Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Nói sao cho trẻ chịu học ở nhà và ở trường

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 20h:36' 26-09-2024
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 20h:36' 26-09-2024
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Nói sao cho trẻ con chịu học
- Adele Faber & Elaine Mazlish HOW TO TALK SO KIDS CAN LEARN
Copyright © 1995 by Adele Faber, Elaine Mazlish, Lisa Nyberg, and
Rosalyn Anstine Templeton
Xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Scribner, a
Division of Simon & Schuster, Inc. và Công ty TNHH Sách Phương
Nam
Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty TNHH Sách Phương Nam, 2009
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của Công ty TNHH Sách
Phương Nam
Cha mẹ và thầy cô nói với trẻ như thế nào, trẻ sẽ cảm nhận về bản thân
như thế ấy. Lời nói của họ ảnh hưởng đến lòng tự trọng và cách trẻ tự đánh
giá bản thân. Hay nói rộng ra, cách nói của cha mẹ và thầy cô giữ vai trò
quyết định đối với số phận trẻ.
- HAIM GINOTT
LỜI CẢM ƠN
Quyển sách này đến được tay bạn đọc là nhờ ngay từ lúc mới chỉ
là ý tưởng, nó đã được rất nhiều người mong đợi.
Gia đình, bạn bè không ngừng động viên và khuyến khích chúng
tôi. Những bậc phụ huynh, thầy cô, những nhà giáo dục sức khỏe tâm
thần khắp nơi trên nước Mỹ và Canada đã đóng góp cả tiếng nói lẫn
tài liệu về việc ứng dụng các kỹ năng giao tiếp vào cách hành xử ở
nhà, cũng như ở nơi làm việc.
Joanna Faber, giáo viên của một trường ở nội thành, đã cung cấp
cho chúng tôi nhiều ví dụ sinh động mà cô tích lũy được trong suốt
mười năm dạy học.
Trường đại học Bradley, trường tiểu học Brattain đã nhiệt tình
ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi làm việc.
Họa sĩ Kimberly Ann Coe đã dành nhiều tâm huyết để tạo ra
những hình vẽ minh họa hết sức sinh động.
Bob Markel, đại diện bản quyền, đã luôn sát cánh bên chúng tôi
với những lời khuyên chí tình đúng lúc .
Eleanor Rawson, nhà sản xuất, đã tận tình hướng dẫn chúng tôi
từng đường đi nước bước.
Cuối cùng, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn tới tiến sĩ Thomas
Gordon bởi những công trình nghiên cứu uyên thâm của ông về phạm
trù những mối quan hệ giữa trẻ với người lớn; và cảm ơn cố tiến sĩ
Haim Ginott đã giúp chúng tôi hiểu ra tại sao và thế nào là “Tiên học
lễ, hậu học văn”.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
QUYỂN SÁCH NÀY RA ĐỜI NHƯ
THẾ NÀO
Quyển sách này được ươm mầm từ khi chúng tôi còn là những bà
mẹ trẻ đi tham dự những buổi sinh hoạt dành cho phụ huynh do nhà
tâm lý học trẻ em - tiến sĩ Haim Ginott phụ trách. Sau mỗi buổi sinh
hoạt, trên đường lái xe về nhà, chúng tôi thường cùng suy ngẫm về
sức mạnh của những kỹ năng giao tiếp mới vừa học được, rồi ngậm
ngùi vỡ lẽ ra: kể từ ngày đầu theo đuổi nghiệp dạy dỗ tới giờ, mình
chưa hề biết gì về những kỹ năng ấy, trong khi một người là giáo viên
phổ thông ở New York City, còn người kia dạy học tại cộng đồng dân
cư ở Manhattan.
Khi đó, chúng tôi không hề hình dung trước được những kinh
nghiệm ban đầu ấy rồi sẽ phát triển thành những gì. Hai thập niên
sau, những quyển sách mà chúng tôi viết cho các bậc phụ huynh đã
vượt qua mốc hai triệu bản và được dịch ra trên mười thứ tiếng.
Những bài diễn thuyết của chúng tôi tại tất cả các bang của Mỹ, và
hầu hết các tỉnh thành của Canada đều thu hút được đông đảo khán
thính giả và được họ nhiệt liệt hưởng ứng. Trên năm mươi ngàn
nhóm hoạt động xã hội tại những vùng đất xa xôi, ở tận Nicaragua,
Kenya, Malaysia và New Zealand đã sử dụng những băng nghe nhìn là
nội dung những hội thảo của chúng tôi trong các hoạt động của họ.
Và trong suốt quãng thời gian hai mươi năm qua, chúng tôi luôn
nhận được những phản hồi từ các giáo viên về những thay đổi đạt
được trong lớp học, sau khi họ tham dự những khóa học, nghe diễn
thuyết, hay đọc sách của chúng tôi. Và điều tất yếu xảy đến là, các giáo
viên luôn thúc giục chúng tôi viết một quyển sách tương tự cho ngành
của họ.
Một giáo viên ở Troy, Michigan, đã viết:
Sau hơn hai mươi năm kinh nghiệm giáo dục trẻ hư và trẻ có nguy cơ hư
hỏng, tôi thực sự kinh ngạc về những kỹ năng mà mình đã rút ra được từ
những quyển sách mà quý vị viết cho các bậc cha mẹ... Hiện tại, trong quận
mà tôi làm chuyên gia cố vấn sư phạm [1] đang thiết kế một nội quy kỷ luật
mới cho các trường học. Tôi tin chắc rằng các cách xử lý tình huống trong
quyển sách của quý vị sẽ là cốt lõi, là nền tảng cho nội quy mới này. Không
biết quý vị có nghĩ đến việc viết sách dành riêng cho các giáo viên không?
Một người làm công tác xã hội học đường ở Florissant, Missouri,
viết:
Mới đây tôi đã giới thiệu chương trình hội thảo How To Talk
So Kids Will Listen [2] của các vị cho phụ huynh trong địa hạt do tôi
phụ trách. Có một bà mẹ, đồng thời cũng là một giáo viên, bắt đầu
áp dụng những kỹ năng mới vào lớp học của mình và nhận thấy
những hành vi không tốt của học sinh đã giảm hẳn. Những thay đổi
trong lớp học của giáo viên ấy lập tức gây ấn tượng với bà hiệu
trưởng, bởi vì lâu nay bà rất lo ngại về sự gia tăng hình phạt đòn roi,
cũng như tình trạng bị đuổi học ở trường mình. Và bà đã mời tôi tổ
chức hội thảo cho toàn thể các giáo viên trong trường của bà.
Kết quả thật đáng khích lệ. “Nhu cầu” về hình phạt đòn roi đã
giảm hẳn. Rồi việc học sinh nghỉ học cũng bớt đi, trong khi lòng tự
trọng của các em được tăng lên, hầu như lan khắp toàn trường.
Một người sống ở New York City viết:
Tôi vô cùng lo sợ về việc càng ngày càng có nhiều trẻ em mang
dao và súng tới trường. Tôi không tin việc tăng cường nhân viên an
ninh và máy dò tìm kim loại sẽ có hiệu quả, tuy nhiên, cách giao tiếp
tốt hơn có lẽ sẽ cải thiện được tình hình này. Có lẽ, nếu các giáo viên
biết được những kỹ năng mà quý vị đã viết, ắt hẳn họ họ sẽ được
trang bị tốt hơn để giúp những đứa trẻ nóng nảy biết cách xử lý cơn
giận của chúng theo những cách không cần dùng đến bạo lực. Quý vị
có nghĩ đến việc viết sách dành cho các giáo viên, cha mẹ, hiệu
trưởng, trợ giảng, tài xế xe buýt trường học và thư ký ở trường
không?
Tuy hiểu được những lời đề nghị đó là cần thiết, nhưng chúng tôi
phải thừa nhận rằng mình không đảm nhận trách nhiệm viết sách cho
giáo viên. Vả lại, hiện giờ, chúng tôi không còn “chiến đấu” chung với
họ trên “mặt trận giáo dục” nữa.
Thế rồi có một cú điện thoại định mệnh do hai cô giáo Rosalyn
Templeton và Lisa Nyberg gọi tới. Lisa đang dạy lớp ba và lớp bốn tại
trường tiểu học Brattain ở Spring, bang Oregon. Rosalyn đang tham
gia đào tạo những giáo viên tương lai ở đại học Bradley, Peoria, bang
Illinois. Cả hai người đều bày tỏ mối lo lắng trước những biện pháp
trừng phạt và cưỡng chế được áp dụng thường xuyên trong các
trường học để uốn nắn hành vi của trẻ. Họ bảo rằng đã từ lâu lắm rồi,
họ vẫn tìm kiếm những tài liệu đề xuất cho giáo viên những phương
pháp mới, nhằm giúp học sinh tự giác kỷ luật hơn và biết tự giải
quyết vấn đề của chúng hơn.
Khi tình cờ đọc được quyển How To Talk So Kids Will Listen and
Listen So Kids Will Talk [3] , họ biết rằng họ đã thấy được những gì vẫn
tìm kiếm lâu nay, và họ xin phép được dựa trên quyển sách của chúng
tôi để viết một bản khác gần giống như vậy, dành cho giáo viên.
Càng nói chuyện chúng tôi càng nhận thấy rằng kinh nghiệm mà
họ tích lũy được thật rộng và phổ quát. Cả hai đều từng dạy học ở
thành thị, ngoại ô, nông thôn; đều có học vị tiến sĩ về giáo dục; và đều
từng được mời chủ trì những hội thảo giáo viên. Bỗng nhiên, đề án
mà chúng tôi còn lưỡng lự một thời gian dài bỗng trở nên khả thi.
Ngoài những kinh nghiệm trực tiếp đứng lớp và các tài liệu thu thập
được từ những giáo viên khác trong suốt hơn hai mươi năm qua, nay
còn có thêm sự đóng góp quý báu của hai người làm công tác giáo dục
này, chúng tôi biết rằng không gì có thể khiến chúng tôi chùn bước
được nữa.
