BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Nói sao cho trẻ chịu học ở nhà và ở trường

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 20h:36' 26-09-2024
    Dung lượng: 5.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Nói sao cho trẻ con chịu học
    - Adele Faber & Elaine Mazlish HOW TO TALK SO KIDS CAN LEARN
    Copyright © 1995 by Adele Faber, Elaine Mazlish, Lisa Nyberg, and
    Rosalyn Anstine Templeton
    Xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Scribner, a
    Division of Simon & Schuster, Inc. và Công ty TNHH Sách Phương
    Nam
    Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty TNHH Sách Phương Nam, 2009
    Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của Công ty TNHH Sách
    Phương Nam



    Cha mẹ và thầy cô nói với trẻ như thế nào, trẻ sẽ cảm nhận về bản thân
    như thế ấy. Lời nói của họ ảnh hưởng đến lòng tự trọng và cách trẻ tự đánh
    giá bản thân. Hay nói rộng ra, cách nói của cha mẹ và thầy cô giữ vai trò
    quyết định đối với số phận trẻ.
    - HAIM GINOTT

    LỜI CẢM ƠN
    Quyển sách này đến được tay bạn đọc là nhờ ngay từ lúc mới chỉ
    là ý tưởng, nó đã được rất nhiều người mong đợi.
    Gia đình, bạn bè không ngừng động viên và khuyến khích chúng
    tôi. Những bậc phụ huynh, thầy cô, những nhà giáo dục sức khỏe tâm
    thần khắp nơi trên nước Mỹ và Canada đã đóng góp cả tiếng nói lẫn
    tài liệu về việc ứng dụng các kỹ năng giao tiếp vào cách hành xử ở
    nhà, cũng như ở nơi làm việc.
    Joanna Faber, giáo viên của một trường ở nội thành, đã cung cấp
    cho chúng tôi nhiều ví dụ sinh động mà cô tích lũy được trong suốt
    mười năm dạy học.
    Trường đại học Bradley, trường tiểu học Brattain đã nhiệt tình
    ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi làm việc.
    Họa sĩ Kimberly Ann Coe đã dành nhiều tâm huyết để tạo ra
    những hình vẽ minh họa hết sức sinh động.
    Bob Markel, đại diện bản quyền, đã luôn sát cánh bên chúng tôi
    với những lời khuyên chí tình đúng lúc .
    Eleanor Rawson, nhà sản xuất, đã tận tình hướng dẫn chúng tôi
    từng đường đi nước bước.
    Cuối cùng, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn tới tiến sĩ Thomas
    Gordon bởi những công trình nghiên cứu uyên thâm của ông về phạm
    trù những mối quan hệ giữa trẻ với người lớn; và cảm ơn cố tiến sĩ

    Haim Ginott đã giúp chúng tôi hiểu ra tại sao và thế nào là “Tiên học
    lễ, hậu học văn”.
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    QUYỂN SÁCH NÀY RA ĐỜI NHƯ
    THẾ NÀO
    Quyển sách này được ươm mầm từ khi chúng tôi còn là những bà
    mẹ trẻ đi tham dự những buổi sinh hoạt dành cho phụ huynh do nhà
    tâm lý học trẻ em - tiến sĩ Haim Ginott phụ trách. Sau mỗi buổi sinh
    hoạt, trên đường lái xe về nhà, chúng tôi thường cùng suy ngẫm về
    sức mạnh của những kỹ năng giao tiếp mới vừa học được, rồi ngậm
    ngùi vỡ lẽ ra: kể từ ngày đầu theo đuổi nghiệp dạy dỗ tới giờ, mình
    chưa hề biết gì về những kỹ năng ấy, trong khi một người là giáo viên
    phổ thông ở New York City, còn người kia dạy học tại cộng đồng dân
    cư ở Manhattan.
    Khi đó, chúng tôi không hề hình dung trước được những kinh
    nghiệm ban đầu ấy rồi sẽ phát triển thành những gì. Hai thập niên
    sau, những quyển sách mà chúng tôi viết cho các bậc phụ huynh đã
    vượt qua mốc hai triệu bản và được dịch ra trên mười thứ tiếng.
    Những bài diễn thuyết của chúng tôi tại tất cả các bang của Mỹ, và
    hầu hết các tỉnh thành của Canada đều thu hút được đông đảo khán
    thính giả và được họ nhiệt liệt hưởng ứng. Trên năm mươi ngàn
    nhóm hoạt động xã hội tại những vùng đất xa xôi, ở tận Nicaragua,
    Kenya, Malaysia và New Zealand đã sử dụng những băng nghe nhìn là
    nội dung những hội thảo của chúng tôi trong các hoạt động của họ.
    Và trong suốt quãng thời gian hai mươi năm qua, chúng tôi luôn
    nhận được những phản hồi từ các giáo viên về những thay đổi đạt
    được trong lớp học, sau khi họ tham dự những khóa học, nghe diễn
    thuyết, hay đọc sách của chúng tôi. Và điều tất yếu xảy đến là, các giáo

