo chủ Winchester xây từ thế kỷ XV, chính ông đã
cho thiêu sống Jean d'Arc. Tôi được nghe người ta nói như thế
hôm nọ, với những người tò mò đến tham quan, họ đã đứng xa
nhìn tôi như nhìn một con vật lạ ở vườn thú. Viên cai ngục đã bỏ
túi một trăm xu vì chuyện này.
Tôi quên không nói rằng đêm ngày có một lính gác túc trực ở
cửa xà lim của tôi và mỗi khi tôi ngước mắt nhìn qua ô cửa hình
vuông bên trên cửa ra vào thì đều gặp phải cặp mắt của người
lính gác lúc nào cũng mở trừng trừng nhìn tôi.
Vả chăng người ta giả định rằng trong chiếc hộp hình vuông
bằng đá này vẫn có không khí và ánh sáng ban ngày.
Chương 11
Đã coi như ban ngày không có thì ban đêm chẳng để làm gì.
Tôi nảy ra một ý tưởng. Tôi đứng dậy, lấy đèn soi lên bốn bức
tường thấy đầy những chữ viết, những bức vẽ, những hình thù kỳ
lạ, những tên người pha trộn chữ nọ với chữ kia chồng lấn lên
nhau. Hình như mỗi người bị án chém trước khi chết đều muốn
để lại dấu vết cho đời sau, ít nhất là tại đây. Nét viết, vẽ bằng bút
chì, bằng phấn, bằng than đủ các màu trắng đen, xám, đôi khi là
những nét khắc sâu vào tường đá, chỗ này, chỗ kia có màu gỉ sắt,
có thể nói là viết bằng máu. Chắc chắn nếu đầu óc thư thái hơn,
có thể tôi s...
 





