Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 07h:47' 23-04-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 07h:47' 23-04-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Những người phụ nữ làm thay đổi
thế giới
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Đôi lời về soạn giả- Dịch giả Nguyễn Bích Lan
Augusta Ada Byron
Sofia Kovalevskaya
Aletta Jacobs
Edith Cavell
Emmeline Pankhurst
Marie Curie
Julia Morgan
Amelia Mary Earhart
Maria Montessori
Anne Frank
Mary Harris Jones
Anna Pavlova
Dorothy Crowfoot Hodgkin
Agnès Gonxha Bojaxhiu
Simone de Beauvoir
Beulah Louise Henry
Helen Keller
Gabrielle Chanel
Lise Meitner
Amy Biehl
Chiaki Mukai
Rosa Parks
Judy Feld Carr
Diana Frances Spencer
Frieda Fromm Reichmann
Alison Hargreaves
https://thuviensach.vn
Maryam Bibi
Wangari Maathai
J.K. Rowling
Catherine Phiri
Jerri Nielsen
Judit Polgar
Trương Thụ Cầm
Julia Hill
Marguerite Barankitse
Evangelina Villegas
Adi Roche
Anita Roddick
Wardah Hafidz
Zahra Kazemi
Bethany Hamilton
Sadako Sasaki
Monica Caison
Inge Genefke
Sarah Flannery
Mihiri Tillakaratne
Ada Aharoni
Olya Melen
Mory Sanberg
Annalena Tonelli
Hope Bevilhymer
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Đôi lời về soạn giả- Dịch giả Nguyễn Bích Lan
Tôi đã không hề phân vân bỏ ra hẳn hai buổi liền để đọc một mạch bằng
hết năm mươi câu chuyện trong cuốn sách Những người phụ nữ làm thay
đổi thế giới của soạn giả Nguyễn Bích Lan. Không phải chỉ vì tôi có may
mắn đã ít nhiều quen biết soạn giả, mà những câu chuyện ở đây quả thực có
sức hấp dẫn, mỗi câu chuyện đều đem lại cho tôi thêm hiểu biết, thêm niềm
tin tưởng vào lòng tốt của con người, cái đẹp của cuộc sống, và niềm tự hào
cùng với yêu kính, trân trọng đối với người phụ nữ - người mẹ của nhân
loại. Lại nữa mỗi câu chuyện ở đây đều được kể một cách ngắn gọn, hàm
súc, không trùng lặp, nhàm tản…
Cho đến nay, hình như nhiều người trong chúng ta mới chỉ ít nhiều biết đến
tên tuổi cũng như sự nghiệp sáng tác của nhà thơ lớn thế kỷ XIX trong văn
học Anh George Gordon Byron ( Bairơn, 1788- 1824). Có lẽ, cũng như tôi,
ít ai lại ngờ rằng con gái nhà thơ, Augusta Ada Byron (1815- 1852), với
cống hiến khoa học đáng kể cho tiến bộ của nhân loại, có thể nói, cũng là
một nhân vật lớn. Hóa ra con gái của nhà thơ chính là người đã đóng góp
khá nhiều để chúng ta ngày nay có được cái máy tính hiện đại- với nó ta
“có thể giải phóng những phép tính phức tạp nhất, có thể đánh máy tài liệu,
vẽ những bản vẽ thiết kế, lưu hóa đơn, soạn giáo án, nghe nhạc, chơi trò
chơi, gửi thư hoặc trò chuyện trực tiếp với bạn bè hoặc người thân của bạn
đang ở cách xa hàng nghìn cây số, thậm chí sản xuất một bộ phim v.v…”.
Chính câu chuyện mở đầu tập sách này cho ta được biết điều đó.
Lần lượt các câu chuyện khác trong sách kể cho chúng ta biết nhiều điều
mới lạ tương tự, hoặc có nhắc lại đôi điều, có thể mọi người từng biết ở dâu
đó, nhưng đọc lại trong một tổng thể vẫn làm ta xúc động.
Ngoài Augusta Ada Byron, ta được biết bao nhiêu người phụ nữ khác cũng
thật sự là tài giỏi, quả cảm, có một tấm lòng nhân ái bao la: Sofia
https://thuviensach.vn
Kovalevskaia (1850- 1891), nhà toán học người Nga, vượt bao nhiêu khó
khăn của lề thói lạc hậu phân biệt đối xử nam nữ của xã hội đương thời, trở
thành nhà khoa học- tác giả công trình “Nghiên cứu áp dụng toán học vào
giải bài toán chuyển động của khối chất rắn ngay cả khi trọng tâm của nó
không nằm ở trục của khối”. Thành tựu nghiên cứu của bà đã giải quyết
được bao nhiêu khó khăn trong ứng dụng khoa học vào đời sống. Những
năm qua nhiều nhà khoa học nữ của Việt Nam hàng năm được nhận giải
thưởng Kovalevskaia chính là một trong những biểu hiện của người đời ghi
công và tôn vinh bà. Marie Curie (1867- 1934), một phụ nữ tiêu biểu khác,
người Ba Lan, cùng với chồng là Pierre Curie là hai nhà vật lý nguyên tử,
xác định được khối lượng nguyên tử của radium, mở ra một triển vọng lớn
lao cho loài người sử dụng năng lượng vì mục đích cuộc sống con người.
Baulah Louise Henry (1887- 1973), người phụ nữ Mỹ có tới 110 phát minh
và 49 bằng sáng chế. Lise Meitner (1878- 1968), nhà khoa học nữ người
Đức, đóng góp lớn vào phát minh lý thuyết về quá trình phân giải hạt
nhân,v..v…
Hai câu chuyện về hai em gái nhỏ tuổi có lẽ sẽ để lại ấn tượng đặc biệt cho
người đọc: Anne Frank, cô bé con một gia đình Do Thái phải trốn tránh
cuộc vây giáp, đàn áp của chế độ phát xít, đã qua đời vi bệnh tật và đói
khát, không đợi được đến ngày giải phóng, nhưng đã để lại cho loài người
những trang nhật ký đầy lạc quan tin tưởng ở ngày mai. Và Sadako Sasaki,
cô bé người Nhật đã bị nhiễm phóng xạ do quả bom nguyên tử ném xuống
Hiroshima vào những ngày cuối cùng của cuộc thế chiến thứ hai. Nằm trên
giường bệnh, tin vào truyền thuyết, cô bé đã kiên nhẫn ngày ngày gập
những con nhạn giấy. Bé gập được hơn một nghìn con nhạn giấy mà vẫn
qua đời ở độ tuổi mười hai. Cô bé đã không cưỡng nổi số mệnh của mình,
nhưng để lại cho thế giới này ước nguyện lớn lao lao về hòa bình.
Nhưng làm người đọc xúc động và ghi nhớ hơn cả có lẽ là những câu
chuyện trong sách kể về những tấm gương cao cả vốn có của những người
phụ nữ - những người mẹ của nhân loại. Mẹ Teresa (1910- 1997) người gốc
https://thuviensach.vn
Anbani, từ năm mười tám tuổi đã gia nhập nhóm nữ tu ở Ireland và bắt đầu
các hoạt động nhân đạo, đi suốt cuộc đời cứu vớt những người nghèo đói,
bệnh tật. Công nương Diana Frances Spencer (1961- 1997) tình nguyện
nhân đạo giúp đỡ các bệnh nhân AIDS…
Tất cả những người phụ nữ tuyệt vời được nói trong các câu chuyện ở tập
sách, trước hết đều là những người có một nghị lực phi thường cùng với
một trái tim bao dung, đầy ắp tình yêu, tình yêu đối với đồng loại, tình yêu
với cuộc sống, tình yêu với trái đất tươi đẹp này…
Gấp tập sách này lại tôi nghĩ đến người soạn ra nó. Tôi được biết đến nữ
soạn giả trẻ tuổi này từ một bài báo đăng từ năm 2001. Dưới tiêu đề Những
mảnh đời khuất lấp bài báo hé mở cho người đọc biết về cuộc đời của một
cô bé tật nguyền: Cô bé Nguyễn Bích Lan. Đang học dở lớp 8 ở trường phổ
thông Minh Tân ( Hưng Hà, Thái Bình), Lan phải bỏ dở học vì một căn
bệnh hiểm nghèo. Buộc phải quanh quẩn, xê dịch rất khó khăn trong căn
phòng có 10 m2, cô bé Lan ở tuổi mười bốn không chịu an phận: với một
nghị lực, một quyết tâm lớn đã tìm ra lẽ sống “có ích cho đời”. Không còn
đến được trường cùng chúng bạn, một mình Lan xoay xở tìm mọi cách tự
học. Cô tự học tiếng Anh. Có được vốn tiếng Anh cô mở lớp dạy học, lúc
đầu cho khuây khỏa, dần dà cô thực sự trở thành cô giáo với 3,4 lớp, hàng
trăm học trò. Học trò của cô giáo Lan đều trưởng thành, thi đỗ vào đại học,
vào cao đẳng, trong số đó có tám em giờ đây cũng đã thành cô giáo dạy
Anh ngữ ở các trường phổ thông. Đến một lúc bệnh tật nặng thêm, không
còn đủ sức dạy học, Nguyễn Bích Lan lại tìm được một công việc thích hợp
với năng khiếu văn từ nhỏ, cộng với vốn tiếng Anh rèn rũa được trong
những năm qua- Bích Lan chuyển sang dịch sách.
Chỉ trong vòng ba, bốn năm, từ cuốn sách dịch đầu tiên, được Nhà xuất bản
Phụ nữ ấn hành năm 2001- Đừng bao giờ nghi ngờ tình yêu của em (tác
phẩm của nhà văn nữ người Scotland Daisy Thompson), tính đến nay
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan đã có tới mười đầu sách. Hầu như sách của Bích Lan đều
được Nhà xuất bản Phụ nữ tín nhiệm xuất bản và được đông đảo bạn đọc
hoan nghênh.