Mùa hè năm đó, Rosalyn và Lisa tới gặp chúng tôi. Ngay từ đầu,
tất cả đã rất ăn ý với nhau. Sau khi bàn bạc, chúng tôi nhất trí rằng
thay vì đưa ra những lời thuyết giáo khô khan, quyển sách này sẽ
đóng vai trò như một người kể chuyện - đứng trên quan điểm của
một cô giáo trẻ đang nhiệt tình tìm kiếm những cách tốt nhất để dạy
dỗ học sinh của mình. Kinh nghiệm của cô ấy sẽ là sự tổng hợp, đúc
kết kinh nghiệm của tất cả chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm cho lời kể ấy
đáng tin cậy hơn bằng những yếu tố mà chúng tôi đã dùng trong các
tác phẩm trước. Đó là những mẩu truyện tranh nhỏ, những phần ghi
nhớ, hỏi đáp, cùng những câu chuyện minh họa.
Nhưng càng trao đổi với nhau, chúng tôi càng nghiệm ra, nếu
muốn nêu toàn bộ những việc nên làm nhằm giáo dục một đứa trẻ,
chúng tôi cần phải nhìn xa hơn phạm vi lớp học, phải chú ý nhiều tới
những “người thầy” đầu tiên và mãi mãi trong cuộc đời đứa trẻ ấy - chính
là cha mẹ nó. Bất kể điều gì xảy ra ở trường từ chín giờ sáng cho tới ba giờ
chiều cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những gì đã diễn ra trước và sau
quãng thời gian ấy, tức là lúc trẻ ở cùng với cha mẹ chúng. Dù cả cha mẹ
lẫn giáo viên có tích cực đến đâu đi chăng nữa mà không có những
công cụ giúp họ thực hiện những dự định tốt đẹp của mình, thì đứa
trẻ vẫn có thể hư như thường.
Các bậc cha mẹ và giáo viên cần phải biết kết hợp quyền lực với việc
làm gương. Họ cần ghi nhớ sự trái ngược hoàn toàn giữa lời nói làm tiêu
tan hi vọng với lời động viên, khuyến khích; giữa lời nói mời gọi sự hợp tác
hay kích động sự chống đối của trẻ; giữa lời nói làm cho trẻ không thể suy
nghĩ hay tập trung với lời nói khơi gợi và giải phóng khao khát học hỏi tự
nhiên của trẻ.
Bất giác, chúng tôi cảm thấy trách nhiệm của mình đối với thế hệ
trẻ ngày nay thật nặng nề. Trước kia, chưa khi nào giới trẻ lại có thể
xem nhiều hình ảnh tội ác dã man trên phim, trên các phương tiện
truyền thông đại chúng như bây giờ. Trước kia, bọn trẻ chẳng bao giờ
phải chứng kiến nhiều hình ảnh tuyên truyền trần trụi về những kiểu
giải quyết vấn đề bằng cách đánh nhau, ném bom hoặc xả đạn. Chưa
khi nào nhu cầu cung cấp cho con em chúng ta một khuôn mẫu sống
động về việc giao tiếp trung thực và tôn trọng lẫn nhau lại cấp thiết
như lúc này. Đó là cách bảo vệ tốt nhất mà ta có thể trang bị cho trẻ,
nhằm chống lại những cơn bột phát muốn bạo hành của chúng. Gặp
những trường hợp muốn nổi điên, thay vì đi tìm gậy gộc dao búa, trẻ
có thể vận dụng những lời lẽ mà những người quan trọng trong cuộc
đời chúng đã từng nói với chúng trước đây.
Với tất cả những lí do đó, đề án về quyển sách này đã được đặt lên
“bệ phóng”. Ba năm trời với biết bao bản thảo nháp, cuối cùng chúng
tôi đã có được bản thảo cuối cùng trong tay. Khỏi cần nói cũng biết tất
cả chúng tôi đã hài lòng và vui mừng đến mức nào. Chúng tôi đặt một
cái tựa rất rõ ràng: Nói Sao Cho Trẻ Chịu Học Ở Nhà và Ở Trường .
Chúng tôi đã nêu ra những ví dụ cụ thể về thái độ và ngôn ngữ của
quy trình học này. Chúng tôi cũng trình bày cách tạo ra một môi
trường cảm xúc, khiến cho trẻ cảm thấy an toàn để mở lòng ra trước
những cái mới lạ. Chúng tôi nêu bật lên cách làm sao cho trẻ dám
chịu trách nhiệm và rèn luyện tính tự giác. Đồng thời, chúng tôi cũng
chia sẻ nhiều phương pháp nhằm động viên, khích lệ trẻ tin rằng
chúng là ai và chúng sẽ trở thành người như thế nào.
Mong mỏi lớn nhất của chúng tôi là những ý kiến trong quyển
sách này sẽ giúp bạn khơi nguồn sáng tạo, trao quyền cho những đứa
trẻ yêu quý nhất đời bạn.
[1] . Nguyên gốc là “teacher consultant”: chuyên gia giáo dục chịu trách nhiệm cố
vấn xây dựng nội quy, chương trình giảng dạy, cơ cấu tổ chức cho trường phổ thông ND.
[2] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe.
[3] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe và Lắng Nghe Sao Cho Trẻ Chịu Nói.
“TÔI” LÀ AI?
Khi bắt đầu viết quyển sách này, chúng tôi đã nhất trí sẽ tạo ra
một nhân vật tên là Liz Lander làm người phát ngôn chung cho tất cả.
Cô ấy là một giáo viên trẻ - cũng giống như chúng tôi ngày trước - và
những nỗ lực, trăn trở của cô ấy với học sinh chính là tấm gương
phản ánh một cách chân thực những cố gắng mà chúng tôi từng thể
hiện. Cô ấy chính là nhân vật “Tôi” do chúng tôi tạo ra.
1. XỬ LÝ NHỮNG CẢM XÚC
GÂY CẢN TRỞ VIỆC HỌC
Chính những hồi tưởng về các giáo viên của mình - cả những hồi
tưởng tôi yêu thích lẫn những hồi tưởng mà tôi ghét - đã khiến tôi
quyết định trở thành một giáo viên.
Trong suốt những năm tháng học sư phạm tại trường đại học, tôi
luôn tin tưởng rằng mình có khả năng dạy trẻ theo cái cách làm cho
chúng muốn học. Tôi đã thủ sẵn trong đầu cả một danh sách dài dằng
dặc về những điều đáng xấu hổ mà mình không bao giờ được phép
nói ra hoặc thể hiện với học sinh; tôi cũng đã hình dung rõ ràng về
mức độ kiên nhẫn mà mình sẽ phải đeo đuổi.
Ngày đầu tiên - với tư cách là giáo viên “thật sự” - tôi đã rất
choáng váng. Tôi đã soạn bài và chuẩn bị kỹ lưỡng cho giờ lên lớp,
nhưng hoàn toàn không có “phòng bị” gì trước ba mươi hai em học
sinh lớp Sáu này. Ba mươi hai đứa trẻ to mồm, hiếu động và lúc nào
cũng đầy rẫy những đòi hỏi muốn thứ này, cần thứ nọ. Qua được nửa
buổi sáng thì tiếng chí chóe đầu tiên xuất hiện, “Ai lấy bút chì của
tao?” “Mày xê ra đi!” “Im đi! Tao đang nghe cô giảng.”
Tôi cứ vờ như chẳng nghe thấy gì và tiếp tục bài giảng, nhưng
những kẻ phá bĩnh vẫn không chịu thôi, “Tại sao em lại phải ngồi gần
nó?” “Em không hiểu cô bảo bọn em phải làm gì cả?” “Cô ơi, nó thụi
em!” “Tại nó kiếm chuyện trước chứ bộ!”
Đầu tôi bắt đầu kêu bưng bưng. Lớp học càng lúc càng ồn ào.
Những câu thần chú về “lòng kiên nhẫn và hiểu biết” đã hết linh
nghiệm ngay trên môi tôi. Lớp học này cần phải có một giáo viên biết
trấn áp mới được. Bất thình lình tôi quát lên:
“Thôi đi! Có ai lấy bút chì của em đâu!”
“Cô nói rồi, em phải ngồi gần bạn ấy!”
“Cô không quan tâm ai gây sự trước. Cô muốn việc này phải chấm
dứt ngay. Ngay lập tức!”
“Em bảo em không hiểu là ý làm sao? Cô vừa mới giải thích xong
còn gì!”
“Tôi không thể tin nổi cái lớp này. Các em nói năng hành động y
như học sinh lớp Một vậy. Làm ơn ngồi im đi!”
Có một thằng bé chẳng coi lời tôi ra gì. Nó tỉnh bơ rời khỏi chỗ
ngồi, bước tới lấy cái chuốt chì rồi đứng đó mà vặn chuốt mãi cho đến
khi cây bút chỉ còn một mẩu. Bằng giọng điệu nghiêm khắc nhất của
mình, tôi ra lệnh, “Đủ rồi! Về chỗ ngay!”
“Cô không bắt em làm gì được đâu,” nó cãi.
“Được, chúng ta sẽ nói rõ chuyện này sau giờ tan học.”
“Em không ở lại được. Em sẽ trễ xe buýt.”
“Thế thì cô đành phải mời phụ huynh của em đến để thông báo
chuyện này.”
“Cô không gọi cho ba mẹ em được đâu. Nhà em làm gì có điện
thoại!”
Đến ba giờ chiều thì tôi mệt lử. Bọn trẻ chen nhau ùa ra khỏi lớp
và tràn xuống đường. Chúng la hét, chạy nhảy như vừa được tiếp
thêm năng lượng. Nhưng lúc này chúng đã thuộc về trách nhiệm của
cha mẹ chúng. Tôi đã hết giờ làm việc của mình rồi.
Tôi ngồi phịch xuống ghế, ngó trân trân vào những dãy bàn học
trống trơn. Có chuyện gì thế? Sao bọn trẻ không nghe lời tôi? Tôi phải
làm gì để chế ngự chúng đây?
Trong suốt mấy tháng đầu đi dạy của tôi, tất cả các buổi học đều
diễn ra y như vậy. Mỗi sáng, tôi vào lớp với bao hy vọng tràn trề, rồi
buổi chiều lại ra về với tâm trạng chán chường vô tận. Tôi đã hoàn
toàn “bó tay” trước công việc nặng nề và chán ngắt là phải kéo lê lớp
học cho qua chương trình bắt buộc này. Nhưng tệ hơn hết, tôi đang
dần biến thành loại “bà cô” mà tôi không bao giờ muốn: giận dữ, hách
dịch, mất uy tín. Còn đám học sinh của tôi thì càng ngày càng bướng
bỉnh, ngang ngạnh. Càng về cuối học kỳ, tôi càng hay tự hỏi rằng
mình còn cầm cự được bao lâu nữa.