    viên luôn thúc giục chúng tôi viết một quyển sách tương tự cho ngành
    của họ.
    Một giáo viên ở Troy, Michigan, đã viết:
    Sau hơn hai mươi năm kinh nghiệm giáo dục trẻ hư và trẻ có nguy cơ hư
    hỏng, tôi thực sự kinh ngạc về những kỹ năng mà mình đã rút ra được từ
    những quyển sách mà quý vị viết cho các bậc cha mẹ... Hiện tại, trong quận
    mà tôi làm chuyên gia cố vấn sư phạm [1] đang thiết kế một nội quy kỷ luật
    mới cho các trường học. Tôi tin chắc rằng các cách xử lý tình huống trong
    quyển sách của quý vị sẽ là cốt lõi, là nền tảng cho nội quy mới này. Không
    biết quý vị có nghĩ đến việc viết sách dành riêng cho các giáo viên không?
    Một người làm công tác xã hội học đường ở Florissant, Missouri,
    viết:
    Mới đây tôi đã giới thiệu chương trình hội thảo How To Talk
    So Kids Will Listen [2] của các vị cho phụ huynh trong địa hạt do tôi
    phụ trách. Có một bà mẹ, đồng thời cũng là một giáo viên, bắt đầu
    áp dụng những kỹ năng mới vào lớp học của mình và nhận thấy
    những hành vi không tốt của học sinh đã giảm hẳn. Những thay đổi
    trong lớp học của giáo viên ấy lập tức gây ấn tượng với bà hiệu
    trưởng, bởi vì lâu nay bà rất lo ngại về sự gia tăng hình phạt đòn roi,
    cũng như tình trạng bị đuổi học ở trường mình. Và bà đã mời tôi tổ
    chức hội thảo cho toàn thể các giáo viên trong trường của bà.
    Kết quả thật đáng khích lệ. “Nhu cầu” về hình phạt đòn roi đã
    giảm hẳn. Rồi việc học sinh nghỉ học cũng bớt đi, trong khi lòng tự
    trọng của các em được tăng lên, hầu như lan khắp toàn trường.
    Một người sống ở New York City viết:

    Tôi vô cùng lo sợ về việc càng ngày càng có nhiều trẻ em mang
    dao và súng tới trường. Tôi không tin việc tăng cường nhân viên an
    ninh và máy dò tìm kim loại sẽ có hiệu quả, tuy nhiên, cách giao tiếp
    tốt hơn có lẽ sẽ cải thiện được tình hình này. Có lẽ, nếu các giáo viên
    biết được những kỹ năng mà quý vị đã viết, ắt hẳn họ họ sẽ được
    trang bị tốt hơn để giúp những đứa trẻ nóng nảy biết cách xử lý cơn
    giận của chúng theo những cách không cần dùng đến bạo lực. Quý vị
    có nghĩ đến việc viết sách dành cho các giáo viên, cha mẹ, hiệu
    trưởng, trợ giảng, tài xế xe buýt trường học và thư ký ở trường
    không?
    Tuy hiểu được những lời đề nghị đó là cần thiết, nhưng chúng tôi
    phải thừa nhận rằng mình không đảm nhận trách nhiệm viết sách cho
    giáo viên. Vả lại, hiện giờ, chúng tôi không còn “chiến đấu” chung với
    họ trên “mặt trận giáo dục” nữa.
    Thế rồi có một cú điện thoại định mệnh do hai cô giáo Rosalyn
    Templeton và Lisa Nyberg gọi tới. Lisa đang dạy lớp ba và lớp bốn tại
    trường tiểu học Brattain ở Spring, bang Oregon. Rosalyn đang tham
    gia đào tạo những giáo viên tương lai ở đại học Bradley, Peoria, bang
    Illinois. Cả hai người đều bày tỏ mối lo lắng trước những biện pháp
    trừng phạt và cưỡng chế được áp dụng thường xuyên trong các
    trường học để uốn nắn hành vi của trẻ. Họ bảo rằng đã từ lâu lắm rồi,
    họ vẫn tìm kiếm những tài liệu đề xuất cho giáo viên những phương
    pháp mới, nhằm giúp học sinh tự giác kỷ luật hơn và biết tự giải
    quyết vấn đề của chúng hơn.
    Khi tình cờ đọc được quyển How To Talk So Kids Will Listen and
    Listen So Kids Will Talk [3] , họ biết rằng họ đã thấy được những gì vẫn
    tìm kiếm lâu nay, và họ xin phép được dựa trên quyển sách của chúng
    tôi để viết một bản khác gần giống như vậy, dành cho giáo viên.

