Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Nhà văn Bà Tùng Long

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 15h:34' 22-04-2025
Dung lượng: 94.9 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 15h:34' 22-04-2025
Dung lượng: 94.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Nhà Văn Bà Tùng Long
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Nhà Văn Bà Tùng Long
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Nhà Văn Bà Tùng Long
Tác Giả - tác Phẩm
Nhà văn nữ BÀ TÙNG LONG tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh ngày 1-81915 tại Đà Nẵng, quê nội ở thị xã Hội An. Khi cha về Hội An khai sinh
cho con, nhân viên hộ tịch ghi ngày 21-4-1915. Sở dĩ có sự ghi sai ngày
sinh của bà như vậy vì bấy giờ Đà Nẵng (tức Touranne) là thuộc địa của
thực dân Pháp, nên thân phụ của bà không muốn con mình là dân xứ thuộc
địa, mới về Hội An, quê nội, làm giấy khai sinh cho con. Còn ngày tháng
trong khai sinh ghi lộn xộn là vì lý do chính trị: Thân sinh của bà lúc đầu
làm việc trong một công ty tư của ngoại quốc, có tham gia phong trào Duy
Tân do nhà các mạng Phan Thành Tài (cha của Phan Bá Lân và Phan
Thuyết, sau này là giáo sư các trường Trung học tư thục Chấn Thanh và
Đạt Đức) dẫn đầu. Thân phụ bà làm liên lạc viên cho phong trào. Khi
phong trào tan vỡ, ông Phan Thành Tài bị thực dân Pháp bắt đưa lên đoạn
đầu đài, và một số khác bị đày Côn Đảo.
Trước hiểm họa ấy, thân mẫu bà lánh về Hội An ẩn náu với mẹ chồng. Bấy
https://thuviensach.vn
giờ bà nội của bà cũng đã già yếu. Vì chữ hiếu, buộc lòng thân phụ bà phải
thi vào sở Douanes (Thương chánh – nay gọi là Hải quan). Đó là lý do cô
bé Lê Thị Bạch Vân khai sinh ở Hội An và ghi lệch ngày chào đời ở Đà
Nẵng.
Vừa rồi, ngày 1 tháng 8, các con của bà có tổ chức buổi tiệc họp mặt mừng
mẹ tám mươi tuổi, ngày đó đúng là sinh nhật của bà.
Thời gian thân phụ và làm việc tại Sở Thương chánh Đà Nẵng, bà theo học
hết bậc Tiểu học tại đây, rồi ra Huế học trường Trung học Đồng Khánh.
Năm 1932, thân phụ bà đổi vào Sở Douanes Sài Gòn thì bà học những năm
cuối ban Trung học tại Collège Des Jeunes Filles Indigène (Nữ trung học
Bản xứ), vì nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím, cho nên người Sài Gòn
quen gọi là trường Áo Tím. (Sau đổi lại là trường Gia Long, mãi cho đến
sau ngày miền Nam giải phóng, trường đổi tên Trung học phổ thông
Nguyễn Thị Minh Khai cho đến nay).
Bà đã viết cho Trang Phụ Nữ của báo Sài Thành (sau đổi tên là Sàigòn
Mới) hồi còn ngồi ghế nhà trường. Ngoài bút danh Bà Tùng Long, bà còn
ký Lê Thị Bạch Vân.
Riêng bút danh “Bà Tùng Long” bà đã ký trong mục Gỡ Rối Tơ Lòng cho
nhật báo Sàigòn Mới, mục Tâm Tình Cởi Mở cho nhật báo Tiếng Vang, và
trên bốn mươi đầu sách đã xuất bản, với mười mấy truyện dài đăng báo
chưa in ra sách.
Nhà văn Bà Tùng Long đã đi vào văn đàn Việt Nam với sự ưu ái của độc
giả nhiều lứa tuổi thời bấy giờ.
Năm 1935, Bà Tùng Long kết hôn với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức
Huy tại Sài Gòn. Nhà báo Hồng Tiêu là người Quảng Ngãi, chủ bút nhật
báo Sài Thành bấy giờ, chuyên trách mục Tranh Xã Hội (Film du Jour), đả
phá thói hư tật xấu xã hội đương thời, dưới bút danh Như Hoa.