May mà Jane Davis, cô giáo dạy lớp bên cạnh, đã đến giải cứu cho
tôi. Sau cái ngày dốc bầu tâm sự với Jane, chị đưa cho tôi quyển sách
How To Talk So Kids Will Listen and Listen So Kids Will Talk. Chị bảo,
“Không biết quyển sách này có giúp gì được cho em không, nhưng
những kỹ năng nêu trong này đã cứu chị khỏi phát điên, phát khùng
với chính tụi nhóc ở nhà. Nó cũng giúp chị tạo nên sự thay đổi khác
biệt cho lớp học của mình đấy!”
Tôi cảm ơn Jane, cất quyển sách vào cặp rồi quên khuấy nó luôn.
Một tuần sau, trong khi đang nằm trên giường dưỡng bệnh vì cảm
lạnh, tôi vớ đại quyển sách ấy và mở ra đọc. Những dòng chữ in
nghiêng ở trang đầu tiên làm cho tôi phải nhổm người dậy:
Có mối liên hệ trực tiếp giữa cảm xúc và hành vi của trẻ.
Khi trẻ cảm thấy dễ chịu, chúng sẽ cư xử đúng mực.
Chúng ta phải làm sao để giúp trẻ cảm thấy dễ chịu?
- Hãy chấp nhận cảm xúc của chúng!
Tôi nằm xuống gối, nhắm nghiền mắt lại. Mình đã thừa nhận cảm
xúc của học sinh hay chưa? Tôi nhớ lại đôi ba lời đối đáp đã xảy ra
giữa mình với học sinh trong tuần đó:
Học sinh: Thưa cô, em không viết được!
Tôi: Sao không được?
Học sinh: Thiệt mà! Em chẳng nghĩ ra cái gì để viết cả.
Tôi: Em phải cố mà nghĩ! Đừng có rên rỉ nữa! Viết đi!
Học sinh: Em ghét môn lịch sử! Ai thèm quan tâm đến những
chuyện đã xảy ra cách đây cả trăm năm chứ!
Tôi: Em phải quan tâm! Ai cũng cần phải biết rõ về lịch sử nước
mình.
Học sinh: Nhưng nó chán ngắt!
Tôi: Chán gì mà chán! Nếu chú ý thì em sẽ thấy nó rất hay.
Thật nực cười! Tôi vốn là người vẫn thường thuyết giáo cho học
sinh về việc mỗi cá nhân đều có quyền có quan điểm và cảm xúc riêng.
Thế nhưng, trong thực tế, hễ khi nào bọn trẻ bộc lộ cảm xúc là tôi lại
dập tắt đi ngay. Tôi bắt bẻ, tranh luận với chúng. Như vậy, thông điệp
ngầm mà tôi chuyển đến chúng là, “Em cảm thấy như thế là sai rồi.
Hãy nghe theo lời cô đi.”
Tôi ngồi dậy và cố nhớ xem các thầy cô của mình ngày xưa có làm
như thế với mình không. Có một lần ở trường trung học, khi tôi đang
buồn vì lần đầu tiên bị điểm thấp môn toán, mà giáo viên dạy toán lại
cứ cố nhồi vào đầu tôi một lời động viên, “Chẳng việc gì phải buồn
bực cả, Liz. Không phải vì em thiếu khả năng về môn hình học, chỉ vì
em chưa tập trung chú ý thôi. Em cần phải quyết tâm hơn nữa. Vấn
đề nằm ở chỗ ý chí của em dở quá!”
Đương nhiên là thầy nói đúng, và tôi hiểu rất rõ ý thầy, nhưng
những lời ấy lại khiến tôi cảm thấy mình ngu ngốc và kém cỏi quá
chừng. Tới chỗ “em dở quá”, tôi không thèm lắng nghe nữa mà cứ
nhìn bộ ria mép của thầy động đậy lên xuống, và ráng chờ cho thầy
nói xong để chuồn cho lẹ. Phải chăng học sinh của tôi giờ đây cũng
cảm thấy như thế về tôi?
Trong những tuần sau đó, tôi cố gắng phản ứng một cách nhạy
cảm hơn với những cảm xúc của học trò mình, và cố đáp lại chúng
một cách thỏa đáng:
“Muốn chọn một đề tài để viết thật chẳng dễ, đúng không em?”
“Cô hiểu em nghĩ gì về môn lịch sử. Em đang phân vân tại sao người ta
lại quan tâm đến những việc đã xảy ra cách đây hàng trăm năm chứ gì.”
Cách này chính là lối thoát. Tôi có thể nhận thấy ngay rằng bọn
trẻ đã có biến đổi. Chúng gật đầu, nhìn thẳng vào mắt tôi, và nói cho
tôi nghe thêm về những gì chúng đang nghĩ. Nhưng bỗng một ngày
kia, Alex tuyên bố, “Em không muốn tới phòng thể dục nữa, không ai
ép được em đâu!” Học trò gì mà ăn nói láo lếu như thế, làm sao mà
chịu nổi cơ chứ! Không chần chừ một phút, bằng cái giọng khô khốc,
tôi đáp, “Em phải đến phòng tập ngay, không thì em phải lên văn
phòng!”
Tại sao việc thừa nhận những cảm xúc của trẻ lại khó đến thế?
Vào bữa trưa, tôi đem câu hỏi đó ra hỏi Jane và các giáo viên ngồi
cùng bàn ăn; tôi cũng kể với họ mình đã đọc được gì và đang nghĩ gì.
Chị Maria Estes, một phụ huynh tình nguyện [1] , lập tức lên tiếng
bênh vực giáo viên, “Mỗi thầy cô phải dạy hàng mấy chục học sinh, và
phải dạy chúng bao nhiêu là thứ. Cô ép mình phải lưu ý đến từng lời
nhỏ nhặt như thế làm gì!”
Jane thì tỏ ra trầm tư, “Có lẽ vậy, nhưng phải chi hồi trước cha
mẹ và thầy cô của chúng ta chịu khó để ý một chút về lời nói của họ ,
thì ngày nay chúng ta đã không bị thiếu quá nhiều kiến thức chưa
được học như vậy. Nói thẳng ra, chúng ta là sản phẩm của quá khứ
chúng ta. Bây giờ, chúng ta nói chuyện với học sinh của mình theo cái
cách hệt như ngày xưa cha mẹ và thầy cô đã nói với chúng ta. Tôi biết,
ngay cả với tụi nhóc ở nhà, tôi cũng phải mất rất nhiều thời gian để
thôi không lặp lại những câu rập khuôn hồi xưa nữa. Đó là một bước
tiến rất lớn đối với tôi, nhờ biết chuyển câu 'Đau gì chứ! Chỉ là một vết
xước tí tẹo thôi mà!' thành 'Ừ, trầy da là đau lắm đó!'”
Ken Watson, thầy giáo dạy môn khoa học, vặn lại, “Tôi không
đồng ý. Tôi thấy nói như vậy thì có gì khác đâu.”
Tôi còn đang vắt óc tìm một ví dụ để Ken Watson tự mình nghiệm
ra sự khác nhau giữa hai câu đó thì đã nghe Jane bảo, “Ken à, hãy
tưởng tượng thế này nhé, anh là một cậu thiếu niên vừa được gọi vào
đội bóng rổ, bóng đá, hay bóng gì gì đó của trường.”
Ken mỉm cười, “Bóng đá đi.”
“Ờ, bóng đá,” Jane gật đầu, “Vậy hãy tưởng tượng, anh đang hăm
hở đến buổi tập đầu tiên thì gặp ông huấn luyện viên độp ngay một
câu rằng, anh đã bị loại khỏi danh sách đội bóng.”
Ken rên lên.
“Một lát sau,” Jane nói tiếp, “anh gặp giáo viên chủ nhiệm ở hành
lang và kể cho cô ấy nghe hết mọi chuyện vừa xảy ra. Giờ, giả sử tôi là
cô giáo đó nhé, và tôi đã phản hồi theo rất nhiều cách, nhưng khổ nỗi,
không một cách nào thích hợp với tâm trạng buồn bã mà thằng bé
bên trong anh đang cảm nhận, hoặc nghĩ tới sau mỗi lời đáp của tôi.”
Ken cười toe, rút ra một cây viết và với lấy một tờ khăn giấy.
Sau đây là những giả thiết khác nhau về những lời mà Jane trong vai cô giáo chủ nhiệm - đã đáp lại “học sinh” Ken:
1. Chối bỏ cảm xúc
“Lúc này em có đau khổ, giận hờn cũng chẳng giải quyết
được gì. Trái đất có nổ tung vì em bị loại khỏi đội bóng đâu.
Thôi, quên việc đó đi!”
2. Triết lý
“Cuộc đời vốn không công bằng mà, nhưng em phải học
cách chịu đựng những cú đấm của nó thôi!”
3. Khuyên răn
“Em đừng mất tinh thần vì chuyện này. Hãy cố gắng rèn
luyện để được vào một đội khác.”
4. Chất vấn
“Em có nghĩ ra lý do vì sao mình bị loại không? Chắc tại các
bạn khác chơi giỏi hơn em chứ gì? Thế em bây giờ định làm
gì?”
5. Bênh vực phía bên kia
“Em hãy thử đặt mình vào vị trí của huấn luyện viên xem.
Thầy ấy muốn xây dựng một đội bóng chiến thắng. Chắc hẳn
thầy ấy đã rất khó khăn khi phải quyết định ai ở lại, ai ra khỏi
đội.”
6. Thương hại
“Ối, tội nghiệp em quá! Cô hiểu em thấy thế nào mà. Em đã
cố gắng rất nhiều để được chọn vào đội tuyển, nhưng em chưa
đủ giỏi. Tất cả các bạn khác đều biết thế.”
7. Nhà phân tích tâm lý nghiệp dư
“Em có nghĩ rằng lý do thật sự của việc bị gạt ra khỏi đội
bóng chính là vì thái độ 'thiếu lửa' của em không? Cô nghĩ,
trong tiềm thức, em vốn không muốn vào đội, vì vậy em mới cố
ý làm rùm beng chuyện này lên.”