Việc dịch sách của Nguyễn Bích Lan mỗi ngày một thêm thuần thục, bài
bản. Với công cụ là chiếc máy tính, dịch giả không chỉ dùng thay cây bút,
mà tìm tòi học hỏi thêm, tra cứu và giao lưu với cả thế giới bên ngoài rộng
lớn. Nhờ nó chất lượng bản dịch dần được nâng cao. Dịch văn học thực ra
cũng là một thể loại sáng tạo ngôn từ. Người dịch văn học cũng là cây bút
sáng tạo văn chương. Giờ đây điều này tốt đối với Nguyễn Bích Lan đã gần
như trở thành sự thật. Cuốn sách biên soạn Những người phụ nữ làm thay
đổi thế giới của Nguyễn Bích Lan có thể coi là một minh chứng bổ sung
thêm.
Xin vui mừng giới thiệu với bạn đọc một thành công mới của dịch giả
Nguyễn Bích Lan, một con người vượt khó đầy nghị lực, đầy tài năng triển
vọng, từ một người tưởng như tàn phế đã trở thành cô giáo, rồi thành một
dịch giả được bạn đọc yêu mến.
Thúy Toàn
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Augusta Ada Byron
(1815- 1852)
CON GÁI CỦA THI SĨ BYRON
Bạn đã bao giờ ngắm một chiếc máy vi tính, một vật đã trở nên rất đỗi quen
thuộc trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, và tự hỏi chiếc máy vi tính
đầu tiên ra đời từ khi nào chưa? Bạn có tin rằng lịch sử của chiếc máy vi
tính bắt đầu từ cách đây gần 200 năm không? Và liệu bạn có băn khoăn nhờ
đâu mà con người thời bấy giờ có thể hiểu được nguyên lý vận hành của
một thiết bị có bộ nhớ, hoạt động nhờ những chương trình được lập sẵn và
có thể thực hiện nhiều công việc khác nhau, từ giải quyết các phép tính đến
thiết kế đồ họa? Nếu tìm đến với các câu trả lời bạn sẽ được biết về một
người phụ nữ đã góp công sức không nhỏ trong việc thúc đẩy kỹ thuật lập
https://thuviensach.vn
trình. Người phụ nữ đó là Augusta Ada Byron.
Augusta Ada Byron sin hănm 1815 tại London. Bà là con gái của thi sĩ nổi
tiếng thế giới George Gordon Noel Byron. Với thiên tài thơ ca, cha bà được
nhiều phụ nữ mến mộ và cuộc sống của cha mẹ bà vì thế không hạnh phúc.
Sau khi bà chào đời được vài tháng, cha bà đi khỏi nhà và không bao giờ
quay lại. Không muốn con gái mình theo truyền thống nhà Byron, mẹ của
Ada đã chủ động hướng bà tới toán học và các môn khoa học tự nhiên. Ada
tỏ ra rất thông minh và đặc biệt giỏi toán. Năm Ada mười tám tuổi, như
một sự sắp đặt của số mệnh bà gặp nhà phát minh Charles Babbage tại nhà
của Somerville, giáo viên dạy toán của bà. Babbage kể với Ada về chiếc
máy tính tự động có khả năng điều khiển được bằng các chỉ lệnh mà ông
đang phát triển khiến Ada lập tức bị cuốn hút và bà đã tìm đến tận phòng
nghiên cứu của Babbage để tìm hiểu về phát minh của ông.
Mùa thu năm 1841 Babbage trình bày kế hoạch phát triển chiếc máy của
mình tại một cuộc hội thảo ở Turin, Italia. Theo Babbage, chiếc máy của
ông sử dụng các bảng mạch điện tử, thực hiện các lệnh trên các bảng mạch
đó và nó cần được con người lập cho các công thức cũng như nhập dữ liệu
khởi đầu. Rất ít người hiểu được những gì ông mô tả.
Năm 1842 một người Italia tên là Luigi Federico Menabrea giới thiệu
những phát minh này của Babbage trong một bài báo in bằng tiếng Pháp.
Ada đã dịch bài báo này sang tiếng Anh và được sự khuyến khích của
Babbage bã đã bổ sung những chú thích của mình vào bản dịch. Bà chú
thích nhiều đến nỗi khiến cho bản dịch có độ dài gấp ba lần bài báo gốc.
Các chú thích của Ada nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa chiếc máy làm
tính đơn thuần của Pascal và chiếc máy biên dịch của Babbage, một chiếc
máy thực hiện lệnh cũng như xử lý dữ liệu một cách tuần tự. Từ điểm này
bà công nhận tầm quan trọng của người sử dụng máy (Ada muốn nói về
công việc mà ngày nay chúng ta gọi là phát triển phần mềm) và chỉ rõ rằng
chương trình lưu sẵn trong máy cần đảm bảo vừa chính xác vừa phù hợp
với mong muốn của người sử dụng.
Những chú thích của bài báo của Menabrea cho thấy rằng Ada không
những hiểu được nguyên lý hoạt động của chiếc máy mà còn đi xa hơn
https://thuviensach.vn
người phát minh ra nó trong việc đánh giá những khả năng cũng như đóng
góp của nó đối với nhân loại. Trong khi Babbage chỉ giới hạn khả năng của
chiếc máy trong lĩnh vực toán học thì Ada lại tin rằng một chiếc máy có bộ
nhớ như thế không chỉ giải quyết được các phép tính mà còn có thể thực
hiện các cấu trúc lựa chọn; làm được rất nhiều việc thậm chí cả việc soạn
nhạc và thiết kế đồ họa. Babbage vô cùng ngạc nhiên trước ý kiến của Ada.
Trong một bức thư gửi Ada ông đã viết: “Càng đọc những chú thích của cô
tôi càng ngạc nhiên và tôi tiếc rằng trước đây tôi đã không khám phá ra
tiềm năng to lớn đến thế của chiếc máy”.
Qua thư và qua những cuộc thăm viếng Babbage, Ada đã thực sự thiết lập
một mối quan hệ cộng tác gần gũi. Với khả năng toán học của mình, Ada
đã đóng góp nhiều ý kiến giúp ích cho Babbage trong việc phát triển chiếc
máy của ông. Chính bà là người đã gợi ý Babbage lập chương trình tính các
số Bernoulli, và chương trình này ngày nay được coi là chương trình máy
tính đầu tiên trên thế giới. Cũng có những ý kiến tranh cãi xung quanh điều
này song từ những bức thư trao đổi giữa Ada và Babbage đã được công bố,
không ai có thể phủ nhận những ảnh hưởng to lớn của Ada trong việc thúc
đẩy sự phát triển kỹ thuật lập trình. Người Mỹ đặt tên cho một ngôn ngữ
lập trình của họ là Ada chính là để khẳng định điều đó.
Qua một quá trình phát triển không ngừng, chiếc máy tính tự động được
phát triển không ngừng, chiếc máy tính tự động được điều khiển bằng các
chỉ lệnh của Babbage đã được cải tiến thành chiếc máy vi tính hiện đại với
vô số những tính năng hữu ích cho cuộc sống của con người. Ngày nay với
một chiếc máy vi tính bạn có thể giải những phép tính phức tạp nhất, có thể
đánh máy tài liệu, vẽ những bản thiết kế, lưu hóa đơn, lập giáo án, nghe
nhạc, chơi trò chơi, gửi thư hoặc trò chuyện trực tiếp với bạn bè hoặc người
thân của bạn đang ở cách xa hàng nghìn cây số, thậm chí sản xuất một bộ
phim, v.v… Và phần lớn những khả năng đó đã được Augusta Ada Byron
tiên liệu từ gần hai thế kỷ trước.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Sofia Kovalevskaya
(1850- 1891)
TOÁN HỌC – NIỀM KHÁT KHAO BẤT DIỆT
Không phải ngẫu nhiên người Việt Nam chúng ta đặt tên giải thưởng dành
tôn vinh những nhà khoa học nữ có đóng góp nổi bật cho đất nước là giải
Kovalevskaia. Đó là tên của một trong những nhà toán học nữ xuất sắc nhất
thế giới.
Sofia Kovalevskaia sinh ngày 15 tháng 1 năm 1850 tại Matxcova nước Nga
trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc. Hồi nhỏ bà thường ngồi hàng
giờ nghe người chú của mình nói về toán học. Một hôm bà nhận ra rằng các
tờ giấy dán tường trong phòng của mình hóa ra là những trang giấy in các
bài giảng về tích phân của Ostrogradski mà bà đã từng nghe người chú nói
đến. Bà bắt đầu tìm hiểu các phép toán từ các từ giấy dán tường đó.
Sofia tiếp thu bài giảng toán đầu tiên từ một gia sư tên là Y.I. Malevich. Bà
cảm thấy môn toán cuốn hút bà đến nỗi bà bắt đầu lơ là những môn học
khác. Nhận thấy điều đó bố của bà cấm không cho con gái tiếp tục học toán
nhưng càng bị cấm Sofia càng mê toán hơn. Bà mượn sách toán và lén đọc
https://thuviensach.vn
vào đêm khuya khi cả nhà đã ngủ. Năm mười bốn tuổi người hàng xóm của
bà, giáo sư Tyrtov, tặng gia đình bà một cuốn sách vật lý do ông viết. Vì
muốn hiểu được nội dung của cuốn sách Sofia đã tự học lượng giác và nhận
thức của bà khiến giáo sư Tyrtov rất ngạc nhiên. Giáo sư ra sức thuyết phục
cha của Sofia cho bà tiếp tục học toán. Cuối cùng Sofia cũng được cha cho
phép đi Saint Petersburg học những gì bà yêu thích.