    Càng nói chuyện chúng tôi càng nhận thấy rằng kinh nghiệm mà
    họ tích lũy được thật rộng và phổ quát. Cả hai đều từng dạy học ở
    thành thị, ngoại ô, nông thôn; đều có học vị tiến sĩ về giáo dục; và đều
    từng được mời chủ trì những hội thảo giáo viên. Bỗng nhiên, đề án
    mà chúng tôi còn lưỡng lự một thời gian dài bỗng trở nên khả thi.
    Ngoài những kinh nghiệm trực tiếp đứng lớp và các tài liệu thu thập
    được từ những giáo viên khác trong suốt hơn hai mươi năm qua, nay
    còn có thêm sự đóng góp quý báu của hai người làm công tác giáo dục
    này, chúng tôi biết rằng không gì có thể khiến chúng tôi chùn bước
    được nữa.
    Mùa hè năm đó, Rosalyn và Lisa tới gặp chúng tôi. Ngay từ đầu,
    tất cả đã rất ăn ý với nhau. Sau khi bàn bạc, chúng tôi nhất trí rằng
    thay vì đưa ra những lời thuyết giáo khô khan, quyển sách này sẽ
    đóng vai trò như một người kể chuyện - đứng trên quan điểm của
    một cô giáo trẻ đang nhiệt tình tìm kiếm những cách tốt nhất để dạy
    dỗ học sinh của mình. Kinh nghiệm của cô ấy sẽ là sự tổng hợp, đúc
    kết kinh nghiệm của tất cả chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm cho lời kể ấy
    đáng tin cậy hơn bằng những yếu tố mà chúng tôi đã dùng trong các
    tác phẩm trước. Đó là những mẩu truyện tranh nhỏ, những phần ghi
    nhớ, hỏi đáp, cùng những câu chuyện minh họa.
    Nhưng càng trao đổi với nhau, chúng tôi càng nghiệm ra, nếu
    muốn nêu toàn bộ những việc nên làm nhằm giáo dục một đứa trẻ,
    chúng tôi cần phải nhìn xa hơn phạm vi lớp học, phải chú ý nhiều tới
    những “người thầy” đầu tiên và mãi mãi trong cuộc đời đứa trẻ ấy - chính
    là cha mẹ nó. Bất kể điều gì xảy ra ở trường từ chín giờ sáng cho tới ba giờ
    chiều cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những gì đã diễn ra trước và sau
    quãng thời gian ấy, tức là lúc trẻ ở cùng với cha mẹ chúng. Dù cả cha mẹ
    lẫn giáo viên có tích cực đến đâu đi chăng nữa mà không có những
    công cụ giúp họ thực hiện những dự định tốt đẹp của mình, thì đứa

    trẻ vẫn có thể hư như thường.
    Các bậc cha mẹ và giáo viên cần phải biết kết hợp quyền lực với việc
    làm gương. Họ cần ghi nhớ sự trái ngược hoàn toàn giữa lời nói làm tiêu
    tan hi vọng với lời động viên, khuyến khích; giữa lời nói mời gọi sự hợp tác
    hay kích động sự chống đối của trẻ; giữa lời nói làm cho trẻ không thể suy
    nghĩ hay tập trung với lời nói khơi gợi và giải phóng khao khát học hỏi tự
    nhiên của trẻ.
    Bất giác, chúng tôi cảm thấy trách nhiệm của mình đối với thế hệ
    trẻ ngày nay thật nặng nề. Trước kia, chưa khi nào giới trẻ lại có thể
    xem nhiều hình ảnh tội ác dã man trên phim, trên các phương tiện
    truyền thông đại chúng như bây giờ. Trước kia, bọn trẻ chẳng bao giờ
    phải chứng kiến nhiều hình ảnh tuyên truyền trần trụi về những kiểu
    giải quyết vấn đề bằng cách đánh nhau, ném bom hoặc xả đạn. Chưa
    khi nào nhu cầu cung cấp cho con em chúng ta một khuôn mẫu sống
    động về việc giao tiếp trung thực và tôn trọng lẫn nhau lại cấp thiết
    như lúc này. Đó là cách bảo vệ tốt nhất mà ta có thể trang bị cho trẻ,
    nhằm chống lại những cơn bột phát muốn bạo hành của chúng. Gặp
    những trường hợp muốn nổi điên, thay vì đi tìm gậy gộc dao búa, trẻ
    có thể vận dụng những lời lẽ mà những người quan trọng trong cuộc
    đời chúng đã từng nói với chúng trước đây.
    Với tất cả những lí do đó, đề án về quyển sách này đã được đặt lên
    “bệ phóng”. Ba năm trời với biết bao bản thảo nháp, cuối cùng chúng
    tôi đã có được bản thảo cuối cùng trong tay. Khỏi cần nói cũng biết tất
    cả chúng tôi đã hài lòng và vui mừng đến mức nào. Chúng tôi đặt một
    cái tựa rất rõ ràng: Nói Sao Cho Trẻ Chịu Học Ở Nhà và Ở Trường .
    Chúng tôi đã nêu ra những ví dụ cụ thể về thái độ và ngôn ngữ của
    quy trình học này. Chúng tôi cũng trình bày cách tạo ra một môi
    trường cảm xúc, khiến cho trẻ cảm thấy an toàn để mở lòng ra trước