Ken giơ hai tay lên trời, “Thôi, thôi! Đủ rồi. Tôi hiểu rồi.”
Tôi nói Ken cho tôi xem anh vừa mới viết ra những gì. Anh đẩy
cho tôi tấm khăn giấy. Tôi đọc to lên:
“Đừng dạy em phải cảm thấy như thế nào.”
“Đừng dạy em phải làm gì.”
“Cô chẳng bao giờ hiểu được đâu.”
“Cô có biết phải làm gì với những vấn đề của cô không? Cô đứng
về phía tất cả mọi người, ngoại trừ em.”
“Em là kẻ thua cuộc.”
“Đây là lần cuối cùng em thổ lộ bất cứ điều gì với cô.”
“Chết thật,” Maria thốt lên. “Tôi thường hay nói với thằng Marco
nhà tôi rất nhiều câu giống như Jane vừa nói với Ken. Nếu không
muốn chúng đốp chát lại như thế thì ta phải nói sao đây?”
“Thừa nhận tâm trạng thất vọng của chúng,” tôi trả lời rất nhanh.
“Bằng cách nào?” Maria hỏi.
Tôi ngắc ngứ không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn Jane cầu cứu.
Chị quay qua Ken và nhìn thẳng vào mắt anh, “Ken à, bị gạt khỏi đội
bóng khi đã tin chắc là mình có tên trong danh sách hẳn là một cú sốc
rất nặng, một nỗi thất vọng ghê gớm lắm, đúng không?”
Ken gật đầu, “Dạ, đúng ạ! Một cú sốc tệ hại. Thất vọng vô cùng.
Nhưng thành thật mà nói, em thực sự cảm thấy nhẹ nhõm khi có
người chịu hiểu điều đơn giản ấy.”
Sau đó chúng tôi còn thảo luận với nhau nhiều nữa. Maria thú
thật là từ khi chị lớn lên, chưa từng có ai chịu thừa nhận hay hiểu
những cảm xúc của chị cả. Ken hỏi, “Vậy tại sao chúng ta lại dám nghĩ
tới chuyện sẽ mang đến cho học trò những điều mà chính chúng ta
cũng chưa từng có?”
Rõ ràng chúng ta cần luyện tập nhiều hơn nếu muốn áp dụng
phương pháp phản hồi mới mẻ này với trẻ. Thế là tôi tự nguyện đi
tìm những ví dụ về việc thừa nhận cảm xúc của học sinh trong trường
học. Sau đây là các mẩu chuyện minh họa mà tôi đã soạn ra và chia sẻ
với các đồng nghiệp cùng ăn trưa với mình:
Ken nhìn vào những hình vẽ minh họa và lắc đầu. “Về lý thuyết,
tất cả những điều này nghe thì có vẻ hay lắm, nhưng tôi thấy, về phía
giáo viên vẫn còn khó khăn. Chúng ta lấy đâu ra thời gian để giúp học
sinh giải quyết cảm xúc của chúng đây?”
Mắt Jane lấp lánh như cười, “Phải tạo ra thời gian. Hãy tới
trường sớm hơn, và ra về trễ hơn. Hãy ăn trưa thật nhanh, và quên
luôn giờ nghỉ để đi vệ sinh cá nhân.”
“Chà, đúng đấy,” Ken bổ sung, “và ngoài những lúc soạn giáo án,
chấm bài, làm bản tin học tập, chuẩn bị hội thảo và lên lớp đều đều
mỗi ngày... chúng ta nên chú ý đến việc học sinh của mình cảm thấy
thế nào, hoặc vẽ ra cho chúng cái viễn cảnh mà chúng không thể có
trong thực tại.”
Trong khi nghe Ken nói, tôi nghĩ bụng, “Làm thế hình như là đòi
hỏi quá nhiều ở giáo viên.”
Dường như Jane đọc được suy nghĩ của tôi, chị liền bảo, “Nói một
cách nghiêm túc, tôi biết như thế là đòi hỏi giáo viên quá nhiều,
nhưng tôi cũng biết rằng đối với một đứa trẻ thì việc cảm thấy người
khác hiểu được mình là rất quan trọng. Có một thực tế rất đơn giản là
khi bọn trẻ bị ức chế về mặt cảm xúc chúng không thể nào tập trung
được. Như vậy, chắc chắn chúng sẽ không tiếp thu được bài mới. Nếu
muốn giúp chúng hết căng thẳng để bình tĩnh suy nghĩ, học hành, ta
cần phải xử lý những cảm xúc của chúng một cách đầy tôn trọng.”
“Nhưng không chỉ ở trường mới phải giải quyết cảm xúc thôi đâu,
mà còn ở nhà nữa.” Maria xen vào.
Tất cả chúng tôi quay qua nhìn chị. “Khi tôi chín tuổi,” chị giải
thích, “gia đình tôi chuyển nhà và tôi phải học trường khác. Cô giáo
mới rất nghiêm khắc. Lần nào làm kiểm tra môn số học, tôi cũng bị cô
phát lại bài làm với đầy những dấu gạch chéo màu đen to tướng ở
những câu trả lời sai. Rồi cô bắt tôi làm đi làm lại, đến chừng nào
đúng mới thôi. Tôi lo sợ mỗi khi đến tiết học của cô tới mức chẳng
suy nghĩ được gì nữa. Thỉnh thoảng, tôi cố chép lại bài của bạn khác.
Vào mỗi buổi tối trước ngày kiểm tra, tôi luôn bị đau bụng. Hễ tôi nói
với mẹ 'Mẹ ơi, con sợ,' thì bà lại bảo 'Chẳng việc gì phải sợ cả, cứ làm
hết sức mình là được.' Còn cha tôi thì khuyên, 'Nếu học bài kỹ thì con
sẽ chẳng phải sợ gì cả.' Nghe vậy, tôi càng cảm thấy hoảng hốt hơn.”
Ken nhìn Maria đăm đăm, “Giả sử cha hoặc mẹ chị bảo 'Trông con
có vẻ lo lắng về bài kiểm tra quá đấy, Maria,' thì sự việc sẽ khác đi
chăng?”
“Tất nhiên rồi!” Maria phấn khởi cao giọng. “Bởi vì khi đó có thể
tôi sẽ nói thật với cha mẹ về những dấu gạch chéo lên các câu trả lời
sai, cũng như nỗi xấu hổ vì cứ phải hết lần này tới lần khác bị nêu tên
khiển trách trước lớp.”
Ken vẫn chưa tin, “Nhưng ngay cả khi đã được cha mẹ giải tỏa
cảm xúc rồi thì có đủ để giúp chị bớt lo lắng và làm tốt môn toán
không?”
Maria trầm giọng, “Chắc là được, tôi nghĩ vậy,” chị nói chậm rãi,
“bởi vì nếu cha mẹ chịu lắng nghe những nỗi lo âu của tôi và để cho
tôi nói rõ về chúng, thì ngày hôm sau tôi sẽ yên tâm đi học hơn, sẽ
mong muốn đạt điểm tốt hơn.”
Vài ngày sau cuộc trò chuyện ấy, gặp lại Maria, tôi thấy chị mỉm
cười rạng rỡ và lôi từ trong ví ra một tờ giấy nhỏ gấp đôi, hào hứng
nói, “Tôi muốn kể cho mọi người nghe mấy câu mà các con tôi đã nói
trong tuần này. Sau khi tôi kể xong, mọi người hãy đoán xem tôi đã
không nói gì với chúng. Bắt đầu là câu nói của con gái tôi, cháu tên
Ana Ruth.” Maria mở tờ giấy ra và đọc, “Mẹ, cô dạy thể dục bắt một
mình con phải chạy nhiều vòng quanh sân, bởi vì con không thay đồ
nhanh bằng các bạn, thế là con bị bắt chạy cho cả lớp coi đó mẹ.”
Ken trả lời ngay lập tức, “Chị đã không nói ' Vậy chứ con muốn cô
giáo làm gì? Vỗ tay khen con chắc? Hay thưởng cho con huy chương người
chậm nhất?'”
Mọi người bật cười. Maria tiếp, “Giờ đến câu của con trai tôi,
cháu Marco, 'Mẹ, đừng bực mình nhé. Con làm mất găng tay rồi.'”
“Để tôi trả lời câu này,” Jane đáp. “Con nói gì hả? Đây là đôi găng
tay thứ hai con làm mất trong tháng này rồi đấy. Con nghĩ ba mẹ in ra tiền
à? Mai mốt, khi tháo găng tay ra, con nhớ nhét nó vào túi quần luôn nghe
chưa. Rồi trước khi xuống xe buýt, hãy kiểm tra chỗ ngồi và dưới sàn xe để
xem nó có rơi ra không.”
“Khoan. Nói câu đó thì có gì sai?” Ken hỏi. “Chị đang dạy thằng bé
về tinh thần trách nhiệm mà.”
“Nhưng thời điểm nói thì sai,” Jane nói.
“Tại sao?”
“Bởi vì khi người ta đang chìm thì không phải là lúc để bạn dạy họ
tập bơi.”
“Hừm. Tôi phải nghĩ kỹ về điều này mới được...” Ken nói, rồi chỉ
vào tôi, “Nào, giờ đến lượt cô, Liz à.” Maria nhìn vào tờ giấy và nói,
“Còn đây cũng là câu nói của Ana Ruth, 'Con chẳng biết là mình có
còn muốn ở trong dàn nhạc giao hưởng nữa hay không.'”
Tôi đốp liền, “ Mẹ đã tốn cả đống tiền cho con học đàn violin, mà giờ
con nói đến chuyện bỏ học hả! Ba con mà nghe được thì sẽ điên lên cho xem
.”
Maria nhìn chúng tôi kinh ngạc, “Sao mọi người biết rõ những gì
tôi đã suýt nói ra thế?”
“Quá dễ,” Jane bảo. “Đó là những gì cha mẹ chúng ta đã nói với
chúng ta, và cho đến giờ đấy vẫn là những gì tôi thường nói với con
cái mình.”
“Maria,” Ken nói, “đừng thử thách chúng tôi nữa. Chị đã nói gì
với các con thế?”