Sau khi kết thúc bậc trung học, Sofia khát khao được học lên đại học. Vào
thời điểm đó ở Nga không một phụ nữ nào có thể thỏa mãn khát khao ấy ở
trong nước. Gần nước Nga nhất chỉ có Thụy Sĩ là có các trường đại học tiếp
nhận sinh viên nữ mà một thiếu nữ chưa chồng như Sofia lại không được
phép ra nước ngoài một mình. Khát khao học đại học lớn đến nỗi nó thúc
đẩy Sofia đi đến quyết định kết hôn trên danh nghĩa với một nhà cổ sinh
học tên là Vladimir Kovalevski để có cơ hội sang châu Âu. Năm 1868, bà
đến Heldelberg đăng ký học toán và khoa học tự nhiên tại trường đại học
của thành phố nhưng trường không tiếp nhận sinh viên nữ. Vì thế, Sofia
phải xin từng giáo viên cho bà được nghe họ giảng bài và phải thuyết phục
lãnh đạo nhà trường cho phép bà có mặt tại các lớp học với tư cách là sinh
viên không chính thức. Qua tất cả các học kỳ Sofia luôn khiến các bạn học
của bà ngạc nhiên bởi năng khiếu nổi bật về toán học. Đối với các giáo sư
khoa toán, Sofia là một hiện tượng hiếm thấy.
Năm 1871 Sofia đến đại học Berlin với mục đích tìm kiếm cơ hội nghiên
cứu toán học dưới sự hướng dẫn của Karl Weierstrass, người được coi là
nhà toán học nổi tiếng nhất của thời bấy giờ. Trường đại học Berlin từ chối
nhận Sofia nhưng may mắn thay sau khi thử khả năng của Sofia thầy
Weierstrass đã hiểu ra rằng mình đang có trong tay một tài năng đầy triển
vọng. Chính vì thế ông nhận hướng dẫn riêng cho Sofia. Không phụ công
người thầy ưu tú của mình, trong suốt bốn năm Sofia hoạt động miệt mài và
cho ra đời ba công trình nghiên cứu. Đó đều là những công trình có giá trị
https://thuviensach.vn
to lớn. Nếu như kết quả nghiên cứu về số nguyên của Sofia giúp rút gọn
các số nguyên Abel thành các số nguyên elip thì thuyết phương trình vi
phân của bà lại được ứng dụng vào việc nghiên cứu các tiểu hành tinh quay
quanh quỹ đạo sao Thổ.
Với các nghiên cứu đáng chú ý của mình, năm 1887 Sofia giành được học
vị tiến sĩ tại đại học Goettingen. Rời đại học Goettingen bà trở về nước Nga
và tại quê hương mình bà lại phải chịu những thiệt thòi về giới: Bà bị
trường đại học Saint Petersburg từ chối nhận làm giảng viên và không được
trường đại học Matxcova cho phép tham gia thi lấy bằng thạc sĩ của trường
đại học này. Một lần nữa Sofia lại quay sang châu Âu. Bà đến Đức, Pháp,
Thụy Điển làm giảng viên một số trường đại học và tiếp tục công việc
nghiên cứu khoa học.
Một trong những đóng góp quan trọng cho khoa học trong thời gian này
của Sofia là nghiên cứu áp dụng toán học vào giải bài toán chuyển động
của vật rắn. Năm 1888 bà cho công bố kết quả nghiên cứu trong một tài
liệu mang tên “Xoay một vật rắn quanh một điểm cố định”. Trước thời
điểm đó các nhà khoa học mới chỉ đưa ra được lời giải cho bài toán chuyển
động của khối vật rắn tại một điểm cố định trong trường hợp đối xứng.
Nghiên cứu của Sofia cho phép giải bài toán chuyển động khối chất rắn
ngay cả khi trọng tâm của nó không nằm ở trục của khối. Đánh giá cao
công trình nghiên cứu này của bà, năm 1888 Viện Hàn lâm khoa học Paris
không những đã quyết định trao giải thưởng khoa học cho bà mà còn nâng
mức tiền thưởng của giải từ 3000 lên 5000 franc. Công trình nghiên cứu về
chuyển động của khối chất rắn cũng đã mang lại cho bà giải thưởng của
Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển.
Đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì Sofia mắc bệnh viêm phổi. Bà qua đời
tại Stockholm, Thụy Điển vào ngày 10 tháng một năm 1891 trong niềm tiếc
thương của giới khoa học trên khắp hành tinh. Với tổng cộng mười công
https://thuviensach.vn
trình nghiên cứu về toán học và vật lý toán học, trong đó phần lớn là những
công trình tạo đà cho những khám phá quan trọng của tuơng lai, Sofia được
mệnh danh là một trong những nhà toán học nữ xuất sắc nhất thế giới.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Aletta Jacobs
(1854 – 1929)
NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN Ở HÀ LAN
Là con thứ tám trong một gia đình gồm mười hai người con của một cặp vợ
chồng người Hà Lan thuộc tầng lớp trung lưu, từ nhỏ Aletta Jacobs đã mơ
ước được đi theo con đường của cha mình, trở thành một nhà vật lý. Khác
với nhiều bậc phụ huynh ở nửa cuối thể kỷ XIX cha mẹ của Aletta không
những không ngăn cản con gái họ theo đuổi ước mơ mà còn cậy cục xin
cho Aletta học dự thính ở các lớp học dành cho con trai để bà có thể học
các môn tự nhiên thay vì chỉ học các môn xã hội và nữ công gia chánh.
Sau khi tốt nghiệp trung học và vượt qua kỳ thi tuyển phụ tá dược sĩ, Aletta
viết thư cho thủ tướng Thorbecka xin ông ta can thiệp để bà được vào học
đại học Groningen. Thủ tướng hẹn cho bà một năm thử thách. Đầu năm
1872 nghe tin thủ tướng ốm nặng Aletta sợ người kế nhiệm sẽ không chấp
nhận lời thỉnh cầu của bà nên bà quyết định tham gia thi đại học ngay và
gửi kết quả tới Thorbecka. Hai ngày sau khi Thorbecka qua đời, bà nhận
được giấy cho phép nhập trường Groningen.
Tại trường Groningen, Aletta luôn nỗ lực hết mình trong học tập. Trong
https://thuviensach.vn
suốt bốn năm bà luôn là sinh viên xuất sắc của khoa toán và vật lý. Năm
1878 bà chuyển đến Amsterdam để theo học trường y và kết thúc chương
trình học trong hai năm. Một số giáo viên của trường không chấp nhận việc
một người phụ nữ trở thành bác sĩ đã tìm cách cản trở bà. Hai vị giám khảo
đã xử thiếu công bằng với bà trong khi bà thi tốt nghiệp. Bà đã công khai
lên tiếng đấu tranh phản đối hai vị giám khảo này và suýt nữa thì không
nhận được bằng tốt nghiệp.
Khi còn là sinh viên, và đặc biệt là trong thời gian làm việc tại bệnh viện
Amsterdam, Aletta đã chững kiến quá nhiều cảnh những người phụ nữ khổ
sở vì đẻ dày đẻ nhiều. Họ nghèo túng và gầy mòn vì sinh đẻ. Cuộc sống của
họ là một gánh nặng với những kì thai nghén đầy vất vả. Trò chuyện với
những người phụ nữ ấy ở phòng hộ sinh, Aletta nhận thấy rằng đa số họ
không muốn sinh nhiều con như vậy, không muốn sinh ra những đứa con
ốm yếu và chết yểu, nhưng họ không biết làm thế nào để tránh thai. Họ
luôn sống trong nỗi lo sợ sẽ mang thai và hoang mang không biết tương lai
của những đứa con được sinh ra ngoài ý muốn sẽ ra sao. Aletta suy nghĩ rất
nhiều về vấn đề này nhưng chưa tìm ra cách gì để giúp những người phụ nữ
ấy. Nhiều lần bà đem băn khoăn của mình ra tâm sự với đồng nghiệp và chỉ
nhận được những lời nói buông xuông đại loại như: “Cái số đàn bà nó thế”
hay “Chẳng có cách tránh thai nào đâu, nếu có thì thế giới sụp đổ vì thiếu
người rồi”.
Aletta nghĩ rằng chỉ có phương pháp chống thụ thai mới có thể giúp giải
phóng người phụ nữ khỏi sự chịu đựng này. Bà tìm hiểu ý tưởng về biện
pháp tránh thai của Malthus vốn đã được chú ý từ đầu thế kỷ XIX và liên
lạc với những người đã vận dụng ý tưởng này theo cách riêng của họ. Năm
1882 bà đọc được một bài báo giới thiệu phương pháp đặt vòng tránh thai
của bác sĩ Mensinga ở Flensburg. Bà lập tức viết thư cho bác sĩ Mensinga.
Bà không những được bác sĩ Mensinga giải đáp mọi thắc mắc, mà còn nhận
được nhiều mẫu vòng tránh thai. Tuy nhiên bà không vội vàng phổ biến
phương pháp này mà thận trọng thử nghiệm trong một thời gian. Bà viết
thư cho những người phụ nữ có nhu cầu bức thiết đề nghị họ tham gia thử
nghiệm phương pháp đặt vòng, với điều kiện họ phải thường xuyên đi kiểm
https://thuviensach.vn
tra sức khỏe trong những tháng đầu. Rất nhiều người phụ nữ sẵn sàng đi đặt
vòng, nhờ thế mà chỉ sau một thời gian ngắn Aletta đã có thể khẳng định sự
thành công của phương pháp đó.