    những cái mới lạ. Chúng tôi nêu bật lên cách làm sao cho trẻ dám
    chịu trách nhiệm và rèn luyện tính tự giác. Đồng thời, chúng tôi cũng
    chia sẻ nhiều phương pháp nhằm động viên, khích lệ trẻ tin rằng
    chúng là ai và chúng sẽ trở thành người như thế nào.
    Mong mỏi lớn nhất của chúng tôi là những ý kiến trong quyển
    sách này sẽ giúp bạn khơi nguồn sáng tạo, trao quyền cho những đứa
    trẻ yêu quý nhất đời bạn.

    [1] . Nguyên gốc là “teacher consultant”: chuyên gia giáo dục chịu trách nhiệm cố

    vấn xây dựng nội quy, chương trình giảng dạy, cơ cấu tổ chức cho trường phổ thông ND.
    [2] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe.
    [3] . Nói Sao Cho Trẻ Chịu Nghe và Lắng Nghe Sao Cho Trẻ Chịu Nói.

    “TÔI” LÀ AI?
    Khi bắt đầu viết quyển sách này, chúng tôi đã nhất trí sẽ tạo ra
    một nhân vật tên là Liz Lander làm người phát ngôn chung cho tất cả.
    Cô ấy là một giáo viên trẻ - cũng giống như chúng tôi ngày trước - và
    những nỗ lực, trăn trở của cô ấy với học sinh chính là tấm gương
    phản ánh một cách chân thực những cố gắng mà chúng tôi từng thể
    hiện. Cô ấy chính là nhân vật “Tôi” do chúng tôi tạo ra.

    1. XỬ LÝ NHỮNG CẢM XÚC
    GÂY CẢN TRỞ VIỆC HỌC
    Chính những hồi tưởng về các giáo viên của mình - cả những hồi
    tưởng tôi yêu thích lẫn những hồi tưởng mà tôi ghét - đã khiến tôi
    quyết định trở thành một giáo viên.
    Trong suốt những năm tháng học sư phạm tại trường đại học, tôi
    luôn tin tưởng rằng mình có khả năng dạy trẻ theo cái cách làm cho
    chúng muốn học. Tôi đã thủ sẵn trong đầu cả một danh sách dài dằng
    dặc về những điều đáng xấu hổ mà mình không bao giờ được phép
    nói ra hoặc thể hiện với học sinh; tôi cũng đã hình dung rõ ràng về
    mức độ kiên nhẫn mà mình sẽ phải đeo đuổi.
    Ngày đầu tiên - với tư cách là giáo viên “thật sự” - tôi đã rất
    choáng váng. Tôi đã soạn bài và chuẩn bị kỹ lưỡng cho giờ lên lớp,
    nhưng hoàn toàn không có “phòng bị” gì trước ba mươi hai em học
    sinh lớp Sáu này. Ba mươi hai đứa trẻ to mồm, hiếu động và lúc nào
    cũng đầy rẫy những đòi hỏi muốn thứ này, cần thứ nọ. Qua được nửa
    buổi sáng thì tiếng chí chóe đầu tiên xuất hiện, “Ai lấy bút chì của
    tao?” “Mày xê ra đi!” “Im đi! Tao đang nghe cô giảng.”
    Tôi cứ vờ như chẳng nghe thấy gì và tiếp tục bài giảng, nhưng
    những kẻ phá bĩnh vẫn không chịu thôi, “Tại sao em lại phải ngồi gần
    nó?” “Em không hiểu cô bảo bọn em phải làm gì cả?” “Cô ơi, nó thụi
    em!” “Tại nó kiếm chuyện trước chứ bộ!”
    Đầu tôi bắt đầu kêu bưng bưng. Lớp học càng lúc càng ồn ào.