“Thế này nhé,” Maria tự hào trả lời,...
- Adele Faber & Elaine Mazlish HOW TO TALK SO KIDS CAN LEARN
Copyright © 1995 by Adele Faber, Elaine Mazlish, Lisa Nyberg, and
Rosalyn Anstine Templeton
Xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Scribner, a
Division of Simon & Schuster, Inc. và Công ty TNHH Sách Phương
Nam
Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty TNHH Sách Phương Nam, 2009
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của Công ty TNHH Sách
Phương Nam
Cha mẹ và thầy cô nói với trẻ như thế nào, trẻ sẽ cảm nhận về bản thân
như thế ấy. Lời nói của họ ảnh hưởng đến lòng tự trọng và cách trẻ tự đánh
giá bản thân. Hay nói rộng ra, cách nói của cha mẹ và thầy cô giữ vai trò
quyết định đối với số phận trẻ.
- HAIM GINOTT
LỜI CẢM ƠN
Quyển sách này đến được tay bạn đọc là nhờ ngay từ lúc mới chỉ
là ý tưởng, nó đã được rất nhiều người mong đợi.
Gia đình, bạn bè không ngừng động viên và khuyến khích chúng
tôi. Những bậc phụ huynh, thầy cô, những nhà giáo dục sức khỏe tâm
thần khắp nơi trên nước Mỹ và Canada đã đóng góp cả tiếng nói lẫn
tài liệu về việc ứng dụng các kỹ năng giao tiếp vào cách hành xử ở
nhà, cũng như ở nơi làm việc.
Joanna Faber, giáo viên của một trường ở nội thành, đã cung cấp
cho chúng tôi nhiều ví dụ sinh động mà cô tích lũy được trong suốt
mười năm dạy học.
Trường đại học Bradley, trường tiểu học Brattain đã nhiệt tình
ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi làm việc.
Họa sĩ Kimberly Ann Coe đã dành nhiều tâm huyết để tạo ra
những hình vẽ minh họa hết sức sinh động.
Bob Markel, đại diện bản quyền, đã luôn sát cánh bên chúng tôi
với những lời khuyên chí tình đúng lúc .
Eleanor Rawson, nhà sản xuất, đã tận tình hướng dẫn chúng tôi
từng đường đi nước bước.
Cuối cùng, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn tới tiến sĩ Thomas
Gordon bởi những công trình nghiên cứu uyên thâm của ông về phạm
trù những mối quan hệ giữa trẻ với người lớn; và cảm ơn cố tiến sĩ
Haim Ginott đã giúp chúng tôi hiểu ra tại sao và thế nào là “Tiên học
lễ, hậu học văn”.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
QUYỂN SÁCH NÀY RA ĐỜI NHƯ
THẾ NÀO
Quyển sách này được ươm mầm từ khi chúng tôi còn là những bà
mẹ trẻ đi tham dự những buổi sinh hoạt dành cho phụ huynh do nhà
tâm lý học trẻ em - tiến sĩ Haim Ginott phụ trách. Sau mỗi buổi sinh
hoạt, trên đường lái xe về nhà, chúng tôi thường cùng suy ngẫm về
sức mạnh của những kỹ năng giao tiếp mới vừa học được, rồi ngậm
ngùi vỡ lẽ ra: kể từ ngày đầu theo đuổi nghiệp dạy dỗ tới giờ, mình
chưa hề biết gì về những kỹ năng ấy, trong khi một người là giáo viên
phổ thông ở New York City, còn người kia dạy học tại cộng đồng dân
cư ở Manhattan.
Khi đó, chúng tôi không hề hình dung trước được những kinh
nghiệm ban đầu ấy rồi sẽ phát triển thành những gì. Hai thập niên
sau, những quyển sách mà chúng tôi viết cho các bậc phụ huynh đã
vượt qua mốc hai triệu bản và được dịch ra trên mười thứ tiếng.
Những bài diễn thuyết của chúng tôi tại tất cả các bang của Mỹ, và
hầu hết các tỉnh thành của Canada đều thu hút được đông đảo khán
thính giả và được họ nhiệt liệt hưởng ứng. Trên năm mươi ngàn
nhóm hoạt động xã hội tại những vùng đất xa xôi, ở tận Nicaragua,
Kenya, Malaysia và New Zealand đã sử dụng những băng nghe nhìn là
nội dung những hội thảo của chúng tôi trong các hoạt động của họ.
Và trong suốt quãng thời gian hai mươi năm qua, chúng tôi luôn
nhận được những phản hồi từ các giáo viên về những thay đổi đạt
được trong lớp học, sau khi họ tham dự những khóa học, nghe diễn
thuyết, hay đọc sách của chúng tôi. Và điều tất yếu xảy đến là, các giáo
viên luôn thúc giục chúng tôi viết một quyển sách tương tự cho ngành
của họ.
Một giáo viên ở Troy, Michigan, đã viết:
Sau hơn hai mươi năm kinh nghiệm giáo dục trẻ hư và trẻ có nguy cơ hư
hỏng, tôi thực sự kinh ngạc về những kỹ năng mà mình đã rút ra được từ
những quyển sách mà quý vị viết cho các bậc cha mẹ... Hiện tại, trong quận
mà tôi làm chuyên gia cố vấn sư phạm [1] đang thiết kế một nội quy kỷ luật
mới cho các trường học. Tôi tin chắc rằng các cách xử lý tình huống trong
quyển sách của quý vị sẽ là cốt lõi, là nền tảng cho nội quy mới này. Không
biết quý vị có nghĩ đến việc viết sách dành riêng cho các giáo viên không?
Một người làm công tác xã hội học đường ở Florissant, Missouri,
viết:
Mới đây tôi đã giới thiệu chương trình hội thảo How To Talk
So Kids Will Listen [2] của các vị cho phụ huynh trong địa hạt do tôi
phụ trách. Có một bà mẹ, đồng thời cũng là một giáo viên, bắt đầu
áp dụng những kỹ năng mới vào lớp học của mình và nhận thấy
những hành vi không tốt của học sinh đã giảm hẳn. Những thay đổi
trong lớp học của giáo viên ấy lập tức gây ấn tượng với bà hiệu
trưởng, bởi vì lâu nay bà rất lo ngại về sự gia tăng hình phạt đòn roi,
cũng như tình trạng bị đuổi học ở trường mình. Và bà đã mời tôi tổ
chức hội thảo cho toàn thể các giáo viên trong trường của bà.
Kết quả thật đáng khích lệ. “Nhu cầu” về hình phạt đòn roi đã
giảm hẳn. Rồi việc học sinh nghỉ học cũng bớt đi, trong khi lòng tự
trọng của các em được tăng lên, hầu như lan khắp toàn trường.
Một người sống ở New York City viết:
Tôi vô cùng lo sợ về việc càng ngày càng có nhiều trẻ em mang
dao và súng tới trường. Tôi không tin việc tăng cường nhân viên an
ninh và máy dò tìm kim loại sẽ có hiệu quả, tuy nhiên, cách giao tiếp
tốt hơn có lẽ sẽ cải thiện được tình hình này. Có lẽ, nếu các giáo viên
biết được những kỹ năng mà quý vị đã viết, ắt hẳn họ họ sẽ được
trang bị tốt hơn để giúp những đứa trẻ nóng nảy biết cách xử lý cơn
giận của chúng theo những cách không cần dùng đến bạo lực. Quý vị
có nghĩ đến việc viết sách dành cho các giáo viên, cha mẹ, hiệu
trưởng, trợ giảng, tài xế xe buýt trường học và thư ký ở trường
không?
Tuy hiểu được những lời đề nghị đó là cần thiết, nhưng chúng tôi
phải thừa nhận rằng mình không đảm nhận trách nhiệm viết sách cho
giáo viên. Vả lại, hiện giờ, chúng tôi không còn “chiến đấu” chung với
họ trên “mặt trận giáo dục” nữa.
Thế rồi có một cú điện thoại định mệnh do hai cô giáo Rosalyn
Templeton và Lisa Nyberg gọi tới. Lisa đang dạy lớp ba và lớp bốn tại
trường tiểu học Brattain ở Spring, bang Oregon. Rosalyn đang tham
gia đào tạo những giáo viên tương lai ở đại học Bradley, Peoria, bang
Illinois. Cả hai người đều bày tỏ mối lo lắng trước những biện pháp
trừng phạt và cưỡng chế được áp dụng thường xuyên trong các
trường học để uốn nắn hành vi của trẻ. Họ bảo rằng đã từ lâu lắm rồi,
họ vẫn tìm kiếm những tài liệu đề xuất cho giáo viên những phương
pháp mới, nhằm giúp học sinh tự giác kỷ luật hơn và biết tự giải
quyết vấn đề của chúng hơn.
Khi tình cờ đọc được quyển How To Talk So Kids Will Listen and
Listen So Kids Will Talk [3] , họ biết rằng họ đã thấy được những gì vẫn
tìm kiếm lâu nay, và họ xin phép được dựa trên quyển sách của chúng
tôi để viết một bản khác gần giống như vậy, dành cho giáo viên.
Càng nói chuyện chúng tôi càng nhận thấy rằng kinh nghiệm mà
họ tích lũy được thật rộng và phổ quát. Cả hai đều từng dạy học ở
thành thị, ngoại ô, nông thôn; đều có học vị tiến sĩ về giáo dục; và đều
từng được mời chủ trì những hội thảo giáo viên. Bỗng nhiên, đề án
mà chúng tôi còn lưỡng lự một thời gian dài bỗng trở nên khả thi.
Ngoài những kinh nghiệm trực tiếp đứng lớp và các tài liệu thu thập
được từ những giáo viên khác trong suốt hơn hai mươi năm qua, nay
còn có thêm sự đóng góp quý báu của hai người làm công tác giáo dục
này, chúng tôi biết rằng không gì có thể khiến chúng tôi chùn bước
được nữa.