Bấy giờ Bà Tùng Long thuê manchette (bảng hiệu) tờ báo Tân Thời,
chuyên về vấn đề phụ nữ, vì lúc ấy báo Phụ Nữ Tân Văn đã đình bản. Khi
biết bà chủ trương tờ Tân Thời, một số bạn bè cũ ở trường Gia Long,
trường Pétrus Ký (Sài Gòn), trường Pellerin (Huế), đã góp sức cổ động cho
báo. Nhờ báo Tân Thời chủ trương đề cập những vấn đề thiết thân của chị
https://thuviensach.vn
em trong giới phê bình dân, báo được nhiều độc giả ủng hộ. Bà lại qui tụ
được nhiều bạn học cũ cộng tác. Người ở xa thì gởi bài về, những người ở
quanh vùng Sài Gòn, Gia Định thì đến làm việc luôn tại tòa soạn. Những
cây viết ấy phần đông tên tuổi còn xa lạ với độc giả, và cũng mới chân ướt
chân ráo bước vào làng báo như bà. Nhưng về sau, sau năm 1952 bà ở
Quảng Ngãi về lại Sài Gòn, thì bút danh Tùng Long của bà đã được “cầu
chứng” trong làng văn làng báo; như Nguyễn Trọng Trí đã nổi danh là nhà
thơ Hàn Mặc Tử đang dưỡng bệnh ở Qui Hòa; Nguyễn Đức Nhuận cũng là
nhà thơ đã được ghi tên trong quyển Thi Nhân Hiện Đại của Hoài Thanh,
Hoài Chân (Nguyễn Đức Nhuận này không phải Bút Trà Nguyễn Đức
Nhuận, anh chồng Bà Tùng Long); và một người là Nam Quốc Cang, đã trở
thành người hùng, hy sinh trong cuộc biểu tình chống Pháp của phong trào
Trần Văn Ơn.
Nhắc đến nhà báo Nam Quốc Cang, bà nhớ kỷ niệm khi Nam Quốc Cang
giữ mục Chuyện Hằng Tuần trên tờ tuần báo Tân Thời, nhà báo này viết;
“Người Việt Nam chúng tôi chỉ có bốn quyền Tư do, đó là Tự do cờ bạc,
Tự do rượu chè, Tự do hút sách và Tự do đĩ điếm”.
Thế là trong một buổi họp báo tại dinh Thống đốc Nam Kỳ (Thống đốc bấy
giờ là ông Khrautemer), họ cho đọc bài ấy giữa cuộc họp báo, bấy giờ gồm
có các ông Nguyễn Phan Long chủ nhiệm báo Việt Nam, Nguyễn Văn Sâm
chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam, Bút Trà chủ nhiệm báo Sài Thành, và bà
Thụy An, vợ của Băng Dương, chủ nhiệm báo Đàn Bà. Vì tác giả Nam
Quốc Cang vắng mặt, nên Bà Tùng Long đã lãnh đủ những lời chỉ trích ác
liệt, nào là tác giả có tư tưởng đen tối, công kích chính phủ Pháp… Và Viên
Thống đốc không quên kèm theo lời đe dọa, làm mọi người đều quay lại
mỉm cười nhìn bà – chẳng biết mỉa mai hay thương hại – chắc họ nghĩ là bà
mới bước vào làng báo, chưa biết sự lợi hại và nguy hiểm của lưỡi kéo
kiểm duyệt!
Sau đó, người chủ cho thuê bảng hiệu báo, thấy báo bán chạy liền tìm cách
lấy báo lại, mặc dù chưa hết giao kèo. Bấy giờ (1936) bà đang ốm nghén,
và trong giao kèo thuê báo còn lỏng lẻo, lại nữa chủ báo cũng là người bên
nhà chồng, nên bà bỏ luôn tờ báo, về nhà cụ thân sinh (đang ở Sài Gòn) để
https://thuviensach.vn
nghỉ ngơi chuẩn bị sinh con. Bà sinh con gái đầu lòng xong, sau đó vẫn đi
dạy trường Tôn Thọ Tường và chỉ còn viết cho trang Phụ Nữ của nhật báo
Sài Thành. Rồi năm 1949, Sài Gòn bị máy bay phe Đồng Minh thả bom,
thân sinh của bà đổi xuống Sở Douanes tỉnh Trà Vinh; ông bà Bút Trà về
Tân An tránh bom. Bà cũng bế con theo chồng về quê Quảng Ngãi.