Ý thức được những rào cản về tôn giáo và hạn chế về dân trí, Aletta không
dám mong việc làm của bà sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ song bà không
ngờ mình lại tạo ra một sự phản đối kịch liệt đến như vậy. Những người
phản đối buộc tội bà tiếp tay cho lối sống vô đạo đức. Số ít những người
đồng tình thì không dám tỏ thái độ vì sợ phải gánh chịu chung số phận với
bà. Bạn bè của bà khuyên bà nên công khai thừa nhận việc làm của mình
làm một sai lầm và tuyên bố sẽ không tiếp tục phổ biến phương pháp tránh
thai nữa. Aletta không tiếp thu những ý kiến bàn lùi đó. Bà muốn cảm hóa
những người phản đối bà, muốn tranh luận công bằng với những đồng
nghiệp phủ nhận tính nhân đạo của việc bà làm. Tuy nhiên cũng có lúc
Aletta cảm thấy dường như bà đơn độc đứng ở một phía, phía kia là cả hệ
thống y tế và dư luận xã hội. Nhưng rồi bà nhận ra sự phản đối công khai
kia chỉ là hành động đạo đức giả. Các mục sư trong các buổi giảng kinh
thao thao bất tuyệt phản đối việc tránh thai nhưng chính họ lại đưa vợ mình
tới phòng khám của Aletta để đặt vòng. Những bác sĩ miệng thì tìm đủ lời
để chỉ trích Aletta, nhưng trong bụng chỉ muốn bà truyền lại cho mình
những kỹ thuật đặt vòng tránh thai.
Aletta tiếp tục việc làm nhân đạo của mình và nhờ có sự kiên quyết của bà
mà cuối cùng, việc sử dụng phương pháp tránh thai đã trở thành phổ biến ở
khắp đất nước Hà Lan. Hơn ba mươi năm sau kể từ khi thực hiện ca đặt
vòng tránh thai đầu tiên, bà thành lập một bệnh viện cung cấp dịch vụ tránh
thai. Chính Margaret Sanger, người đi đầu trong phong trào đấu tranh đòi
quyền kiểm soát việc sinh đẻ ở Mỹ, đã sang Hà Lan để tìm hiểu các phương
pháp tránh thai mà Aletta đã áp dụng thành công.
Cuộc đời của Aletta Jacobs là cuộc đời dành cho những cuộc đấu tranh giải
phóng phụ nữ. Đấu tranh cho nhân công nữ trong các cửa hàng được ngồi
ghế thay vì đứng tám đến mười tiếng một ngày, đấu tranh đòi quyền bầu cử
cho phụ nữ, đấu tranh bảo vệ sức khỏe cho những phụ nữ làm nghề mại
dâm, đấu tranh đòi quyền kiểm soát sinh đẻ cho những người phải mang
https://thuviensach.vn
nặng đẻ đau. Không có sự đóng góp của những người giàu cả về trí tuệ lẫn
tâm huyết như Aletta Jacobs, quá trình giải phóng phụ nữ ở Hà Lan nói
riêng và trên toàn thế giới nói chung, chắc chắn sẽ diễn ra khó khăn và
chậm chạp hơn rất nhiều, nếu không muốn nói là khó đạt được những thành
quả mà những người phụ nữ thời nay đang được hưởng.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Edith Cavell
(1865 – 1915)
CHUYỆN KỂ Ở QUẢNG TRƯỜNGTRAFALGAR
Vào một ngày đẹp trời, một bé gái mười một tuổi đứng trước bức tượng
Edith Cavell tại quảng trường Trafalgar ở London nhẩm đọc dòng chữ:
“Tôi hiểu rằng chỉ có lòng yêu nước chưa đủ, tôi phải không thù hận hay
oán hờn bất cứ ai”. Đọc xong bé gái đó đứng yên nhìn mãi lên bức tượng
và khi mẹ của bé dắt tay bé đi, bé cứ ngoái đầu lại phía bức tượng. Thay vì
đi khỏi quảng trường, người mẹ đã dắt con trở lại chỗ bức tượng và ngay
tại đó bà bắt đầu kể cho con gái nghe câu chuyện về Edith Cavell.
Chuyện kể rằng Edith Cavell là một nữ y tá người Norfolk, thuộc nước
Anh. Năm 1907 khi bà mười tám tuổi bà được cử làm y tá của bệnh viện
Berkendael ở Brussels, thủ đô nước Bỉ. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra
https://thuviensach.vn
và ngày 4 tháng Tám năm 1914 quân Đức tràn vào nước Bỉ. Trong tình
hình chiến sự diễn ra ác liệt, bệnh viện Berkendael được Hội chữ thập đỏ
quốc tế sử dụng làm nơi cứu chữa cho thương binh. Những người bị thương
được đưa đến bệnh viện dù là người Anh, người Pháp, người Bỉ hay người
Đức đều được các bác sĩ và y tá cứu chữa với tinh thần nhân đạo cao cả.
Những người thuộc quân đồng minh sau khi được chữa trị vết thương,
thường được người của bệnh viện giúp trốn ra ngoài để khỏi rơi vào tay của
lính Đức. Edith là người tích cực nhất trong hoạt động đầy nguy hiểm đó.
Không những giúp những người bị thương trốn thoát bà còn giúp cả những
người lính đang bị truy lùng trốn trong bệnh viện, để rồi sau đó tổ chức đưa
những người đó tới vùng an toàn.
Lúc bấy giờ, ở đâu trên đường phố Brussels người ta cũng thấy những tấm
biển đề: “Bất kể đàn ông hay đàn bà, ai che giấu một lính Pháp hay lính
Anh đều phải chịu hình phạt nặng”. Có người đã cảnh báo Edith rằng lính
Đức đã nghi ngờ bà và bố trí theo dõi những người ra vào bệnh viện. Tuy
nhiên Edith vẫn không vì thề mà khoanh tay ngồi nhìn những người lính
đồng minh rơi vào tay quân phát xít Đức. Bà tiếp tục che giấu, giúp đỡ
lương thực, tiền bạc và tổ chức cho họ trốn sang nước trung lập Hà Lan.
Ngày 15 tháng Tám năm 1915 Edith Cavell bị quân Đức bắt vì tội “che
giấu kẻ thù”. Edith bị biệt giam trong mười tuần. Bạn bè và cả luật sư của
bà đều không được phép gặp bà. Ngày 7 tháng Mười tòa án Đức mở phiên
tòa xét xử bà cùng ba mươi tư người khác có cùng tội danh.
Nếu bị kết tội Edith sẽ bị xử tử. Luật sư của bà biện hộ rằng bà làm như vậy
chỉ vì sự cảm thông giữa người và người mà thôi. Nhưng Edith Cavell với
bản lĩnh phi thường đã đứng trước tòa không hề run sợ, thừa nhận rằng
chính bà đã giúp đỡ 200 người lính đồng minh trốn thoát khỏi Bỉ và bà biết
rõ rằng người người đó có thể sẽ quay lại chiến hào chống lại quân Đức. Bà
còn nói rằng những người lính trốn thoát đã gửi thư cảm ơn sự giúp đỡ của
bà. Khi được hỏi tại sao bà lại giúp những người lính ấy, Edith Cavell đã
đáp rằng nếu bà không giúp họ trốn thoát thì quân Đức sẽ giết chết họ và vì
https://thuviensach.vn
lẽ đó bà phải hành động để thực hiện nghĩa vụ của bà đối với tổ quốc.
Những gì Edith Cavell thừa nhận đủ để tòa án binh của Đức tuyên bố mức
án nặng nhất đối với bà.
Các nỗ lực ngoại giao đã được thúc đẩy nhằm cứu mạng sống của Edith
Cavell. Đại diện cho nước Mĩ, nước mà vào thời điểm ấy chưa tham chiến,
ông Hugh Gibson quan chức ngoại giao số một của Mỹ ở Brussels, đã
tuyên bố thẳng với chính phủ Đức rằng, việc xử tù Edith Cavell sẽ làm tổn
hại nghiêm trọng mối quan hệ ngoại giao vốn đã chẳng êm đềm giữa Đức
và Mỹ. Viên chức ngoại giao này đã cảnh báo người Đức rằng nếu họ xử tử
Edith Cavell họ sẽ phải đối mặt với sự bất bình trong dân chúng. Hugh
Gibson cùng ông Marquys de Villalobar đại diện chính phủ Tây Ban Nha ở
Brussels, và ông M. de Leval, quan chức ngoại giao người Bỉ đã trực tiếp
đến gặp Baron von der Lancken, đại diện chính trị của nước Đức ở Brussels
và nói chuyện điện thoại với tướng Von Sauberzweig phụ trách quân sự,
nhưng mọi nỗ lực của họ đều không mang lại kết quả. Những viên chỉ huy
người Đức nói, dù thế nào bản án cũng nhất định phải được thi hành.
Edith Cavell không kháng án. Bà bình tĩnh đợi cái chết. Ngày 11 tháng
Mười khi linh mục của nhà tù Gahan đến thăm, bà đã nói: “Tôi muốn
những người bạn của tôi biết rằng tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc mình. Tôi
không có gì phải sợ hay phải né tránh. Tôi đã chứng kiến cái chết quá nhiều
rồi, nhiều đến nỗi nó chẳng còn lạ lẫm hay đáng sợ đối với tôi nữa”.
Hai giờ sáng ngày 12 tháng Mười, chỉ chưa đầy mười tiếng, sau khi bản án
tử hình được tuyên bố, tại một địa điểm quân sự mang tên Tir National,
Edith Cavell đã bị xử bắn.
Khi còn sống, Edith Cavell đã cứu sống được nhiều mạng người và cái chết
của bà lại cứu thêm được những mạng sống khác. Sau khi Edith Cavell bị
xử bắn, toàn thế giới dồn lên sự căm giận quân phát xít Đức. Trước sự phản
đối gay gắt cả dư luận, quân đội Đức buộc phải hủy bỏ án xử tử đối với
https://thuviensach.vn
không ít tù nhân đã bị kết án. Học tập lòng dũng cảm của Edith Cavell,
hàng nghìn người ở Anh, Úc, Canada đã tình nguyện đăng lính tham gia
cuộc chiến chống lại phát xít Đức. Cái chết của Edith Cavell cũng đã góp
phần thúc đẩy nước Mỹ đi đến tuyên chiến với phát xít Đức.
Không biết cô bé mười một tuổi ở quảng trường Trafalgar có hiểu hết được
những gì mẹ cô muốn cô hiểu qua câu chuyện về Edith Cavell hay không?
Có lẽ cô bé chỉ hiểu phần nào song rất c...