    Những câu thần chú về “lòng kiên nhẫn và hiểu biết” đã hết linh
    nghiệm ngay trên môi tôi. Lớp học này cần phải có một giáo viên biết
    trấn áp mới được. Bất thình lình tôi quát lên:
    “Thôi đi! Có ai lấy bút chì của em đâu!”
    “Cô nói rồi, em phải ngồi gần bạn ấy!”
    “Cô không quan tâm ai gây sự trước. Cô muốn việc này phải chấm
    dứt ngay. Ngay lập tức!”
    “Em bảo em không hiểu là ý làm sao? Cô vừa mới giải thích xong
    còn gì!”
    “Tôi không thể tin nổi cái lớp này. Các em nói năng hành động y
    như học sinh lớp Một vậy. Làm ơn ngồi im đi!”
    Có một thằng bé chẳng coi lời tôi ra gì. Nó tỉnh bơ rời khỏi chỗ
    ngồi, bước tới lấy cái chuốt chì rồi đứng đó mà vặn chuốt mãi cho đến
    khi cây bút chỉ còn một mẩu. Bằng giọng điệu nghiêm khắc nhất của
    mình, tôi ra lệnh, “Đủ rồi! Về chỗ ngay!”
    “Cô không bắt em làm gì được đâu,” nó cãi.
    “Được, chúng ta sẽ nói rõ chuyện này sau giờ tan học.”
    “Em không ở lại được. Em sẽ trễ xe buýt.”
    “Thế thì cô đành phải mời phụ huynh của em đến để thông báo
    chuyện này.”
    “Cô không gọi cho ba mẹ em được đâu. Nhà em làm gì có điện
    thoại!”

    Đến ba giờ chiều thì tôi mệt lử. Bọn trẻ chen nhau ùa ra khỏi lớp
    và tràn xuống đường. Chúng la hét, chạy nhảy như vừa được tiếp
    thêm năng lượng. Nhưng lúc này chúng đã thuộc về trách nhiệm của
    cha mẹ chúng. Tôi đã hết giờ làm việc của mình rồi.
    Tôi ngồi phịch xuống ghế, ngó trân trân vào những dãy bàn học
    trống trơn. Có chuyện gì thế? Sao bọn trẻ không nghe lời tôi? Tôi phải
    làm gì để chế ngự chúng đây?
    Trong suốt mấy tháng đầu đi dạy của tôi, tất cả các buổi học đều
    diễn ra y như vậy. Mỗi sáng, tôi vào lớp với bao hy vọng tràn trề, rồi
    buổi chiều lại ra về với tâm trạng chán chường vô tận. Tôi đã hoàn
    toàn “bó tay” trước công việc nặng nề và chán ngắt là phải kéo lê lớp
    học cho qua chương trình bắt buộc này. Nhưng tệ hơn hết, tôi đang
    dần biến thành loại “bà cô” mà tôi không bao giờ muốn: giận dữ, hách
    dịch, mất uy tín. Còn đám học sinh của tôi thì càng ngày càng bướng
    bỉnh, ngang ngạnh. Càng về cuối học kỳ, tôi càng hay tự hỏi rằng
    mình còn cầm cự được bao lâu nữa.
    May mà Jane Davis, cô giáo dạy lớp bên cạnh, đã đến giải cứu cho
    tôi. Sau cái ngày dốc bầu tâm sự với Jane, chị đưa cho tôi quyển sách
    How To Talk So Kids Will Listen and Listen So Kids Will Talk. Chị bảo,
    “Không biết quyển sách này có giúp gì được cho em không, nhưng
    những kỹ năng nêu trong này đã cứu chị khỏi phát điên, phát khùng
    với chính tụi nhóc ở nhà. Nó cũng giúp chị tạo nên sự thay đổi khác
    biệt cho lớp học của mình đấy!”
    Tôi cảm ơn Jane, cất quyển sách vào cặp rồi quên khuấy nó luôn.
    Một tuần sau, trong khi đang nằm trên giường dưỡng bệnh vì cảm
    lạnh, tôi vớ đại quyển sách ấy và mở ra đọc. Những dòng chữ in
    nghiêng ở trang đầu tiên làm cho tôi phải nhổm người dậy:

    Có mối liên hệ trực tiếp giữa cảm xúc và hành vi của trẻ.
    Khi trẻ cảm thấy dễ chịu, chúng sẽ cư xử đúng mực.
    Chúng ta phải làm sao để giúp trẻ cảm thấy dễ chịu?
    - Hãy chấp nhận cảm xúc của chúng!
    Tôi nằm xuống gối, nhắm nghiền mắt lại. Mình đã thừa nhận cảm
    xúc của học sinh hay chưa? Tôi nhớ lại đôi ba lời đối đáp đã xảy ra
    giữa mình với học sinh trong tuần đó:
    Học sinh: Thưa cô, em không viết được!
    Tôi: Sao không được?
    Học sinh: Thiệt mà! Em chẳng nghĩ ra cái gì để viết cả.
    Tôi: Em phải cố mà nghĩ! Đừng có rên rỉ nữa! Viết đi!
    Học sinh: Em ghét môn lịch sử! Ai thèm quan tâm đến những
    chuyện đã xảy ra cách đây cả trăm năm chứ!
    Tôi: Em phải quan tâm! Ai cũng cần phải biết rõ về lịch sử nước
    mình.
    Học sinh: Nhưng nó chán ngắt!
    Tôi: Chán gì mà chán! Nếu chú ý thì em sẽ thấy nó rất hay.
    Thật nực cười! Tôi vốn là người vẫn thường thuyết giáo cho học
    sinh về việc mỗi cá nhân đều có quyền có quan điểm và cảm xúc riêng.
    Thế nhưng, trong thực tế, hễ khi nào bọn trẻ bộc lộ cảm xúc là tôi lại
    dập tắt đi ngay. Tôi bắt bẻ, tranh luận với chúng. Như vậy, thông điệp