Đúng ra, nguyên quán anh em ông Hồng Tiêu ở tỉnh Quảng Nam, nhưng cụ
nội xưa kia làm quan ở Bình Thuận. Khi đau nặng, gia nhân đưa về ngang
Quảng Ngãi thì mãn phần tại đây. Cụ bà (là cô của tiến sĩ Phạm Liệu, một
trong Ngũ Phụng Tề Phi xứ Quảng) là mẹ của thân sinh anh em ông Bút
Trà – Hồng Tiêu sau này, ở lại nơi chôn ông cụ để cư tang đái hiếu. Và rồi
nơi đây trở thành quê hương thứ hai của tộc họ Nguyễn Đức…
Khi về Quảng Ngãi, tỉnh lỵ cũng bị bom quân đồng minh, vợ chồng bà lại
chạy lên vùng Mỹ Thắng, Nghĩa Kỳ, nơi có thắng cảnh Thạch Bích Tà
Dương, mỗi chiều về nắng chiếu vào vách núi tạo nên một vẻ đẹp kỳ ảo, là
một trong những thắng tích của tỉnh Quảng Ngãi. Vì ở gần núi nên đêm về
gió lùa lạnh thấu xương.
Rồi Cách Mạng tháng 8 bùng lên, bà kẹt luôn ở đấy. Bà xin mở trường Tiểu
học lấy tên là Tân Dân, dạy những người lớn tuổi thất học, ban ngày làm
việc đồng áng, tối về lớp học. Trong số đó có cán bộ hành chánh, đoàn thể
đến học thêm ngoài giờ làm việc. Bà giúp một số anh chị em thi vào trường
Trung học Bình dân Chợ Chùa tỉnh Quảng Ngãi.
Sau này, có vài người học trò cũ ở trường Tân Dân thuở ấy, đã là cán bộ
cao cấp, nhân dịp vào Sài Gòn, đã tìm đến thăm bà. Gặp số học trò cũ, gợi
bà nhớ lại những kỷ niệm thời chín năm kháng chiến chống Pháp…
Bấy giờ là thời điểm UBHC tỉnh Quảng Ngãi chủ trương tiêu thổ kháng
chiến, lớp học ban ngày còn nhờ ánh sáng mặt trời, đến lớp đêm dạy anh
chị em cán bộ, phải đốt đèn dầu mù u, mỗi lần lên lớp là phải có hai người
học trò cầm đèn mù u đứng hai bên cho bà giảng bài. Bà không có sách để
dạy môn Toán (Arithmétique) và Hình học (Géométrie), nên phải tự soạn
chương trình và soạn những bài giảng Việt văn theo trí nhớ để dạy học (sau
này gọi là giáo án).
Dạy học trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy được bốn năm (từ 1945 đến
https://thuviensach.vn
1949), bà cũng đào tạo nhiều người được đưa vào trường Trung học Bình
dân (Chợ Chùa – Quảng Ngãi), giúp anh chị em cán bộ trước kia thiếu điều
kiện cắp sách đến trường, nay có thể tự học để nâng lên trình độ Trung học.
Sau đó, Ty Giáo dục địa phương thấy bà dạy có hiệu quả, mời làm Liên
hiệu trưởng coi thêm các trường học quanh vùng Nghĩa Kỳ.
Đến năm 1952, vì tình trạng khó khăn chung trong vùng kháng chiến, gia
đình bà thiếu ăn, các con và đói chỉ vì lương tháng dạy học của bà vừa mua
đủ hai mươi ngày gạo, cho dù bà lãnh thêu cờ, khăn, bao gối để kiếm thêm
cũng không đủ tiền nuôi con. Giới chức địa phương thông cảm hoàn cảnh
bà, chấp thuận cho bà dẫn con về vùng tạm chiến. Khi đó con trai út của bà,
nay là nhà văn Nguyễn Đông Thức mới tám tháng tuổi. Bấy giờ bà vào Sài
Gòn với các con, ông Hồng Tiêu ở lại.
Vào Sài Gòn, Bà Tùng Long vừa dạy học vừa viết báo để nuôi con. Bà
nhận dạy Pháp văn cho các trường trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les
Lauriers… đồng thời viết truyện dài từng ngày (feuilleton) cho các nhật báo
xuất bản ở Sài Gòn. Sau 1954, bà viết thêm cho các báo Đồng Nai, Tiếng
Vang, Tiếng Chuông, và các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn
Đàn, Phụ Nữ Mới, Phụ Nữ Ngày Mai, Duy Tân, Đông Phương… Và bà
chuyên trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên báo Sàigòn Mới, và mục Tâm Tình
Cởi Mở cho báo Tiếng Vang. Đặc biệt hai mục này bà có rất nhiều độc giả,
nhất là độc giả trẻ rất ái mộ.