Những người phụ nữ làm thay đổi
thế giới
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Đôi lời về soạn giả- Dịch giả Nguyễn Bích Lan
Augusta Ada Byron
Sofia Kovalevskaya
Aletta Jacobs
Edith Cavell
Emmeline Pankhurst
Marie Curie
Julia Morgan
Amelia Mary Earhart
Maria Montessori
Anne Frank
Mary Harris Jones
Anna Pavlova
Dorothy Crowfoot Hodgkin
Agnès Gonxha Bojaxhiu
Simone de Beauvoir
Beulah Louise Henry
Helen Keller
Gabrielle Chanel
Lise Meitner
Amy Biehl
Chiaki Mukai
Rosa Parks
Judy Feld Carr
Diana Frances Spencer
Frieda Fromm Reichmann
Alison Hargreaves
https://thuviensach.vn
Maryam Bibi
Wangari Maathai
J.K. Rowling
Catherine Phiri
Jerri Nielsen
Judit Polgar
Trương Thụ Cầm
Julia Hill
Marguerite Barankitse
Evangelina Villegas
Adi Roche
Anita Roddick
Wardah Hafidz
Zahra Kazemi
Bethany Hamilton
Sadako Sasaki
Monica Caison
Inge Genefke
Sarah Flannery
Mihiri Tillakaratne
Ada Aharoni
Olya Melen
Mory Sanberg
Annalena Tonelli
Hope Bevilhymer
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Đôi lời về soạn giả- Dịch giả Nguyễn Bích Lan
Tôi đã không hề phân vân bỏ ra hẳn hai buổi liền để đọc một mạch bằng
hết năm mươi câu chuyện trong cuốn sách Những người phụ nữ làm thay
đổi thế giới của soạn giả Nguyễn Bích Lan. Không phải chỉ vì tôi có may
mắn đã ít nhiều quen biết soạn giả, mà những câu chuyện ở đây quả thực có
sức hấp dẫn, mỗi câu chuyện đều đem lại cho tôi thêm hiểu biết, thêm niềm
tin tưởng vào lòng tốt của con người, cái đẹp của cuộc sống, và niềm tự hào
cùng với yêu kính, trân trọng đối với người phụ nữ - người mẹ của nhân
loại. Lại nữa mỗi câu chuyện ở đây đều được kể một cách ngắn gọn, hàm
súc, không trùng lặp, nhàm tản…
Cho đến nay, hình như nhiều người trong chúng ta mới chỉ ít nhiều biết đến
tên tuổi cũng như sự nghiệp sáng tác của nhà thơ lớn thế kỷ XIX trong văn
học Anh George Gordon Byron ( Bairơn, 1788- 1824). Có lẽ, cũng như tôi,
ít ai lại ngờ rằng con gái nhà thơ, Augusta Ada Byron (1815- 1852), với
cống hiến khoa học đáng kể cho tiến bộ của nhân loại, có thể nói, cũng là
một nhân vật lớn. Hóa ra con gái của nhà thơ chính là người đã đóng góp
khá nhiều để chúng ta ngày nay có được cái máy tính hiện đại- với nó ta
“có thể giải phóng những phép tính phức tạp nhất, có thể đánh máy tài liệu,
vẽ những bản vẽ thiết kế, lưu hóa đơn, soạn giáo án, nghe nhạc, chơi trò
chơi, gửi thư hoặc trò chuyện trực tiếp với bạn bè hoặc người thân của bạn
đang ở cách xa hàng nghìn cây số, thậm chí sản xuất một bộ phim v.v…”.
Chính câu chuyện mở đầu tập sách này cho ta được biết điều đó.
Lần lượt các câu chuyện khác trong sách kể cho chúng ta biết nhiều điều
mới lạ tương tự, hoặc có nhắc lại đôi điều, có thể mọi người từng biết ở dâu
đó, nhưng đọc lại trong một tổng thể vẫn làm ta xúc động.
Ngoài Augusta Ada Byron, ta được biết bao nhiêu người phụ nữ khác cũng
thật sự là tài giỏi, quả cảm, có một tấm lòng nhân ái bao la: Sofia
https://thuviensach.vn
Kovalevskaia (1850- 1891), nhà toán học người Nga, vượt bao nhiêu khó
khăn của lề thói lạc hậu phân biệt đối xử nam nữ của xã hội đương thời, trở
thành nhà khoa học- tác giả công trình “Nghiên cứu áp dụng toán học vào
giải bài toán chuyển động của khối chất rắn ngay cả khi trọng tâm của nó
không nằm ở trục của khối”. Thành tựu nghiên cứu của bà đã giải quyết
được bao nhiêu khó khăn trong ứng dụng khoa học vào đời sống. Những
năm qua nhiều nhà khoa học nữ của Việt Nam hàng năm được nhận giải
thưởng Kovalevskaia chính là một trong những biểu hiện của người đời ghi
công và tôn vinh bà. Marie Curie (1867- 1934), một phụ nữ tiêu biểu khác,
người Ba Lan, cùng với chồng là Pierre Curie là hai nhà vật lý nguyên tử,
xác định được khối lượng nguyên tử của radium, mở ra một triển vọng lớn
lao cho loài người sử dụng năng lượng vì mục đích cuộc sống con người.
Baulah Louise Henry (1887- 1973), người phụ nữ Mỹ có tới 110 phát minh
và 49 bằng sáng chế. Lise Meitner (1878- 1968), nhà khoa học nữ người
Đức, đóng góp lớn vào phát minh lý thuyết về quá trình phân giải hạt
nhân,v..v…
Hai câu chuyện về hai em gái nhỏ tuổi có lẽ sẽ để lại ấn tượng đặc biệt cho
người đọc: Anne Frank, cô bé con một gia đình Do Thái phải trốn tránh
cuộc vây giáp, đàn áp của chế độ phát xít, đã qua đời vi bệnh tật và đói
khát, không đợi được đến ngày giải phóng, nhưng đã để lại cho loài người
những trang nhật ký đầy lạc quan tin tưởng ở ngày mai. Và Sadako Sasaki,
cô bé người Nhật đã bị nhiễm phóng xạ do quả bom nguyên tử ném xuống
Hiroshima vào những ngày cuối cùng của cuộc thế chiến thứ hai. Nằm trên
giường bệnh, tin vào truyền thuyết, cô bé đã kiên nhẫn ngày ngày gập
những con nhạn giấy. Bé gập được hơn một nghìn con nhạn giấy mà vẫn
qua đời ở độ tuổi mười hai. Cô bé đã không cưỡng nổi số mệnh của mình,
nhưng để lại cho thế giới này ước nguyện lớn lao lao về hòa bình.
Nhưng làm người đọc xúc động và ghi nhớ hơn cả có lẽ là những câu
chuyện trong sách kể về những tấm gương cao cả vốn có của những người
phụ nữ - những người mẹ của nhân loại. Mẹ Teresa (1910- 1997) người gốc
https://thuviensach.vn
Anbani, từ năm mười tám tuổi đã gia nhập nhóm nữ tu ở Ireland và bắt đầu
các hoạt động nhân đạo, đi suốt cuộc đời cứu vớt những người nghèo đói,
bệnh tật. Công nương Diana Frances Spencer (1961- 1997) tình nguyện
nhân đạo giúp đỡ các bệnh nhân AIDS…
Tất cả những người phụ nữ tuyệt vời được nói trong các câu chuyện ở tập
sách, trước hết đều là những người có một nghị lực phi thường cùng với
một trái tim bao dung, đầy ắp tình yêu, tình yêu đối với đồng loại, tình yêu
với cuộc sống, tình yêu với trái đất tươi đẹp này…
Gấp tập sách này lại tôi nghĩ đến người soạn ra nó. Tôi được biết đến nữ
soạn giả trẻ tuổi này từ một bài báo đăng từ năm 2001. Dưới tiêu đề Những
mảnh đời khuất lấp bài báo hé mở cho người đọc biết về cuộc đời của một
cô bé tật nguyền: Cô bé Nguyễn Bích Lan. Đang học dở lớp 8 ở trường phổ
thông Minh Tân ( Hưng Hà, Thái Bình), Lan phải bỏ dở học vì một căn
bệnh hiểm nghèo. Buộc phải quanh quẩn, xê dịch rất khó khăn trong căn
phòng có 10 m2, cô bé Lan ở tuổi mười bốn không chịu an phận: với một
nghị lực, một quyết tâm lớn đã tìm ra lẽ sống “có ích cho đời”. Không còn
đến được trường cùng chúng bạn, một mình Lan xoay xở tìm mọi cách tự
học. Cô tự học tiếng Anh. Có được vốn tiếng Anh cô mở lớp dạy học, lúc
đầu cho khuây khỏa, dần dà cô thực sự trở thành cô giáo với 3,4 lớp, hàng
trăm học trò. Học trò của cô giáo Lan đều trưởng thành, thi đỗ vào đại học,
vào cao đẳng, trong số đó có tám em giờ đây cũng đã thành cô giáo dạy
Anh ngữ ở các trường phổ thông. Đến một lúc bệnh tật nặng thêm, không
còn đủ sức dạy học, Nguyễn Bích Lan lại tìm được một công việc thích hợp
với năng khiếu văn từ nhỏ, cộng với vốn tiếng Anh rèn rũa được trong
những năm qua- Bích Lan chuyển sang dịch sách.
Chỉ trong vòng ba, bốn năm, từ cuốn sách dịch đầu tiên, được Nhà xuất bản
Phụ nữ ấn hành năm 2001- Đừng bao giờ nghi ngờ tình yêu của em (tác
phẩm của nhà văn nữ người Scotland Daisy Thompson), tính đến nay
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan đã có tới mười đầu sách. Hầu như sách của Bích Lan đều
được Nhà xuất bản Phụ nữ tín nhiệm xuất bản và được đông đảo bạn đọc
hoan nghênh.