    ngầm mà tôi chuyển đến chúng là, “Em cảm thấy như thế là sai rồi.
    Hãy nghe theo lời cô đi.”
    Tôi ngồi dậy và cố nhớ xem các thầy cô của mình ngày xưa có làm
    như thế với mình không. Có một lần ở trường trung học, khi tôi đang
    buồn vì lần đầu tiên bị điểm thấp môn toán, mà giáo viên dạy toán lại
    cứ cố nhồi vào đầu tôi một lời động viên, “Chẳng việc gì phải buồn
    bực cả, Liz. Không phải vì em thiếu khả năng về môn hình học, chỉ vì
    em chưa tập trung chú ý thôi. Em cần phải quyết tâm hơn nữa. Vấn
    đề nằm ở chỗ ý chí của em dở quá!”
    Đương nhiên là thầy nói đúng, và tôi hiểu rất rõ ý thầy, nhưng
    những lời ấy lại khiến tôi cảm thấy mình ngu ngốc và kém cỏi quá
    chừng. Tới chỗ “em dở quá”, tôi không thèm lắng nghe nữa mà cứ
    nhìn bộ ria mép của thầy động đậy lên xuống, và ráng chờ cho thầy
    nói xong để chuồn cho lẹ. Phải chăng học sinh của tôi giờ đây cũng
    cảm thấy như thế về tôi?
    Trong những tuần sau đó, tôi cố gắng phản ứng một cách nhạy
    cảm hơn với những cảm xúc của học trò mình, và cố đáp lại chúng
    một cách thỏa đáng:
    “Muốn chọn một đề tài để viết thật chẳng dễ, đúng không em?”
    “Cô hiểu em nghĩ gì về môn lịch sử. Em đang phân vân tại sao người ta
    lại quan tâm đến những việc đã xảy ra cách đây hàng trăm năm chứ gì.”
    Cách này chính là lối thoát. Tôi có thể nhận thấy ngay rằng bọn
    trẻ đã có biến đổi. Chúng gật đầu, nhìn thẳng vào mắt tôi, và nói cho
    tôi nghe thêm về những gì chúng đang nghĩ. Nhưng bỗng một ngày
    kia, Alex tuyên bố, “Em không muốn tới phòng thể dục nữa, không ai
    ép được em đâu!” Học trò gì mà ăn nói láo lếu như thế, làm sao mà

    chịu nổi cơ chứ! Không chần chừ một phút, bằng cái giọng khô khốc,
    tôi đáp, “Em phải đến phòng tập ngay, không thì em phải lên văn
    phòng!”
    Tại sao việc thừa nhận những cảm xúc của trẻ lại khó đến thế?
    Vào bữa trưa, tôi đem câu hỏi đó ra hỏi Jane và các giáo viên ngồi
    cùng bàn ăn; tôi cũng kể với họ mình đã đọc được gì và đang nghĩ gì.
    Chị Maria Estes, một phụ huynh tình nguyện [1] , lập tức lên tiếng
    bênh vực giáo viên, “Mỗi thầy cô phải dạy hàng mấy chục học sinh, và
    phải dạy chúng bao nhiêu là thứ. Cô ép mình phải lưu ý đến từng lời
    nhỏ nhặt như thế làm gì!”
    Jane thì tỏ ra trầm tư, “Có lẽ vậy, nhưng phải chi hồi trước cha
    mẹ và thầy cô của chúng ta chịu khó để ý một chút về lời nói của họ ,
    thì ngày nay chúng ta đã không bị thiếu quá nhiều kiến thức chưa
    được học như vậy. Nói thẳng ra, chúng ta là sản phẩm của quá khứ
    chúng ta. Bây giờ, chúng ta nói chuyện với học sinh của mình theo cái
    cách hệt như ngày xưa cha mẹ và thầy cô đã nói với chúng ta. Tôi biết,
    ngay cả với tụi nhóc ở nhà, tôi cũng phải mất rất nhiều thời gian để
    thôi không lặp lại những câu rập khuôn hồi xưa nữa. Đó là một bước
    tiến rất lớn đối với tôi, nhờ biết chuyển câu 'Đau gì chứ! Chỉ là một vết
    xước tí tẹo thôi mà!' thành 'Ừ, trầy da là đau lắm đó!'”
    Ken Watson, thầy giáo dạy môn khoa học, vặn lại, “Tôi không
    đồng ý. Tôi thấy nói như vậy thì có gì khác đâu.”
    Tôi còn đang vắt óc tìm một ví dụ để Ken Watson tự mình nghiệm
    ra sự khác nhau giữa hai câu đó thì đã nghe Jane bảo, “Ken à, hãy
    tưởng tượng thế này nhé, anh là một cậu thiếu niên vừa được gọi vào
    đội bóng rổ, bóng đá, hay bóng gì gì đó của trường.”