Thời ấy, những truyện dài của bà vừa kết thúc trên báo đã có nhà xuất bản
thương lượng mua bản quyền để in sách. Từ năm 1956 đến 1958, bà đã cho
xuất bản trên hai mươi đầu sách, rồi từ 1963 đến 1972 bà tiếp tục cho xuất
bản trên hai mươi đầu sách nữa. Những đầu sách chúng tôi tra cứu được in
kèm dưới đây vẫn còn thiếu. Vì sau 1975 sách báo thất lạc rất nhiều. Mấy
năm gần đây bà cũng có cho tái bản mấy cuốn: Đời Con Gái, Hứa Hẹn,
Tỉnh Giấc Tình Si, Tìm Về Bến Thương, Mười Hai Bến Nước… nhưng bà
không được hài lòng vì nhà xuất bản in giấy xấu quá, thiếu thẩm mỹ.
Bà Tùng Long gác bút từ năm 1972, như bà đã trả lời cuộc phỏng vấn của
ký giả Trần Quân báo TIME năm 1961: “Tôi viết văn để nuôi con. Khi nào
các con tôi đứa lớn trưởng thành dìu dắt được đàn em nó, bấy giờ tôi sẽ
https://thuviensach.vn
nghỉ viết”.
Cho nên đến khi người con gái lớn của bà đỗ cử nhân Khoa học (hiện đang
công tác tại Công ty Dệt Phong Phú) và mấy người con trai của bà cũng đỗ
đạt, thành danh trong và ngoài nước, đã là giáo sư, luật sư… là bà toại
nguyện.
Và bà cũng “gác bút quy ẩn” từ dạo đó…
Quá trình đi học:
- Học hết bậc tiểu học trường Tiểu học Đà Nẵng.
- Học một năm Trung học Đồng Khánh – Huế.
- Chuyển vào học năm 2è Année (Đệ nhị niên) trường Aùo Tím (Collège
Des Jeunnes Filles Indigènes) – Sài Gòn.
Quá trình đi dạy:
- Dạy Pháp văn các trường Trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers ở
Sài Gòn (1950 – 1954).
- Làm Hiệu trưởng, Liên hiệu trưởng các trường Tiểu học Bình dân Học hội
ở Nghĩa Kỳ – Quảng Ngãi.
Quá trình hoạt động Văn học – Báo chí:
- Chủ bút Tuần báo Tân Thời (1935).
- Phụ trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên nhật báo Sàigòn Mới.
- Phụ trách mục Tâm Tình Cởi Mở trên nhật báo Tiếng Vang (1962 –
1972).
- Thư ký tòa soạn tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn.
- Đã cộng tác với các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai.
- Đã viết tiểu thuyết (feuilleton) cho các báo ở Sài Gòn từ năm 1954 1972.
- Đã có trên sáu mươi đầu sách được xuất bản từ năm 1956 đến 1972.
-Sau 1975 đã tái bản và in mới trên mười cuốn sách.
(Hiện nay tác phẩm của Bà tùng Long đã bị thất lạc trên năm mươi phần
trăm).
Ý niệm của nhà văn Bà Tùng Long:
-“Tôi vừa viết tiểu thuyết cho báo, vừa dạy con học, vừa thảo thực đơn cho
con gái đi chợ. Viết văn đối với tôi đã trở thành chuyên nghiệp chớ không
phải viết theo cảm hứng”.
https://thuviensach.vn
-“Tôi ngồi đâu cũng viết được và viết bất cứ lúc nào, khi có nhu cầu… Tôi
thích viết loại bút Bic mực màu đen, viết trên giấy báo đã in một mặt.”
-“Tôi viết văn để nuôi con. Khi các con tôi những đứa lớn trưởng thành, dìu
dắt được các em chúng, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết.”