Việc dịch sách của Nguyễn Bích Lan mỗi ngày một thêm thuần thục, bài
bản. Với công cụ là chiếc máy tính, dịch giả không chỉ dùng thay cây bút,
mà tìm tòi học hỏi thêm, tra cứu và giao lưu với cả thế giới bên ngoài rộng
lớn. Nhờ nó chất lượng bản dịch dần được nâng cao. Dịch văn học thực ra
cũng là một thể loại sáng tạo ngôn từ. Người dịch văn học cũng là cây bút
sáng tạo văn chương. Giờ đây điều này tốt đối với Nguyễn Bích Lan đã gần
như trở thành sự thật. Cuốn sách biên soạn Những người phụ nữ làm thay
đổi thế giới của Nguyễn Bích Lan có thể coi là một minh chứng bổ sung
thêm.
Xin vui mừng giới thiệu với bạn đọc một thành công mới của dịch giả
Nguyễn Bích Lan, một con người vượt khó đầy nghị lực, đầy tài năng triển
vọng, từ một người tưởng như tàn phế đã trở thành cô giáo, rồi thành một
dịch giả được bạn đọc yêu mến.
Thúy Toàn
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Augusta Ada Byron
(1815- 1852)
CON GÁI CỦA THI SĨ BYRON
Bạn đã bao giờ ngắm một chiếc máy vi tính, một vật đã trở nên rất đỗi quen
thuộc trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, và tự hỏi chiếc máy vi tính
đầu tiên ra đời từ khi nào chưa? Bạn có tin rằng lịch sử của chiếc máy vi
tính bắt đầu từ cách đây gần 200 năm không? Và liệu bạn có băn khoăn nhờ
đâu mà con người thời bấy giờ có thể hiểu được nguyên lý vận hành của
một thiết bị có bộ nhớ, hoạt động nhờ những chương trình được lập sẵn và
có thể thực hiện nhiều công việc khác nhau, từ giải quyết các phép tính đến
thiết kế đồ họa? Nếu tìm đến với các câu trả lời bạn sẽ được biết về một
người phụ nữ đã góp công sức không nhỏ trong việc thúc đẩy kỹ thuật lập
https://thuviensach.vn
trình. Người phụ nữ đó là Augusta Ada Byron.
Augusta Ada Byron sin hănm 1815 tại London. Bà là con gái của thi sĩ nổi
tiếng thế giới George Gordon Noel Byron. Với thiên tài thơ ca, cha bà được
nhiều phụ nữ mến mộ và cuộc sống của cha mẹ bà vì thế không hạnh phúc.
Sau khi bà chào đời được vài tháng, cha bà đi khỏi nhà và không bao giờ
quay lại. Không muốn con gái mình theo truyền thống nhà Byron, mẹ của
Ada đã chủ động hướng bà tới toán học và các môn khoa học tự nhiên. Ada
tỏ ra rất thông minh và đặc biệt giỏi toán. Năm Ada mười tám tuổi, như
một sự sắp đặt của số mệnh bà gặp nhà phát minh Charles Babbage tại nhà
của Somerville, giáo viên dạy toán của bà. Babbage kể với Ada về chiếc
máy tính tự động có khả năng điều khiển được bằng các chỉ lệnh mà ông
đang phát triển khiến Ada lập tức bị cuốn hút và bà đã tìm đến tận phòng
nghiên cứu của Babbage để tìm hiểu về phát minh của ông.
Mùa thu năm 1841 Babbage trình bày kế hoạch phát triển chiếc máy của
mình tại một cuộc hội thảo ở Turin, Italia. Theo Babbage, chiếc máy của
ông sử dụng các bảng mạch điện tử, thực hiện các lệnh trên các bảng mạch
đó và nó cần được con người lập cho các công thức cũng như nhập dữ liệu
khởi đầu. Rất ít người hiểu được những gì ông mô tả.
Năm 1842 một người Italia tên là Luigi Federico Menabrea giới thiệu
những phát minh này của Babbage trong một bài báo in bằng tiếng Pháp.
Ada đã dịch bài báo này sang tiếng Anh và được sự khuyến khích của
Babbage bã đã bổ sung những chú thích của mình vào bản dịch. Bà chú
thích nhiều đến nỗi khiến cho bản dịch có độ dài gấp ba lần bài báo gốc.
Các chú thích của Ada nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa chiếc máy làm
tính đơn thuần của Pascal và chiếc máy biên dịch của Babbage, một chiếc
máy thực hiện lệnh cũng như xử lý dữ liệu một cách tuần tự. Từ điểm này
bà công nhận tầm quan trọng của người sử dụng máy (Ada muốn nói về
công việc mà ngày nay chúng ta gọi là phát triển phần mềm) và chỉ rõ rằng
chương trình lưu sẵn trong máy cần đảm bảo vừa chính xác vừa phù hợp
với mong muốn của người sử dụng.
Những chú thích của bài báo của Menabrea cho thấy rằng Ada không
những hiểu được nguyên lý hoạt động của chiếc máy mà còn đi xa hơn
https://thuviensach.vn
người phát minh ra nó trong việc đánh giá những khả năng cũng như đóng
góp của nó đối với nhân loại. Trong khi Babbage chỉ giới hạn khả năng của
chiếc máy trong lĩnh vực toán học thì Ada lại tin rằng một chiếc máy có bộ
nhớ như thế không chỉ giải quyết được các phép tính mà còn có thể thực
hiện các cấu trúc lựa chọn; làm được rất nhiều việc thậm chí cả việc soạn
nhạc và thiết kế đồ họa. Babbage vô cùng ngạc nhiên trước ý kiến của Ada.
Trong một bức thư gửi Ada ông đã viết: “Càng đọc những chú thích của cô
tôi càng ngạc nhiên và tôi tiếc rằng trước đây tôi đã không khám phá ra
tiềm năng to lớn đến thế của chiếc máy”.
Qua thư và qua những cuộc thăm viếng Babbage, Ada đã thực sự thiết lập
một mối quan hệ cộng tác gần gũi. Với khả năng toán học của mình, Ada
đã đóng góp nhiều ý kiến giúp ích cho Babbage trong việc phát triển chiếc
máy của ông. Chính bà là người đã gợi ý Babbage lập chương trình tính các
số Bernoulli, và chương trình này ngày nay được coi là chương trình máy
tính đầu tiên trên thế giới. Cũng có những ý kiến tranh cãi xung quanh điều
này song từ những bức thư trao đổi giữa Ada và Babbage đã được công bố,
không ai có thể phủ nhận những ảnh hưởng to lớn của Ada trong việc thúc
đẩy sự phát triển kỹ thuật lập trình. Người Mỹ đặt tên cho một ngôn ngữ
lập trình của họ là Ada chính là để khẳng định điều đó.
Qua một quá trình phát triển không ngừng, chiếc máy tính tự động được
phát triển không ngừng, chiếc máy tính tự động được điều khiển bằng các
chỉ lệnh của Babbage đã được cải tiến thành chiếc máy vi tính hiện đại với
vô số những tính năng hữu ích cho cuộc sống của con người. Ngày nay với
một chiếc máy vi tính bạn có thể giải những phép tính phức tạp nhất, có thể
đánh máy tài liệu, vẽ những bản thiết kế, lưu hóa đơn, lập giáo án, nghe
nhạc, chơi trò chơi, gửi thư hoặc trò chuyện trực tiếp với bạn bè hoặc người
thân của bạn đang ở cách xa hàng nghìn cây số, thậm chí sản xuất một bộ
phim, v.v… Và phần lớn những khả năng đó đã được Augusta Ada Byron
tiên liệu từ gần hai thế kỷ trước.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Sofia Kovalevskaya
(1850- 1891)
TOÁN HỌC – NIỀM KHÁT KHAO BẤT DIỆT
Không phải ngẫu nhiên người Việt Nam chúng ta đặt tên giải thưởng dành
tôn vinh những nhà khoa học nữ có đóng góp nổi bật cho đất nước là giải
Kovalevskaia. Đó là tên của một trong những nhà toán học nữ xuất sắc nhất
thế giới.
Sofia Kovalevskaia sinh ngày 15 tháng 1 năm 1850 tại Matxcova nước Nga
trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc. Hồi nhỏ bà thường ngồi hàng
giờ nghe người chú của mình nói về toán học. Một hôm bà nhận ra rằng các
tờ giấy dán tường trong phòng của mình hóa ra là những trang giấy in các
bài giảng về tích phân của Ostrogradski mà bà đã từng nghe người chú nói
đến. Bà bắt đầu tìm hiểu các phép toán từ các từ giấy dán tường đó.
Sofia tiếp thu bài giảng toán đầu tiên từ một gia sư tên là Y.I. Malevich. Bà
cảm thấy môn toán cuốn hút bà đến nỗi bà bắt đầu lơ là những môn học
khác. Nhận thấy điều đó bố của bà cấm không cho con gái tiếp tục học toán
nhưng càng bị cấm Sofia càng mê toán hơn. Bà mượn sách toán và lén đọc
https://thuviensach.vn
vào đêm khuya khi cả nhà đã ngủ. Năm mười bốn tuổi người hàng xóm của
bà, giáo sư Tyrtov, tặng gia đình bà một cuốn sách vật lý do ông viết. Vì
muốn hiểu được nội dung của cuốn sách Sofia đã tự học lượng giác và nhận
thức của bà khiến giáo sư Tyrtov rất ngạc nhiên. Giáo sư ra sức thuyết phục
cha của Sofia cho bà tiếp tục học toán. Cuối cùng Sofia cũng được cha cho
phép đi Saint Petersburg học những gì bà yêu thích.