    Ken mỉm cười, “Bóng đá đi.”
    “Ờ, bóng đá,” Jane gật đầu, “Vậy hãy tưởng tượng, anh đang hăm
    hở đến buổi tập đầu tiên thì gặp ông huấn luyện viên độp ngay một
    câu rằng, anh đã bị loại khỏi danh sách đội bóng.”
    Ken rên lên.
    “Một lát sau,” Jane nói tiếp, “anh gặp giáo viên chủ nhiệm ở hành
    lang và kể cho cô ấy nghe hết mọi chuyện vừa xảy ra. Giờ, giả sử tôi là
    cô giáo đó nhé, và tôi đã phản hồi theo rất nhiều cách, nhưng khổ nỗi,
    không một cách nào thích hợp với tâm trạng buồn bã mà thằng bé
    bên trong anh đang cảm nhận, hoặc nghĩ tới sau mỗi lời đáp của tôi.”
    Ken cười toe, rút ra một cây viết và với lấy một tờ khăn giấy.
    Sau đây là những giả thiết khác nhau về những lời mà Jane trong vai cô giáo chủ nhiệm - đã đáp lại “học sinh” Ken:
    1. Chối bỏ cảm xúc
    “Lúc này em có đau khổ, giận hờn cũng chẳng giải quyết
    được gì. Trái đất có nổ tung vì em bị loại khỏi đội bóng đâu.
    Thôi, quên việc đó đi!”
    2. Triết lý
    “Cuộc đời vốn không công bằng mà, nhưng em phải học
    cách chịu đựng những cú đấm của nó thôi!”
    3. Khuyên răn
    “Em đừng mất tinh thần vì chuyện này. Hãy cố gắng rèn

    luyện để được vào một đội khác.”
    4. Chất vấn
    “Em có nghĩ ra lý do vì sao mình bị loại không? Chắc tại các
    bạn khác chơi giỏi hơn em chứ gì? Thế em bây giờ định làm
    gì?”
    5. Bênh vực phía bên kia
    “Em hãy thử đặt mình vào vị trí của huấn luyện viên xem.
    Thầy ấy muốn xây dựng một đội bóng chiến thắng. Chắc hẳn
    thầy ấy đã rất khó khăn khi phải quyết định ai ở lại, ai ra khỏi
    đội.”
    6. Thương hại
    “Ối, tội nghiệp em quá! Cô hiểu em thấy thế nào mà. Em đã
    cố gắng rất nhiều để được chọn vào đội tuyển, nhưng em chưa
    đủ giỏi. Tất cả các bạn khác đều biết thế.”
    7. Nhà phân tích tâm lý nghiệp dư
    “Em có nghĩ rằng lý do thật sự của việc bị gạt ra khỏi đội
    bóng chính là vì thái độ 'thiếu lửa' của em không? Cô nghĩ,
    trong tiềm thức, em vốn không muốn vào đội, vì vậy em mới cố
    ý làm rùm beng chuyện này lên.”
    Ken giơ hai tay lên trời, “Thôi, thôi! Đủ rồi. Tôi hiểu rồi.”
    Tôi nói Ken cho tôi xem anh vừa mới viết ra những gì. Anh đẩy
    cho tôi tấm khăn giấy. Tôi đọc to lên:

    “Đừng dạy em phải cảm thấy như thế nào.”
    “Đừng dạy em phải làm gì.”
    “Cô chẳng bao giờ hiểu được đâu.”
    “Cô có biết phải làm gì với những vấn đề của cô không? Cô đứng
    về phía tất cả mọi người, ngoại trừ em.”
    “Em là kẻ thua cuộc.”
    “Đây là lần cuối cùng em thổ lộ bất cứ điều gì với cô.”
    “Chết thật,” Maria thốt lên. “Tôi thường hay nói với thằng Marco
    nhà tôi rất nhiều câu giống như Jane vừa nói với Ken. Nếu không
    muốn chúng đốp chát lại như thế thì ta phải nói sao đây?”
    “Thừa nhận tâm trạng thất vọng của chúng,” tôi trả lời rất nhanh.
    “Bằng cách nào?” Maria hỏi.
    Tôi ngắc ngứ không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn Jane cầu cứu.
    Chị quay qua Ken và nhìn thẳng vào mắt anh, “Ken à, bị gạt khỏi đội
    bóng khi đã tin chắc là mình có tên trong danh sách hẳn là một cú sốc
    rất nặng, một nỗi thất vọng ghê gớm lắm, đúng không?”
    Ken gật đầu, “Dạ, đúng ạ! Một cú sốc tệ hại. Thất vọng vô cùng.
    Nhưng thành thật mà nói, em thực sự cảm thấy nhẹ nhõm khi có
    người chịu hiểu điều đơn giản ấy.”
    Sau đó chúng tôi còn thảo luận với nhau nhiều nữa. Maria thú
    thật là từ khi chị lớn lên, chưa từng có ai chịu thừa nhận hay hiểu
    những cảm xúc của chị cả. Ken hỏi, “Vậy tại sao chúng ta lại dám nghĩ