-“Tôi làm báo chẳng những không bị gia đình rẻ rúng, mà còn được cha tôi
khuyến khích và chồng tôi dìu dắt. Tôi tự xét mình, thấy trong hai mươi
năm làm báo, tôi chưa hề “nói láo ăn tiền”…”
Trích " Hồi ký Bà Tùng Long" 2002
https://thuviensach.vn
Lời cuối: Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Nguồn: Báo Lao Động
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 10 năm 2005
https://thuviensach.vn
Nhà Văn Bà Tùng Long
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Nhà Văn Bà Tùng Long
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Nhà Văn Bà Tùng Long
Tác Giả - tác Phẩm
Nhà văn nữ BÀ TÙNG LONG tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh ngày 1-81915 tại Đà Nẵng, quê nội ở thị xã Hội An. Khi cha về Hội An khai sinh
cho con, nhân viên hộ tịch ghi ngày 21-4-1915. Sở dĩ có sự ghi sai ngày
sinh của bà như vậy vì bấy giờ Đà Nẵng (tức Touranne) là thuộc địa của
thực dân Pháp, nên thân phụ của bà không muốn con mình là dân xứ thuộc
địa, mới về Hội An, quê nội, làm giấy khai sinh cho con. Còn ngày tháng
trong khai sinh ghi lộn xộn là vì lý do chính trị: Thân sinh của bà lúc đầu
làm việc trong một công ty tư của ngoại quốc, có tham gia phong trào Duy
Tân do nhà các mạng Phan Thành Tài (cha của Phan Bá Lân và Phan
Thuyết, sau này là giáo sư các trường Trung học tư thục Chấn Thanh và
Đạt Đức) dẫn đầu. Thân phụ bà làm liên lạc viên cho phong trào. Khi
phong trào tan vỡ, ông Phan Thành Tài bị thực dân Pháp bắt đưa lên đoạn
đầu đài, và một số khác bị đày Côn Đảo.
Trước hiểm họa ấy, thân mẫu bà lánh về Hội An ẩn náu với mẹ chồng. Bấy
https://thuviensach.vn
giờ bà nội của bà cũng đã già yếu. Vì chữ hiếu, buộc lòng thân phụ bà phải
thi vào sở Douanes (Thương chánh – nay gọi là Hải quan). Đó là lý do cô
bé Lê Thị Bạch Vân khai sinh ở Hội An và ghi lệch ngày chào đời ở Đà
Nẵng.
Vừa rồi, ngày 1 tháng 8, các con của bà có tổ chức buổi tiệc họp mặt mừng
mẹ tám mươi tuổi, ngày đó đúng là sinh nhật của bà.
Thời gian thân phụ và làm việc tại Sở Thương chánh Đà Nẵng, bà theo học
hết bậc Tiểu học tại đây, rồi ra Huế học trường Trung học Đồng Khánh.
Năm 1932, thân phụ bà đổi vào Sở Douanes Sài Gòn thì bà học những năm
cuối ban Trung học tại Collège Des Jeunes Filles Indigène (Nữ trung học
Bản xứ), vì nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím, cho nên người Sài Gòn
quen gọi là trường Áo Tím. (Sau đổi lại là trường Gia Long, mãi cho đến
sau ngày miền Nam giải phóng, trường đổi tên Trung học phổ thông
Nguyễn Thị Minh Khai cho đến nay).
Bà đã viết cho Trang Phụ Nữ của báo Sài Thành (sau đổi tên là Sàigòn
Mới) hồi còn ngồi ghế nhà trường. Ngoài bút danh Bà Tùng Long, bà còn
ký Lê Thị Bạch Vân.
Riêng bút danh “Bà Tùng Long” bà đã ký trong mục Gỡ Rối Tơ Lòng cho
nhật báo Sàigòn Mới, mục Tâm Tình Cởi Mở cho nhật báo Tiếng Vang, và
trên bốn mươi đầu sách đã xuất bản, với mười mấy truyện dài đăng báo
chưa in ra sách.
Nhà văn Bà Tùng Long đã đi vào văn đàn Việt Nam với sự ưu ái của độc
giả nhiều lứa tuổi thời bấy giờ.
Năm 1935, Bà Tùng Long kết hôn với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức
Huy tại Sài Gòn. Nhà báo Hồng Tiêu là người Quảng Ngãi, chủ bút nhật
báo Sài Thành bấy giờ, chuyên trách mục Tranh Xã Hội (Film du Jour), đả
phá thói hư tật xấu xã hội đương thời, dưới bút danh Như Hoa.