Mùa hè năm đó, Rosalyn và Lisa tới gặp chúng tôi. Ngay từ đầu,
tất cả đã rất ăn ý với nhau. Sau khi bàn bạc, chúng tôi nhất trí rằng
thay vì đưa ra những lời thuyết giáo khô khan, quyển sách này sẽ
đóng vai trò như một người kể chuyện - đứng trên quan điểm của
một cô giáo trẻ đang nhiệt tình tìm kiếm những cách tốt nhất để dạy
dỗ học sinh của mình. Kinh nghiệm của cô ấy sẽ là sự tổng hợp, đúc
kết kinh nghiệm của tất cả chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm cho lời kể ấy
đáng tin cậy hơn bằng những yếu tố mà chúng tôi đã dùng trong các
tác phẩm trước. Đó là những mẩu truyện tranh nhỏ, những phần ghi
nhớ, hỏi đáp, cùng những câu chuyện minh họa.
Nhưng càng trao đổi với nhau, chúng tôi càng nghiệm ra, nếu
muốn nêu toàn bộ những việc nên làm nhằm giáo dục một đứa trẻ,
chúng tôi cần phải nhìn xa hơn phạm vi lớp học, phải chú ý nhiều tới
những “người thầy” đầu tiên và mãi mãi trong cuộc đời đứa trẻ ấy - chính
là cha mẹ nó. Bất kể điều gì xảy ra ở trường từ chín giờ sáng cho tới ba giờ
chiều cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những gì đã diễn ra trước và sau
quãng thời gian ấy, tức là lúc trẻ ở cùng với cha mẹ chúng. Dù cả cha mẹ
lẫn giáo viên có tích cực đến đâu đi chăng nữa mà không có những
công cụ giúp họ thực hiện những dự định tốt đẹp của mình, thì đứa
trẻ vẫn có thể hư như thường.
Các bậc cha mẹ và giáo viên cần phải biết kết hợp quyền lực với việc
làm gương. Họ cần ghi nhớ sự trái ngược hoàn toàn giữa lời nói làm tiêu
tan hi vọng với lời động viên, khuyến khích; giữa lời nói mời gọi sự hợp tác
hay kích động sự chống đối của trẻ; giữa lời nói làm cho trẻ không thể suy
nghĩ hay tập trung với lời nói khơi gợi và giải phóng khao khát học hỏi tự
nhiên của trẻ.
Bất giác, chúng tôi cảm thấy trách nhiệm của mình đối với thế hệ
trẻ ngày nay thật nặng nề. Trước kia, chưa khi nào giới trẻ lại có thể
xem nhiều hình ảnh tội ác dã man trên phim, trên các phương tiện
truyền thông đại chúng như bây giờ. Trước kia, bọn trẻ chẳng bao giờ
phải chứng kiến nhiều hình ảnh tuyên truyền trần trụi về những kiểu
giải quyết vấn đề bằng cách đánh nhau, ném bom hoặc xả đạn. Chưa
khi nào nhu cầu cung cấp cho con em chúng ta một khuôn mẫu sống
động về việc giao tiếp trung thực và tôn trọng lẫn nhau lại cấp thiết
như lúc này. Đó là cách bảo vệ tốt nhất mà ta có thể trang bị cho trẻ,
nhằm chống lại những cơn bột phát muốn bạo hành của chúng. Gặp
những trường hợp muốn nổi điên, thay vì đi tìm gậy gộc dao búa, trẻ
có thể vận dụng những lời lẽ mà những người quan trọng trong cuộc
đời chúng đã từng nói với chúng trước đây.
Với tất cả những lí do đó, đề án về quyển sách này đã được đặt lên
“bệ phóng”. Ba năm trời với biết bao bản thảo nháp, cuối cùng chúng
tôi đã có được bản thảo cuối cùng trong tay. Khỏi cần nói cũng biết tất
cả chúng tôi đã hài lòng và vui mừng đến mức nào. Chúng tôi đặt một
cái tựa rất rõ ràng: Nói Sao Cho Trẻ Chịu Học Ở Nhà và Ở Trường .
Chúng tôi đã nêu ra những ví dụ cụ thể về thái độ và ngôn ngữ của
quy trình học này. Chúng tôi cũng trình bày cách tạo ra một môi
trường cảm xúc, khiến cho trẻ cảm thấy an toàn để mở lòng ra trước
những cái mới lạ. Chúng tôi nêu bật lên cách làm sao cho trẻ dám
chịu trách nhiệm và rèn luyện tính tự giác. Đồng thời, chúng tôi cũng
chia sẻ nhiều phương pháp nhằm động viên, khích lệ trẻ tin rằng
chúng là ai và chúng sẽ trở thành người như thế nào.
Mong mỏi lớn nhất của chúng tôi là những ý kiến trong quyển
sách này sẽ giúp bạn khơi nguồn sáng tạo, trao quyền cho những đứa
trẻ yêu quý nhất đời bạn.
[1] . Nguyên gốc là “teacher consultant”: chuyên gia giáo dục chịu trách nhiệm cố
vấn xây dựng nội quy, chương trình giảng dạy, cơ cấu tổ chức cho trường phổ thông ND.
[2] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe.
[3] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe và Lắng Nghe Sao Cho Trẻ Chịu Nói.
“TÔI” LÀ AI?
Khi bắt đầu viết quyển sách này, chúng tôi đã nhất trí sẽ tạo ra
một nhân vật tên là Liz Lander làm người phát ngôn chung cho tất cả.
Cô ấy là một giáo viên trẻ - cũng giống như chúng tôi ngày trước - và
những nỗ lực, trăn trở của cô ấy với học sinh chính là tấm gương
phản ánh một cách chân thực những cố gắng mà chúng tôi từng thể
hiện. Cô ấy chính là nhân vật “Tôi” do chúng tôi tạo ra.
1. XỬ LÝ NHỮNG CẢM XÚC
GÂY CẢN TRỞ VIỆC HỌC
Chính những hồi tưởng về các giáo viên của mình - cả những hồi
tưởng tôi yêu thích lẫn những hồi tưởng mà tôi ghét - đã khiến tôi
quyết định trở thành một giáo viên.
Trong suốt những năm tháng học sư phạm tại trường đại học, tôi
luôn tin tưởng rằng mình có khả năng dạy trẻ theo cái cách làm cho
chúng muốn học. Tôi đã thủ sẵn trong đầu cả một danh sách dài dằng
dặc về những điều đáng xấu hổ mà mình không bao giờ được phép
nói ra hoặc thể hiện với học sinh; tôi cũng đã hình dung rõ ràng về
mức độ kiên nhẫn mà mình sẽ phải đeo đuổi.
Ngày đầu tiên - với tư cách là giáo viên “thật sự” - tôi đã rất
choáng váng. Tôi đã soạn bài và chuẩn bị kỹ lưỡng cho giờ lên lớp,
nhưng hoàn toàn không có “phòng bị” gì trước ba mươi hai em học
sinh lớp Sáu này. Ba mươi hai đứa trẻ to mồm, hiếu động và lúc nào
cũng đầy rẫy những đòi hỏi muốn thứ này, cần thứ nọ. Qua được nửa
buổi sáng thì tiếng chí chóe đầu tiên xuất hiện, “Ai lấy bút chì của
tao?” “Mày xê ra đi!” “Im đi! Tao đang nghe cô giảng.”
Tôi cứ vờ như chẳng nghe thấy gì và tiếp tục bài giảng, nhưng
những kẻ phá bĩnh vẫn không chịu thôi, “Tại sao em lại phải ngồi gần
nó?” “Em không hiểu cô bảo bọn em phải làm gì cả?” “Cô ơi, nó thụi
em!” “Tại nó kiếm chuyện trước chứ bộ!”
Đầu tôi bắt đầu kêu bưng bưng. Lớp học càng lúc càng ồn ào.
Những câu thần chú về “lòng kiên nhẫn và hiểu biết” đã hết linh
nghiệm ngay trên môi tôi. Lớp học này cần phải có một giáo viên biết
trấn áp mới được. Bất thình lình tôi quát lên:
“Thôi đi! Có ai lấy bút chì của em đâu!”
“Cô nói rồi, em phải ngồi gần bạn ấy!”
“Cô không quan tâm ai gây sự trước. Cô muốn việc này phải chấm
dứt ngay. Ngay lập tức!”
“Em bảo em không hiểu là ý làm sao? Cô vừa mới giải thích xong
còn gì!”
“Tôi không thể tin nổi cái lớp này. Các em nói năng hành động y
như học sinh lớp Một vậy. Làm ơn ngồi im đi!”
Có một thằng bé chẳng coi lời tôi ra gì. Nó tỉnh bơ rời khỏi chỗ
ngồi, bước tới lấy cái chuốt chì rồi đứng đó mà vặn chuốt mãi cho đến
khi cây bút chỉ còn một mẩu. Bằng giọng điệu nghiêm khắc nhất của
mình, tôi ra lệnh, “Đủ rồi! Về chỗ ngay!”
“Cô không bắt em làm gì được đâu,” nó cãi.
“Được, chúng ta sẽ nói rõ chuyện này sau giờ tan học.”
“Em không ở lại được. Em sẽ trễ xe buýt.”
“Thế thì cô đành phải mời phụ huynh của em đến để thông báo
chuyện này.”
“Cô không gọi cho ba mẹ em được đâu. Nhà em làm gì có điện
thoại!”
Đến ba giờ chiều thì tôi mệt lử. Bọn trẻ chen nhau ùa ra khỏi lớp
và tràn xuống đường. Chúng la hét, chạy nhảy như vừa được tiếp
thêm năng lượng. Nhưng lúc này chúng đã thuộc về trách nhiệm của
cha mẹ chúng. Tôi đã hết giờ làm việc của mình rồi.
Tôi ngồi phịch xuống ghế, ngó trân trân vào những dãy bàn học
trống trơn. Có chuyện gì thế? Sao bọn trẻ không nghe lời tôi? Tôi phải
làm gì để chế ngự chúng đây?
Trong suốt mấy tháng đầu đi dạy của tôi, tất cả các buổi học đều
diễn ra y như vậy. Mỗi sáng, tôi vào lớp với bao hy vọng tràn trề, rồi
buổi chiều lại ra về với tâm trạng chán chường vô tận. Tôi đã hoàn
toàn “bó tay” trước công việc nặng nề và chán ngắt là phải kéo lê lớp
học cho qua chương trình bắt buộc này. Nhưng tệ hơn hết, tôi đang
dần biến thành loại “bà cô” mà tôi không bao giờ muốn: giận dữ, hách
dịch, mất uy tín. Còn đám học sinh của tôi thì càng ngày càng bướng
bỉnh, ngang ngạnh. Càng về cuối học kỳ, tôi càng hay tự hỏi rằng
mình còn cầm cự được bao lâu nữa.