Sau khi kết thúc bậc trung học, Sofia khát khao được học lên đại học. Vào
thời điểm đó ở Nga không một phụ nữ nào có thể thỏa mãn khát khao ấy ở
trong nước. Gần nước Nga nhất chỉ có Thụy Sĩ là có các trường đại học tiếp
nhận sinh viên nữ mà một thiếu nữ chưa chồng như Sofia lại không được
phép ra nước ngoài một mình. Khát khao học đại học lớn đến nỗi nó thúc
đẩy Sofia đi đến quyết định kết hôn trên danh nghĩa với một nhà cổ sinh
học tên là Vladimir Kovalevski để có cơ hội sang châu Âu. Năm 1868, bà
đến Heldelberg đăng ký học toán và khoa học tự nhiên tại trường đại học
của thành phố nhưng trường không tiếp nhận sinh viên nữ. Vì thế, Sofia
phải xin từng giáo viên cho bà được nghe họ giảng bài và phải thuyết phục
lãnh đạo nhà trường cho phép bà có mặt tại các lớp học với tư cách là sinh
viên không chính thức. Qua tất cả các học kỳ Sofia luôn khiến các bạn học
của bà ngạc nhiên bởi năng khiếu nổi bật về toán học. Đối với các giáo sư
khoa toán, Sofia là một hiện tượng hiếm thấy.
Năm 1871 Sofia đến đại học Berlin với mục đích tìm kiếm cơ hội nghiên
cứu toán học dưới sự hướng dẫn của Karl Weierstrass, người được coi là
nhà toán học nổi tiếng nhất của thời bấy giờ. Trường đại học Berlin từ chối
nhận Sofia nhưng may mắn thay sau khi thử khả năng của Sofia thầy
Weierstrass đã hiểu ra rằng mình đang có trong tay một tài năng đầy triển
vọng. Chính vì thế ông nhận hướng dẫn riêng cho Sofia. Không phụ công
người thầy ưu tú của mình, trong suốt bốn năm Sofia hoạt động miệt mài và
cho ra đời ba công trình nghiên cứu. Đó đều là những công trình có giá trị
https://thuviensach.vn
to lớn. Nếu như kết quả nghiên cứu về số nguyên của Sofia giúp rút gọn
các số nguyên Abel thành các số nguyên elip thì thuyết phương trình vi
phân của bà lại được ứng dụng vào việc nghiên cứu các tiểu hành tinh quay
quanh quỹ đạo sao Thổ.
Với các nghiên cứu đáng chú ý của mình, năm 1887 Sofia giành được học
vị tiến sĩ tại đại học Goettingen. Rời đại học Goettingen bà trở về nước Nga
và tại quê hương mình bà lại phải chịu những thiệt thòi về giới: Bà bị
trường đại học Saint Petersburg từ chối nhận làm giảng viên và không được
trường đại học Matxcova cho phép tham gia thi lấy bằng thạc sĩ của trường
đại học này. Một lần nữa Sofia lại quay sang châu Âu. Bà đến Đức, Pháp,
Thụy Điển làm giảng viên một số trường đại học và tiếp tục công việc
nghiên cứu khoa học.
Một trong những đóng góp quan trọng cho khoa học trong thời gian này
của Sofia là nghiên cứu áp dụng toán học vào giải bài toán chuyển động
của vật rắn. Năm 1888 bà cho công bố kết quả nghiên cứu trong một tài
liệu mang tên “Xoay một vật rắn quanh một điểm cố định”. Trước thời
điểm đó các nhà khoa học mới chỉ đưa ra được lời giải cho bài toán chuyển
động của khối vật rắn tại một điểm cố định trong trường hợp đối xứng.
Nghiên cứu của Sofia cho phép giải bài toán chuyển động khối chất rắn
ngay cả khi trọng tâm của nó không nằm ở trục của khối. Đánh giá cao
công trình nghiên cứu này của bà, năm 1888 Viện Hàn lâm khoa học Paris
không những đã quyết định trao giải thưởng khoa học cho bà mà còn nâng
mức tiền thưởng của giải từ 3000 lên 5000 franc. Công trình nghiên cứu về
chuyển động của khối chất rắn cũng đã mang lại cho bà giải thưởng của
Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển.
Đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì Sofia mắc bệnh viêm phổi. Bà qua đời
tại Stockholm, Thụy Điển vào ngày 10 tháng một năm 1891 trong niềm tiếc
thương của giới khoa học trên khắp hành tinh. Với tổng cộng mười công
https://thuviensach.vn
trình nghiên cứu về toán học và vật lý toán học, trong đó phần lớn là những
công trình tạo đà cho những khám phá quan trọng của tuơng lai, Sofia được
mệnh danh là một trong những nhà toán học nữ xuất sắc nhất thế giới.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Aletta Jacobs
(1854 – 1929)
NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN Ở HÀ LAN
Là con thứ tám trong một gia đình gồm mười hai người con của một cặp vợ
chồng người Hà Lan thuộc tầng lớp trung lưu, từ nhỏ Aletta Jacobs đã mơ
ước được đi theo con đường của cha mình, trở thành một nhà vật lý. Khác
với nhiều bậc phụ huynh ở nửa cuối thể kỷ XIX cha mẹ của Aletta không
những không ngăn cản con gái họ theo đuổi ước mơ mà còn cậy cục xin
cho Aletta học dự thính ở các lớp học dành cho con trai để bà có thể học
các môn tự nhiên thay vì chỉ học các môn xã hội và nữ công gia chánh.
Sau khi tốt nghiệp trung học và vượt qua kỳ thi tuyển phụ tá dược sĩ, Aletta
viết thư cho thủ tướng Thorbecka xin ông ta can thiệp để bà được vào học
đại học Groningen. Thủ tướng hẹn cho bà một năm thử thách. Đầu năm
1872 nghe tin thủ tướng ốm nặng Aletta sợ người kế nhiệm sẽ không chấp
nhận lời thỉnh cầu của bà nên bà quyết định tham gia thi đại học ngay và
gửi kết quả tới Thorbecka. Hai ngày sau khi Thorbecka qua đời, bà nhận
được giấy cho phép nhập trường Groningen.
Tại trường Groningen, Aletta luôn nỗ lực hết mình trong học tập. Trong
https://thuviensach.vn
suốt bốn năm bà luôn là sinh viên xuất sắc của khoa toán và vật lý. Năm
1878 bà chuyển đến Amsterdam để theo học trường y và kết thúc chương
trình học trong hai năm. Một số giáo viên của trường không chấp nhận việc
một người phụ nữ trở thành bác sĩ đã tìm cách cản trở bà. Hai vị giám khảo
đã xử thiếu công bằng với bà trong khi bà thi tốt nghiệp. Bà đã công khai
lên tiếng đấu tranh phản đối hai vị giám khảo này và suýt nữa thì không
nhận được bằng tốt nghiệp.
Khi còn là sinh viên, và đặc biệt là trong thời gian làm việc tại bệnh viện
Amsterdam, Aletta đã chững kiến quá nhiều cảnh những người phụ nữ khổ
sở vì đẻ dày đẻ nhiều. Họ nghèo túng và gầy mòn vì sinh đẻ. Cuộc sống của
họ là một gánh nặng với những kì thai nghén đầy vất vả. Trò chuyện với
những người phụ nữ ấy ở phòng hộ sinh, Aletta nhận thấy rằng đa số họ
không muốn sinh nhiều con như vậy, không muốn sinh ra những đứa con
ốm yếu và chết yểu, nhưng họ không biết làm thế nào để tránh thai. Họ
luôn sống trong nỗi lo sợ sẽ mang thai và hoang mang không biết tương lai
của những đứa con được sinh ra ngoài ý muốn sẽ ra sao. Aletta suy nghĩ rất
nhiều về vấn đề này nhưng chưa tìm ra cách gì để giúp những người phụ nữ
ấy. Nhiều lần bà đem băn khoăn của mình ra tâm sự với đồng nghiệp và chỉ
nhận được những lời nói buông xuông đại loại như: “Cái số đàn bà nó thế”
hay “Chẳng có cách tránh thai nào đâu, nếu có thì thế giới sụp đổ vì thiếu
người rồi”.
Aletta nghĩ rằng chỉ có phương pháp chống thụ thai mới có thể giúp giải
phóng người phụ nữ khỏi sự chịu đựng này. Bà tìm hiểu ý tưởng về biện
pháp tránh thai của Malthus vốn đã được chú ý từ đầu thế kỷ XIX và liên
lạc với những người đã vận dụng ý tưởng này theo cách riêng của họ. Năm
1882 bà đọc được một bài báo giới thiệu phương pháp đặt vòng tránh thai
của bác sĩ Mensinga ở Flensburg. Bà lập tức viết thư cho bác sĩ Mensinga.
Bà không những được bác sĩ Mensinga giải đáp mọi thắc mắc, mà còn nhận
được nhiều mẫu vòng tránh thai. Tuy nhiên bà không vội vàng phổ biến
phương pháp này mà thận trọng thử nghiệm trong một thời gian. Bà viết
thư cho những người phụ nữ có nhu cầu bức thiết đề nghị họ tham gia thử
nghiệm phương pháp đặt vòng, với điều kiện họ phải thường xuyên đi kiểm
https://thuviensach.vn
tra sức khỏe trong những tháng đầu. Rất nhiều người phụ nữ sẵn sàng đi đặt
vòng, nhờ thế mà chỉ sau một thời gian ngắn Aletta đã có thể khẳng định sự
thành công của phương pháp đó.
Ý thức được những rào cản về tôn giáo và hạn chế về dân trí, Aletta không
dám mong việc làm của bà sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ song bà không
ngờ mình lại tạo ra một sự phản đối kịch liệt đến như vậy. Những người
phản đối buộc tội bà tiếp tay cho lối sống vô đạo đức. Số ít những người
đồng tình thì không dám tỏ thái độ vì sợ phải gánh chịu chung số phận với
bà. Bạn bè của bà khuyên bà nên công khai thừa nhận việc làm của mình
làm một sai lầm và tuyên bố sẽ không tiếp tục phổ biến phương pháp tránh
thai nữa. Aletta không tiếp thu những ý kiến bàn lùi đó. Bà muốn cảm hóa
những người phản đối bà, muốn tranh luận công bằng với những đồng
nghiệp phủ nhận tính nhân đạo của việc bà làm. Tuy nhiên cũng có lúc
Aletta cảm thấy dường như bà đơn độc đứng ở một phía, phía kia là cả hệ
thống y tế và dư luận xã hội. Nhưng rồi bà nhận ra sự phản đối công khai
kia chỉ là hành động đạo đức giả. Các mục sư trong các buổi giảng kinh
thao thao bất tuyệt phản đối việc tránh thai nhưng chính họ lại đưa vợ mình
tới phòng khám của Aletta để đặt vòng. Những bác sĩ miệng thì tìm đủ lời
để chỉ trích Aletta, nhưng trong bụng chỉ muốn bà truyền lại cho mình
những kỹ thuật đặt vòng tránh thai.