Bấy giờ Bà Tùng Long thuê manchette (bảng hiệu) tờ báo Tân Thời,
chuyên về vấn đề phụ nữ, vì lúc ấy báo Phụ Nữ Tân Văn đã đình bản. Khi
biết bà chủ trương tờ Tân Thời, một số bạn bè cũ ở trường Gia Long,
trường Pétrus Ký (Sài Gòn), trường Pellerin (Huế), đã góp sức cổ động cho
báo. Nhờ báo Tân Thời chủ trương đề cập những vấn đề thiết thân của chị
https://thuviensach.vn
em trong giới phê bình dân, báo được nhiều độc giả ủng hộ. Bà lại qui tụ
được nhiều bạn học cũ cộng tác. Người ở xa thì gởi bài về, những người ở
quanh vùng Sài Gòn, Gia Định thì đến làm việc luôn tại tòa soạn. Những
cây viết ấy phần đông tên tuổi còn xa lạ với độc giả, và cũng mới chân ướt
chân ráo bước vào làng báo như bà. Nhưng về sau, sau năm 1952 bà ở
Quảng Ngãi về lại Sài Gòn, thì bút danh Tùng Long của bà đã được “cầu
chứng” trong làng văn làng báo; như Nguyễn Trọng Trí đã nổi danh là nhà
thơ Hàn Mặc Tử đang dưỡng bệnh ở Qui Hòa; Nguyễn Đức Nhuận cũng là
nhà thơ đã được ghi tên trong quyển Thi Nhân Hiện Đại của Hoài Thanh,
Hoài Chân (Nguyễn Đức Nhuận này không phải Bút Trà Nguyễn Đức
Nhuận, anh chồng Bà Tùng Long); và một người là Nam Quốc Cang, đã trở
thành người hùng, hy sinh trong cuộc biểu tình chống Pháp của phong trào
Trần Văn Ơn.
Nhắc đến nhà báo Nam Quốc Cang, bà nhớ kỷ niệm khi Nam Quốc Cang
giữ mục Chuyện Hằng Tuần trên tờ tuần báo Tân Thời, nhà báo này viết;
“Người Việt Nam chúng tôi chỉ có bốn quyền Tư do, đó là Tự do cờ bạc,
Tự do rượu chè, Tự do hút sách và Tự do đĩ điếm”.
Thế là trong một buổi họp báo tại dinh Thống đốc Nam Kỳ (Thống đốc bấy
giờ là ông Khrautemer), họ cho đọc bài ấy giữa cuộc họp báo, bấy giờ gồm
có các ông Nguyễn Phan Long chủ nhiệm báo Việt Nam, Nguyễn Văn Sâm
chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam, Bút Trà chủ nhiệm báo Sài Thành, và bà
Thụy An, vợ của Băng Dương, chủ nhiệm báo Đàn Bà. Vì tác giả Nam
Quốc Cang vắng mặt, nên Bà Tùng Long đã lãnh đủ những lời chỉ trích ác
liệt, nào là tác giả có tư tưởng đen tối, công kích chính phủ Pháp… Và Viên
Thống đốc không quên kèm theo lời đe dọa, làm mọi người đều quay lại
mỉm cười nhìn bà – chẳng biết mỉa mai hay thương hại – chắc họ nghĩ là bà
mới bước vào làng báo, chưa biết sự lợi hại và nguy hiểm của lưỡi kéo
kiểm duyệt!
Sau đó, người chủ cho thuê bảng hiệu báo, thấy báo bán chạy liền tìm cách
lấy báo lại, mặc dù chưa hết giao kèo. Bấy giờ (1936) bà đang ốm nghén,
và trong giao kèo thuê báo còn lỏng lẻo, lại nữa chủ báo cũng là người bên
nhà chồng, nên bà bỏ luôn tờ báo, về nhà cụ thân sinh (đang ở Sài Gòn) để
https://thuviensach.vn
nghỉ ngơi chuẩn bị sinh con. Bà sinh con gái đầu lòng xong, sau đó vẫn đi
dạy trường Tôn Thọ Tường và chỉ còn viết cho trang Phụ Nữ của nhật báo
Sài Thành. Rồi năm 1949, Sài Gòn bị máy bay phe Đồng Minh thả bom,
thân sinh của bà đổi xuống Sở Douanes tỉnh Trà Vinh; ông bà Bút Trà về
Tân An tránh bom. Bà cũng bế con theo chồng về quê Quảng Ngãi.