May mà Jane Davis, cô giáo dạy lớp bên cạnh, đã đến giải cứu cho
tôi. Sau cái ngày dốc bầu tâm sự với Jane, chị đưa cho tôi quyển sách
How To Talk So Kids Will Listen and Listen So Kids Will Talk. Chị bảo,
“Không biết quyển sách này có giúp gì được cho em không, nhưng
những kỹ năng nêu trong này đã cứu chị khỏi phát điên, phát khùng
với chính tụi nhóc ở nhà. Nó cũng giúp chị tạo nên sự thay đổi khác
biệt cho lớp học của mình đấy!”
Tôi cảm ơn Jane, cất quyển sách vào cặp rồi quên khuấy nó luôn.
Một tuần sau, trong khi đang nằm trên giường dưỡng bệnh vì cảm
lạnh, tôi vớ đại quyển sách ấy và mở ra đọc. Những dòng chữ in
nghiêng ở trang đầu tiên làm cho tôi phải nhổm người dậy:
Có mối liên hệ trực tiếp giữa cảm xúc và hành vi của trẻ.
Khi trẻ cảm thấy dễ chịu, chúng sẽ cư xử đúng mực.
Chúng ta phải làm sao để giúp trẻ cảm thấy dễ chịu?
- Hãy chấp nhận cảm xúc của chúng!
Tôi nằm xuống gối, nhắm nghiền mắt lại. Mình đã thừa nhận cảm
xúc của học sinh hay chưa? Tôi nhớ lại đôi ba lời đối đáp đã xảy ra
giữa mình với học sinh trong tuần đó:
Học sinh: Thưa cô, em không viết được!
Tôi: Sao không được?
Học sinh: Thiệt mà! Em chẳng nghĩ ra cái gì để viết cả.
Tôi: Em phải cố mà nghĩ! Đừng có rên rỉ nữa! Viết đi!
Học sinh: Em ghét môn lịch sử! Ai thèm quan tâm đến những
chuyện đã xảy ra cách đây cả trăm năm chứ!
Tôi: Em phải quan tâm! Ai cũng cần phải biết rõ về lịch sử nước
mình.
Học sinh: Nhưng nó chán ngắt!
Tôi: Chán gì mà chán! Nếu chú ý thì em sẽ thấy nó rất hay.
Thật nực cười! Tôi vốn là người vẫn thường thuyết giáo cho học
sinh về việc mỗi cá nhân đều có quyền có quan điểm và cảm xúc riêng.
Thế nhưng, trong thực tế, hễ khi nào bọn trẻ bộc lộ cảm xúc là tôi lại
dập tắt đi ngay. Tôi bắt bẻ, tranh luận với chúng. Như vậy, thông điệp
ngầm mà tôi chuyển đến chúng là, “Em cảm thấy như thế là sai rồi.
Hãy nghe theo lời cô đi.”
Tôi ngồi dậy và cố nhớ xem các thầy cô của mình ngày xưa có làm
như thế với mình không. Có một lần ở trường trung học, khi tôi đang
buồn vì lần đầu tiên bị điểm thấp môn toán, mà giáo viên dạy toán lại
cứ cố nhồi vào đầu tôi một lời động viên, “Chẳng việc gì phải buồn
bực cả, Liz. Không phải vì em thiếu khả năng về môn hình học, chỉ vì
em chưa tập trung chú ý thôi. Em cần phải quyết tâm hơn nữa. Vấn
đề nằm ở chỗ ý chí của em dở quá!”
Đương nhiên là thầy nói đúng, và tôi hiểu rất rõ ý thầy, nhưng
những lời ấy lại khiến tôi cảm thấy mình ngu ngốc và kém cỏi quá
chừng. Tới chỗ “em dở quá”, tôi không thèm lắng nghe nữa mà cứ
nhìn bộ ria mép của thầy động đậy lên xuống, và ráng chờ cho thầy
nói xong để chuồn cho lẹ. Phải chăng học sinh của tôi giờ đây cũng
cảm thấy như thế về tôi?
Trong những tuần sau đó, tôi cố gắng phản ứng một cách nhạy
cảm hơn với những cảm xúc của học trò mình, và cố đáp lại chúng
một cách thỏa đáng:
“Muốn chọn một đề tài để viết thật chẳng dễ, đúng không em?”
“Cô hiểu em nghĩ gì về môn lịch sử. Em đang phân vân tại sao người ta
lại quan tâm đến những việc đã xảy ra cách đây hàng trăm năm chứ gì.”
Cách này chính là lối thoát. Tôi có thể nhận thấy ngay rằng bọn
trẻ đã có biến đổi. Chúng gật đầu, nhìn thẳng vào mắt tôi, và nói cho
tôi nghe thêm về những gì chúng đang nghĩ. Nhưng bỗng một ngày
kia, Alex tuyên bố, “Em không muốn tới phòng thể dục nữa, không ai
ép được em đâu!” Học trò gì mà ăn nói láo lếu như thế, làm sao mà
chịu nổi cơ chứ! Không chần chừ một phút, bằng cái giọng khô khốc,
tôi đáp, “Em phải đến phòng tập ngay, không thì em phải lên văn
phòng!”
Tại sao việc thừa nhận những cảm xúc của trẻ lại khó đến thế?
Vào bữa trưa, tôi đem câu hỏi đó ra hỏi Jane và các giáo viên ngồi
cùng bàn ăn; tôi cũng kể với họ mình đã đọc được gì và đang nghĩ gì.
Chị Maria Estes, một phụ huynh tình nguyện [1] , lập tức lên tiếng
bênh vực giáo viên, “Mỗi thầy cô phải dạy hàng mấy chục học sinh, và
phải dạy chúng bao nhiêu là thứ. Cô ép mình phải lưu ý đến từng lời
nhỏ nhặt như thế làm gì!”
Jane thì tỏ ra trầm tư, “Có lẽ vậy, nhưng phải chi hồi trước cha
mẹ và thầy cô của chúng ta chịu khó để ý một chút về lời nói của họ ,
thì ngày nay chúng ta đã không bị thiếu quá nhiều kiến thức chưa
được học như vậy. Nói thẳng ra, chúng ta là sản phẩm của quá khứ
chúng ta. Bây giờ, chúng ta nói chuyện với học sinh của mình theo cái
cách hệt như ngày xưa cha mẹ và thầy cô đã nói với chúng ta. Tôi biết,
ngay cả với tụi nhóc ở nhà, tôi cũng phải mất rất nhiều thời gian để
thôi không lặp lại những câu rập khuôn hồi xưa nữa. Đó là một bước
tiến rất lớn đối với tôi, nhờ biết chuyển câu 'Đau gì chứ! Chỉ là một vết
xước tí tẹo thôi mà!' thành 'Ừ, trầy da là đau lắm đó!'”
Ken Watson, thầy giáo dạy môn khoa học, vặn lại, “Tôi không
đồng ý. Tôi thấy nói như vậy thì có gì khác đâu.”
Tôi còn đang vắt óc tìm một ví dụ để Ken Watson tự mình nghiệm
ra sự khác nhau giữa hai câu đó thì đã nghe Jane bảo, “Ken à, hãy
tưởng tượng thế này nhé, anh là một cậu thiếu niên vừa được gọi vào
đội bóng rổ, bóng đá, hay bóng gì gì đó của trường.”
Ken mỉm cười, “Bóng đá đi.”
“Ờ, bóng đá,” Jane gật đầu, “Vậy hãy tưởng tượng, anh đang hăm
hở đến buổi tập đầu tiên thì gặp ông huấn luyện viên độp ngay một
câu rằng, anh đã bị loại khỏi danh sách đội bóng.”
Ken rên lên.
“Một lát sau,” Jane nói tiếp, “anh gặp giáo viên chủ nhiệm ở hành
lang và kể cho cô ấy nghe hết mọi chuyện vừa xảy ra. Giờ, giả sử tôi là
cô giáo đó nhé, và tôi đã phản hồi theo rất nhiều cách, nhưng khổ nỗi,
không một cách nào thích hợp với tâm trạng buồn bã mà thằng bé
bên trong anh đang cảm nhận, hoặc nghĩ tới sau mỗi lời đáp của tôi.”
Ken cười toe, rút ra một cây viết và với lấy một tờ khăn giấy.
Sau đây là những giả thiết khác nhau về những lời mà Jane trong vai cô giáo chủ nhiệm - đã đáp lại “học sinh” Ken:
1. Chối bỏ cảm xúc
“Lúc này em có đau khổ, giận hờn cũng chẳng giải quyết
được gì. Trái đất có nổ tung vì em bị loại khỏi đội bóng đâu.
Thôi, quên việc đó đi!”
2. Triết lý
“Cuộc đời vốn không công bằng mà, nhưng em phải học
cách chịu đựng những cú đấm của nó thôi!”
3. Khuyên răn
“Em đừng mất tinh thần vì chuyện này. Hãy cố gắng rèn
luyện để được vào một đội khác.”
4. Chất vấn
“Em có nghĩ ra lý do vì sao mình bị loại không? Chắc tại các
bạn khác chơi giỏi hơn em chứ gì? Thế em bây giờ định làm
gì?”
5. Bênh vực phía bên kia
“Em hãy thử đặt mình vào vị trí của huấn luyện viên xem.
Thầy ấy muốn xây dựng một đội bóng chiến thắng. Chắc hẳn
thầy ấy đã rất khó khăn khi phải quyết định ai ở lại, ai ra khỏi
đội.”
6. Thương hại
“Ối, tội nghiệp em quá! Cô hiểu em thấy thế nào mà. Em đã
cố gắng rất nhiều để được chọn vào đội tuyển, nhưng em chưa
đủ giỏi. Tất cả các bạn khác đều biết thế.”
7. Nhà phân tích tâm lý nghiệp dư
“Em có nghĩ rằng lý do thật sự của việc bị gạt ra khỏi đội
bóng chính là vì thái độ 'thiếu lửa' của em không? Cô nghĩ,
trong tiềm thức, em vốn không muốn vào đội, vì vậy em mới cố
ý làm rùm beng chuyện này lên.”