Aletta tiếp tục việc làm nhân đạo của mình và nhờ có sự kiên quyết của bà
mà cuối cùng, việc sử dụng phương pháp tránh thai đã trở thành phổ biến ở
khắp đất nước Hà Lan. Hơn ba mươi năm sau kể từ khi thực hiện ca đặt
vòng tránh thai đầu tiên, bà thành lập một bệnh viện cung cấp dịch vụ tránh
thai. Chính Margaret Sanger, người đi đầu trong phong trào đấu tranh đòi
quyền kiểm soát việc sinh đẻ ở Mỹ, đã sang Hà Lan để tìm hiểu các phương
pháp tránh thai mà Aletta đã áp dụng thành công.
Cuộc đời của Aletta Jacobs là cuộc đời dành cho những cuộc đấu tranh giải
phóng phụ nữ. Đấu tranh cho nhân công nữ trong các cửa hàng được ngồi
ghế thay vì đứng tám đến mười tiếng một ngày, đấu tranh đòi quyền bầu cử
cho phụ nữ, đấu tranh bảo vệ sức khỏe cho những phụ nữ làm nghề mại
dâm, đấu tranh đòi quyền kiểm soát sinh đẻ cho những người phải mang
https://thuviensach.vn
nặng đẻ đau. Không có sự đóng góp của những người giàu cả về trí tuệ lẫn
tâm huyết như Aletta Jacobs, quá trình giải phóng phụ nữ ở Hà Lan nói
riêng và trên toàn thế giới nói chung, chắc chắn sẽ diễn ra khó khăn và
chậm chạp hơn rất nhiều, nếu không muốn nói là khó đạt được những thành
quả mà những người phụ nữ thời nay đang được hưởng.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Bích Lan biên soạn
Những người phụ nữ làm thay đổi thế giới
Edith Cavell
(1865 – 1915)
CHUYỆN KỂ Ở QUẢNG TRƯỜNGTRAFALGAR
Vào một ngày đẹp trời, một bé gái mười một tuổi đứng trước bức tượng
Edith Cavell tại quảng trường Trafalgar ở London nhẩm đọc dòng chữ:
“Tôi hiểu rằng chỉ có lòng yêu nước chưa đủ, tôi phải không thù hận hay
oán hờn bất cứ ai”. Đọc xong bé gái đó đứng yên nhìn mãi lên bức tượng
và khi mẹ của bé dắt tay bé đi, bé cứ ngoái đầu lại phía bức tượng. Thay vì
đi khỏi quảng trường, người mẹ đã dắt con trở lại chỗ bức tượng và ngay
tại đó bà bắt đầu kể cho con gái nghe câu chuyện về Edith Cavell.
Chuyện kể rằng Edith Cavell là một nữ y tá người Norfolk, thuộc nước
Anh. Năm 1907 khi bà mười tám tuổi bà được cử làm y tá của bệnh viện
Berkendael ở Brussels, thủ đô nước Bỉ. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra
https://thuviensach.vn
và ngày 4 tháng Tám năm 1914 quân Đức tràn vào nước Bỉ. Trong tình
hình chiến sự diễn ra ác liệt, bệnh viện Berkendael được Hội chữ thập đỏ
quốc tế sử dụng làm nơi cứu chữa cho thương binh. Những người bị thương
được đưa đến bệnh viện dù là người Anh, người Pháp, người Bỉ hay người
Đức đều được các bác sĩ và y tá cứu chữa với tinh thần nhân đạo cao cả.
Những người thuộc quân đồng minh sau khi được chữa trị vết thương,
thường được người của bệnh viện giúp trốn ra ngoài để khỏi rơi vào tay của
lính Đức. Edith là người tích cực nhất trong hoạt động đầy nguy hiểm đó.
Không những giúp những người bị thương trốn thoát bà còn giúp cả những
người lính đang bị truy lùng trốn trong bệnh viện, để rồi sau đó tổ chức đưa
những người đó tới vùng an toàn.
Lúc bấy giờ, ở đâu trên đường phố Brussels người ta cũng thấy những tấm
biển đề: “Bất kể đàn ông hay đàn bà, ai che giấu một lính Pháp hay lính
Anh đều phải chịu hình phạt nặng”. Có người đã cảnh báo Edith rằng lính
Đức đã nghi ngờ bà và bố trí theo dõi những người ra vào bệnh viện. Tuy
nhiên Edith vẫn không vì thề mà khoanh tay ngồi nhìn những người lính
đồng minh rơi vào tay quân phát xít Đức. Bà tiếp tục che giấu, giúp đỡ
lương thực, tiền bạc và tổ chức cho họ trốn sang nước trung lập Hà Lan.
Ngày 15 tháng Tám năm 1915 Edith Cavell bị quân Đức bắt vì tội “che
giấu kẻ thù”. Edith bị biệt giam trong mười tuần. Bạn bè và cả luật sư của
bà đều không được phép gặp bà. Ngày 7 tháng Mười tòa án Đức mở phiên
tòa xét xử bà cùng ba mươi tư người khác có cùng tội danh.
Nếu bị kết tội Edith sẽ bị xử tử. Luật sư của bà biện hộ rằng bà làm như vậy
chỉ vì sự cảm thông giữa người và người mà thôi. Nhưng Edith Cavell với
bản lĩnh phi thường đã đứng trước tòa không hề run sợ, thừa nhận rằng
chính bà đã giúp đỡ 200 người lính đồng minh trốn thoát khỏi Bỉ và bà biết
rõ rằng người người đó có thể sẽ quay lại chiến hào chống lại quân Đức. Bà
còn nói rằng những người lính trốn thoát đã gửi thư cảm ơn sự giúp đỡ của
bà. Khi được hỏi tại sao bà lại giúp những người lính ấy, Edith Cavell đã
đáp rằng nếu bà không giúp họ trốn thoát thì quân Đức sẽ giết chết họ và vì
https://thuviensach.vn
lẽ đó bà phải hành động để thực hiện nghĩa vụ của bà đối với tổ quốc.
Những gì Edith Cavell thừa nhận đủ để tòa án binh của Đức tuyên bố mức
án nặng nhất đối với bà.
Các nỗ lực ngoại giao đã được thúc đẩy nhằm cứu mạng sống của Edith
Cavell. Đại diện cho nước Mĩ, nước mà vào thời điểm ấy chưa tham chiến,
ông Hugh Gibson quan chức ngoại giao số một của Mỹ ở Brussels, đã
tuyên bố thẳng với chính phủ Đức rằng, việc xử tù Edith Cavell sẽ làm tổn
hại nghiêm trọng mối quan hệ ngoại giao vốn đã chẳng êm đềm giữa Đức
và Mỹ. Viên chức ngoại giao này đã cảnh báo người Đức rằng nếu họ xử tử
Edith Cavell họ sẽ phải đối mặt với sự bất bình trong dân chúng. Hugh
Gibson cùng ông Marquys de Villalobar đại diện chính phủ Tây Ban Nha ở
Brussels, và ông M. de Leval, quan chức ngoại giao người Bỉ đã trực tiếp
đến gặp Baron von der Lancken, đại diện chính trị của nước Đức ở Brussels
và nói chuyện điện thoại với tướng Von Sauberzweig phụ trách quân sự,
nhưng mọi nỗ lực của họ đều không mang lại kết quả. Những viên chỉ huy
người Đức nói, dù thế nào bản án cũng nhất định phải được thi hành.
Edith Cavell không kháng án. Bà bình tĩnh đợi cái chết. Ngày 11 tháng
Mười khi linh mục của nhà tù Gahan đến thăm, bà đã nói: “Tôi muốn
những người bạn của tôi biết rằng tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc mình. Tôi
không có gì phải sợ hay phải né tránh. Tôi đã chứng kiến cái chết quá nhiều
rồi, nhiều đến nỗi nó chẳng còn lạ lẫm hay đáng sợ đối với tôi nữa”.
Hai giờ sáng ngày 12 tháng Mười, chỉ chưa đầy mười tiếng, sau khi bản án
tử hình được tuyên bố, tại một địa điểm quân sự mang tên Tir National,
Edith Cavell đã bị xử bắn.
Khi còn sống, Edith Cavell đã cứu sống được nhiều mạng người và cái chết
của bà lại cứu thêm được những mạng sống khác. Sau khi Edith Cavell bị
xử bắn, toàn thế giới dồn lên sự căm giận quân phát xít Đức. Trước sự phản
đối gay gắt cả dư luận, quân đội Đức buộc phải hủy bỏ án xử tử đối với
https://thuviensach.vn
không ít tù nhân đã bị kết án. Học tập lòng dũng cảm của Edith Cavell,
hàng nghìn người ở Anh, Úc, Canada đã tình nguyện đăng lính tham gia
cuộc chiến chống lại phát xít Đức. Cái chết của Edith Cavell cũng đã góp
phần thúc đẩy nước Mỹ đi đến tuyên chiến với phát xít Đức.
Không biết cô bé mười một tuổi ở quảng trường Trafalgar có hiểu hết được
những gì mẹ cô muốn cô hiểu qua câu chuyện về Edith Cavell hay không?
Có lẽ cô bé chỉ hiểu phần nào song rất c...
 