Đúng ra, nguyên quán anh em ông Hồng Tiêu ở tỉnh Quảng Nam, nhưng cụ
nội xưa kia làm quan ở Bình Thuận. Khi đau nặng, gia nhân đưa về ngang
Quảng Ngãi thì mãn phần tại đây. Cụ bà (là cô của tiến sĩ Phạm Liệu, một
trong Ngũ Phụng Tề Phi xứ Quảng) là mẹ của thân sinh anh em ông Bút
Trà – Hồng Tiêu sau này, ở lại nơi chôn ông cụ để cư tang đái hiếu. Và rồi
nơi đây trở thành quê hương thứ hai của tộc họ Nguyễn Đức…
Khi về Quảng Ngãi, tỉnh lỵ cũng bị bom quân đồng minh, vợ chồng bà lại
chạy lên vùng Mỹ Thắng, Nghĩa Kỳ, nơi có thắng cảnh Thạch Bích Tà
Dương, mỗi chiều về nắng chiếu vào vách núi tạo nên một vẻ đẹp kỳ ảo, là
một trong những thắng tích của tỉnh Quảng Ngãi. Vì ở gần núi nên đêm về
gió lùa lạnh thấu xương.
Rồi Cách Mạng tháng 8 bùng lên, bà kẹt luôn ở đấy. Bà xin mở trường Tiểu
học lấy tên là Tân Dân, dạy những người lớn tuổi thất học, ban ngày làm
việc đồng áng, tối về lớp học. Trong số đó có cán bộ hành chánh, đoàn thể
đến học thêm ngoài giờ làm việc. Bà giúp một số anh chị em thi vào trường
Trung học Bình dân Chợ Chùa tỉnh Quảng Ngãi.
Sau này, có vài người học trò cũ ở trường Tân Dân thuở ấy, đã là cán bộ
cao cấp, nhân dịp vào Sài Gòn, đã tìm đến thăm bà. Gặp số học trò cũ, gợi
bà nhớ lại những kỷ niệm thời chín năm kháng chiến chống Pháp…
Bấy giờ là thời điểm UBHC tỉnh Quảng Ngãi chủ trương tiêu thổ kháng
chiến, lớp học ban ngày còn nhờ ánh sáng mặt trời, đến lớp đêm dạy anh
chị em cán bộ, phải đốt đèn dầu mù u, mỗi lần lên lớp là phải có hai người
học trò cầm đèn mù u đứng hai bên cho bà giảng bài. Bà không có sách để
dạy môn Toán (Arithmétique) và Hình học (Géométrie), nên phải tự soạn
chương trình và soạn những bài giảng Việt văn theo trí nhớ để dạy học (sau
này gọi là giáo án).
Dạy học trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy được bốn năm (từ 1945 đến
https://thuviensach.vn
1949), bà cũng đào tạo nhiều người được đưa vào trường Trung học Bình
dân (Chợ Chùa – Quảng Ngãi), giúp anh chị em cán bộ trước kia thiếu điều
kiện cắp sách đến trường, nay có thể tự học để nâng lên trình độ Trung học.
Sau đó, Ty Giáo dục địa phương thấy bà dạy có hiệu quả, mời làm Liên
hiệu trưởng coi thêm các trường học quanh vùng Nghĩa Kỳ.
Đến năm 1952, vì tình trạng khó khăn chung trong vùng kháng chiến, gia
đình bà thiếu ăn, các con và đói chỉ vì lương tháng dạy học của bà vừa mua
đủ hai mươi ngày gạo, cho dù bà lãnh thêu cờ, khăn, bao gối để kiếm thêm
cũng không đủ tiền nuôi con. Giới chức địa phương thông cảm hoàn cảnh
bà, chấp thuận cho bà dẫn con về vùng tạm chiến. Khi đó con trai út của bà,
nay là nhà văn Nguyễn Đông Thức mới tám tháng tuổi. Bấy giờ bà vào Sài
Gòn với các con, ông Hồng Tiêu ở lại.
Vào Sài Gòn, Bà Tùng Long vừa dạy học vừa viết báo để nuôi con. Bà
nhận dạy Pháp văn cho các trường trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les
Lauriers… đồng thời viết truyện dài từng ngày (feuilleton) cho các nhật báo
xuất bản ở Sài Gòn. Sau 1954, bà viết thêm cho các báo Đồng Nai, Tiếng
Vang, Tiếng Chuông, và các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn
Đàn, Phụ Nữ Mới, Phụ Nữ Ngày Mai, Duy Tân, Đông Phương… Và bà
chuyên trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên báo Sàigòn Mới, và mục Tâm Tình
Cởi Mở cho báo Tiếng Vang. Đặc biệt hai mục này bà có rất nhiều độc giả,
nhất là độc giả trẻ rất ái mộ.