Ken giơ hai tay lên trời, “Thôi, thôi! Đủ rồi. Tôi hiểu rồi.”
Tôi nói Ken cho tôi xem anh vừa mới viết ra những gì. Anh đẩy
cho tôi tấm khăn giấy. Tôi đọc to lên:
“Đừng dạy em phải cảm thấy như thế nào.”
“Đừng dạy em phải làm gì.”
“Cô chẳng bao giờ hiểu được đâu.”
“Cô có biết phải làm gì với những vấn đề của cô không? Cô đứng
về phía tất cả mọi người, ngoại trừ em.”
“Em là kẻ thua cuộc.”
“Đây là lần cuối cùng em thổ lộ bất cứ điều gì với cô.”
“Chết thật,” Maria thốt lên. “Tôi thường hay nói với thằng Marco
nhà tôi rất nhiều câu giống như Jane vừa nói với Ken. Nếu không
muốn chúng đốp chát lại như thế thì ta phải nói sao đây?”
“Thừa nhận tâm trạng thất vọng của chúng,” tôi trả lời rất nhanh.
“Bằng cách nào?” Maria hỏi.
Tôi ngắc ngứ không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn Jane cầu cứu.
Chị quay qua Ken và nhìn thẳng vào mắt anh, “Ken à, bị gạt khỏi đội
bóng khi đã tin chắc là mình có tên trong danh sách hẳn là một cú sốc
rất nặng, một nỗi thất vọng ghê gớm lắm, đúng không?”
Ken gật đầu, “Dạ, đúng ạ! Một cú sốc tệ hại. Thất vọng vô cùng.
Nhưng thành thật mà nói, em thực sự cảm thấy nhẹ nhõm khi có
người chịu hiểu điều đơn giản ấy.”
Sau đó chúng tôi còn thảo luận với nhau nhiều nữa. Maria thú
thật là từ khi chị lớn lên, chưa từng có ai chịu thừa nhận hay hiểu
những cảm xúc của chị cả. Ken hỏi, “Vậy tại sao chúng ta lại dám nghĩ
tới chuyện sẽ mang đến cho học trò những điều mà chính chúng ta
cũng chưa từng có?”
Rõ ràng chúng ta cần luyện tập nhiều hơn nếu muốn áp dụng
phương pháp phản hồi mới mẻ này với trẻ. Thế là tôi tự nguyện đi
tìm những ví dụ về việc thừa nhận cảm xúc của học sinh trong trường
học. Sau đây là các mẩu chuyện minh họa mà tôi đã soạn ra và chia sẻ
với các đồng nghiệp cùng ăn trưa với mình:
Ken nhìn vào những hình vẽ minh họa và lắc đầu. “Về lý thuyết,
tất cả những điều này nghe thì có vẻ hay lắm, nhưng tôi thấy, về phía
giáo viên vẫn còn khó khăn. Chúng ta lấy đâu ra thời gian để giúp học
sinh giải quyết cảm xúc của chúng đây?”
Mắt Jane lấp lánh như cười, “Phải tạo ra thời gian. Hãy tới
trường sớm hơn, và ra về trễ hơn. Hãy ăn trưa thật nhanh, và quên
luôn giờ nghỉ để đi vệ sinh cá nhân.”
“Chà, đúng đấy,” Ken bổ sung, “và ngoài những lúc soạn giáo án,
chấm bài, làm bản tin học tập, chuẩn bị hội thảo và lên lớp đều đều
mỗi ngày... chúng ta nên chú ý đến việc học sinh của mình cảm thấy
thế nào, hoặc vẽ ra cho chúng cái viễn cảnh mà chúng không thể có
trong thực tại.”
Trong khi nghe Ken nói, tôi nghĩ bụng, “Làm thế hình như là đòi
hỏi quá nhiều ở giáo viên.”
Dường như Jane đọc được suy nghĩ của tôi, chị liền bảo, “Nói một
cách nghiêm túc, tôi biết như thế là đòi hỏi giáo viên quá nhiều,
nhưng tôi cũng biết rằng đối với một đứa trẻ thì việc cảm thấy người
khác hiểu được mình là rất quan trọng. Có một thực tế rất đơn giản là
khi bọn trẻ bị ức chế về mặt cảm xúc chúng không thể nào tập trung
được. Như vậy, chắc chắn chúng sẽ không tiếp thu được bài mới. Nếu
muốn giúp chúng hết căng thẳng để bình tĩnh suy nghĩ, học hành, ta
cần phải xử lý những cảm xúc của chúng một cách đầy tôn trọng.”
“Nhưng không chỉ ở trường mới phải giải quyết cảm xúc thôi đâu,
mà còn ở nhà nữa.” Maria xen vào.
Tất cả chúng tôi quay qua nhìn chị. “Khi tôi chín tuổi,” chị giải
thích, “gia đình tôi chuyển nhà và tôi phải học trường khác. Cô giáo
mới rất nghiêm khắc. Lần nào làm kiểm tra môn số học, tôi cũng bị cô
phát lại bài làm với đầy những dấu gạch chéo màu đen to tướng ở
những câu trả lời sai. Rồi cô bắt tôi làm đi làm lại, đến chừng nào
đúng mới thôi. Tôi lo sợ mỗi khi đến tiết học của cô tới mức chẳng
suy nghĩ được gì nữa. Thỉnh thoảng, tôi cố chép lại bài của bạn khác.
Vào mỗi buổi tối trước ngày kiểm tra, tôi luôn bị đau bụng. Hễ tôi nói
với mẹ 'Mẹ ơi, con sợ,' thì bà lại bảo 'Chẳng việc gì phải sợ cả, cứ làm
hết sức mình là được.' Còn cha tôi thì khuyên, 'Nếu học bài kỹ thì con
sẽ chẳng phải sợ gì cả.' Nghe vậy, tôi càng cảm thấy hoảng hốt hơn.”
Ken nhìn Maria đăm đăm, “Giả sử cha hoặc mẹ chị bảo 'Trông con
có vẻ lo lắng về bài kiểm tra quá đấy, Maria,' thì sự việc sẽ khác đi
chăng?”
“Tất nhiên rồi!” Maria phấn khởi cao giọng. “Bởi vì khi đó có thể
tôi sẽ nói thật với cha mẹ về những dấu gạch chéo lên các câu trả lời
sai, cũng như nỗi xấu hổ vì cứ phải hết lần này tới lần khác bị nêu tên
khiển trách trước lớp.”
Ken vẫn chưa tin, “Nhưng ngay cả khi đã được cha mẹ giải tỏa
cảm xúc rồi thì có đủ để giúp chị bớt lo lắng và làm tốt môn toán
không?”
Maria trầm giọng, “Chắc là được, tôi nghĩ vậy,” chị nói chậm rãi,
“bởi vì nếu cha mẹ chịu lắng nghe những nỗi lo âu của tôi và để cho
tôi nói rõ về chúng, thì ngày hôm sau tôi sẽ yên tâm đi học hơn, sẽ
mong muốn đạt điểm tốt hơn.”
Vài ngày sau cuộc trò chuyện ấy, gặp lại Maria, tôi thấy chị mỉm
cười rạng rỡ và lôi từ trong ví ra một tờ giấy nhỏ gấp đôi, hào hứng
nói, “Tôi muốn kể cho mọi người nghe mấy câu mà các con tôi đã nói
trong tuần này. Sau khi tôi kể xong, mọi người hãy đoán xem tôi đã
không nói gì với chúng. Bắt đầu là câu nói của con gái tôi, cháu tên
Ana Ruth.” Maria mở tờ giấy ra và đọc, “Mẹ, cô dạy thể dục bắt một
mình con phải chạy nhiều vòng quanh sân, bởi vì con không thay đồ
nhanh bằng các bạn, thế là con bị bắt chạy cho cả lớp coi đó mẹ.”
Ken trả lời ngay lập tức, “Chị đã không nói ' Vậy chứ con muốn cô
giáo làm gì? Vỗ tay khen con chắc? Hay thưởng cho con huy chương người
chậm nhất?'”
Mọi người bật cười. Maria tiếp, “Giờ đến câu của con trai tôi,
cháu Marco, 'Mẹ, đừng bực mình nhé. Con làm mất găng tay rồi.'”
“Để tôi trả lời câu này,” Jane đáp. “Con nói gì hả? Đây là đôi găng
tay thứ hai con làm mất trong tháng này rồi đấy. Con nghĩ ba mẹ in ra tiền
à? Mai mốt, khi tháo găng tay ra, con nhớ nhét nó vào túi quần luôn nghe
chưa. Rồi trước khi xuống xe buýt, hãy kiểm tra chỗ ngồi và dưới sàn xe để
xem nó có rơi ra không.”
“Khoan. Nói câu đó thì có gì sai?” Ken hỏi. “Chị đang dạy thằng bé
về tinh thần trách nhiệm mà.”
“Nhưng thời điểm nói thì sai,” Jane nói.
“Tại sao?”
“Bởi vì khi người ta đang chìm thì không phải là lúc để bạn dạy họ
tập bơi.”
“Hừm. Tôi phải nghĩ kỹ về điều này mới được...” Ken nói, rồi chỉ
vào tôi, “Nào, giờ đến lượt cô, Liz à.” Maria nhìn vào tờ giấy và nói,
“Còn đây cũng là câu nói của Ana Ruth, 'Con chẳng biết là mình có
còn muốn ở trong dàn nhạc giao hưởng nữa hay không.'”
Tôi đốp liền, “ Mẹ đã tốn cả đống tiền cho con học đàn violin, mà giờ
con nói đến chuyện bỏ học hả! Ba con mà nghe được thì sẽ điên lên cho xem
.”
Maria nhìn chúng tôi kinh ngạc, “Sao mọi người biết rõ những gì
tôi đã suýt nói ra thế?”
“Quá dễ,” Jane bảo. “Đó là những gì cha mẹ chúng ta đã nói với
chúng ta, và cho đến giờ đấy vẫn là những gì tôi thường nói với con
cái mình.”
“Maria,” Ken nói, “đừng thử thách chúng tôi nữa. Chị đã nói gì
với các con thế?”
“Thế này nhé,” Maria tự hào trả lời,...
 