Thời ấy, những truyện dài của bà vừa kết thúc trên báo đã có nhà xuất bản
thương lượng mua bản quyền để in sách. Từ năm 1956 đến 1958, bà đã cho
xuất bản trên hai mươi đầu sách, rồi từ 1963 đến 1972 bà tiếp tục cho xuất
bản trên hai mươi đầu sách nữa. Những đầu sách chúng tôi tra cứu được in
kèm dưới đây vẫn còn thiếu. Vì sau 1975 sách báo thất lạc rất nhiều. Mấy
năm gần đây bà cũng có cho tái bản mấy cuốn: Đời Con Gái, Hứa Hẹn,
Tỉnh Giấc Tình Si, Tìm Về Bến Thương, Mười Hai Bến Nước… nhưng bà
không được hài lòng vì nhà xuất bản in giấy xấu quá, thiếu thẩm mỹ.
Bà Tùng Long gác bút từ năm 1972, như bà đã trả lời cuộc phỏng vấn của
ký giả Trần Quân báo TIME năm 1961: “Tôi viết văn để nuôi con. Khi nào
các con tôi đứa lớn trưởng thành dìu dắt được đàn em nó, bấy giờ tôi sẽ
https://thuviensach.vn
nghỉ viết”.
Cho nên đến khi người con gái lớn của bà đỗ cử nhân Khoa học (hiện đang
công tác tại Công ty Dệt Phong Phú) và mấy người con trai của bà cũng đỗ
đạt, thành danh trong và ngoài nước, đã là giáo sư, luật sư… là bà toại
nguyện.
Và bà cũng “gác bút quy ẩn” từ dạo đó…
Quá trình đi học:
- Học hết bậc tiểu học trường Tiểu học Đà Nẵng.
- Học một năm Trung học Đồng Khánh – Huế.
- Chuyển vào học năm 2è Année (Đệ nhị niên) trường Aùo Tím (Collège
Des Jeunnes Filles Indigènes) – Sài Gòn.
Quá trình đi dạy:
- Dạy Pháp văn các trường Trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers ở
Sài Gòn (1950 – 1954).
- Làm Hiệu trưởng, Liên hiệu trưởng các trường Tiểu học Bình dân Học hội
ở Nghĩa Kỳ – Quảng Ngãi.
Quá trình hoạt động Văn học – Báo chí:
- Chủ bút Tuần báo Tân Thời (1935).
- Phụ trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên nhật báo Sàigòn Mới.
- Phụ trách mục Tâm Tình Cởi Mở trên nhật báo Tiếng Vang (1962 –
1972).
- Thư ký tòa soạn tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn.
- Đã cộng tác với các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai.
- Đã viết tiểu thuyết (feuilleton) cho các báo ở Sài Gòn từ năm 1954 1972.
- Đã có trên sáu mươi đầu sách được xuất bản từ năm 1956 đến 1972.
-Sau 1975 đã tái bản và in mới trên mười cuốn sách.
(Hiện nay tác phẩm của Bà tùng Long đã bị thất lạc trên năm mươi phần
trăm).
Ý niệm của nhà văn Bà Tùng Long:
-“Tôi vừa viết tiểu thuyết cho báo, vừa dạy con học, vừa thảo thực đơn cho
con gái đi chợ. Viết văn đối với tôi đã trở thành chuyên nghiệp chớ không
phải viết theo cảm hứng”.
https://thuviensach.vn
-“Tôi ngồi đâu cũng viết được và viết bất cứ lúc nào, khi có nhu cầu… Tôi
thích viết loại bút Bic mực màu đen, viết trên giấy báo đã in một mặt.”
-“Tôi viết văn để nuôi con. Khi các con tôi những đứa lớn trưởng thành, dìu
dắt được các em chúng, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết.”
-“Tôi làm báo chẳng những không bị gia đình rẻ rúng, mà còn được cha tôi
khuyến khích và chồng tôi dìu dắt. Tôi tự xét mình, thấy trong hai mươi
năm làm báo, tôi chưa hề “nói láo ăn tiền”…”
Trích " Hồi ký Bà Tùng Long" 2002
https://thuviensach.vn
Lời cuối: Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Nguồn: Báo Lao Động
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 10 năm 2005
https://thuviensach.vn
 