    tới chuyện sẽ mang đến cho học trò những điều mà chính chúng ta
    cũng chưa từng có?”
    Rõ ràng chúng ta cần luyện tập nhiều hơn nếu muốn áp dụng
    phương pháp phản hồi mới mẻ này với trẻ. Thế là tôi tự nguyện đi
    tìm những ví dụ về việc thừa nhận cảm xúc của học sinh trong trường
    học. Sau đây là các mẩu chuyện minh họa mà tôi đã soạn ra và chia sẻ
    với các đồng nghiệp cùng ăn trưa với mình:
















    Ken nhìn vào những hình vẽ minh họa và lắc đầu. “Về lý thuyết,
    tất cả những điều này nghe thì có vẻ hay lắm, nhưng tôi thấy, về phía
    giáo viên vẫn còn khó khăn. Chúng ta lấy đâu ra thời gian để giúp học
    sinh giải quyết cảm xúc của chúng đây?”
    Mắt Jane lấp lánh như cười, “Phải tạo ra thời gian. Hãy tới

    trường sớm hơn, và ra về trễ hơn. Hãy ăn trưa thật nhanh, và quên
    luôn giờ nghỉ để đi vệ sinh cá nhân.”
    “Chà, đúng đấy,” Ken bổ sung, “và ngoài những lúc soạn giáo án,
    chấm bài, làm bản tin học tập, chuẩn bị hội thảo và lên lớp đều đều
    mỗi ngày... chúng ta nên chú ý đến việc học sinh của mình cảm thấy
    thế nào, hoặc vẽ ra cho chúng cái viễn cảnh mà chúng không thể có
    trong thực tại.”
    Trong khi nghe Ken nói, tôi nghĩ bụng, “Làm thế hình như là đòi
    hỏi quá nhiều ở giáo viên.”
    Dường như Jane đọc được suy nghĩ của tôi, chị liền bảo, “Nói một
    cách nghiêm túc, tôi biết như thế là đòi hỏi giáo viên quá nhiều,
    nhưng tôi cũng biết rằng đối với một đứa trẻ thì việc cảm thấy người
    khác hiểu được mình là rất quan trọng. Có một thực tế rất đơn giản là
    khi bọn trẻ bị ức chế về mặt cảm xúc chúng không thể nào tập trung
    được. Như vậy, chắc chắn chúng sẽ không tiếp thu được bài mới. Nếu
    muốn giúp chúng hết căng thẳng để bình tĩnh suy nghĩ, học hành, ta
    cần phải xử lý những cảm xúc của chúng một cách đầy tôn trọng.”
    “Nhưng không chỉ ở trường mới phải giải quyết cảm xúc thôi đâu,
    mà còn ở nhà nữa.” Maria xen vào.
    Tất cả chúng tôi quay qua nhìn chị. “Khi tôi chín tuổi,” chị giải
    thích, “gia đình tôi chuyển nhà và tôi phải học trường khác. Cô giáo
    mới rất nghiêm khắc. Lần nào làm kiểm tra môn số học, tôi cũng bị cô
    phát lại bài làm với đầy những dấu gạch chéo màu đen to tướng ở
    những câu trả lời sai. Rồi cô bắt tôi làm đi làm lại, đến chừng nào
    đúng mới thôi. Tôi lo sợ mỗi khi đến tiết học của cô tới mức chẳng
    suy nghĩ được gì nữa. Thỉnh thoảng, tôi cố chép lại bài của bạn khác.
    Vào mỗi buổi tối trước ngày kiểm tra, tôi luôn bị đau bụng. Hễ tôi nói

    với mẹ 'Mẹ ơi, con sợ,' thì bà lại bảo 'Chẳng việc gì phải sợ cả, cứ làm
    hết sức mình là được.' Còn cha tôi thì khuyên, 'Nếu học bài kỹ thì con
    sẽ chẳng phải sợ gì cả.' Nghe vậy, tôi càng cảm thấy hoảng hốt hơn.”
    Ken nhìn Maria đăm đăm, “Giả sử cha hoặc mẹ chị bảo 'Trông con
    có vẻ lo lắng về bài kiểm tra quá đấy, Maria,' thì sự việc sẽ khác đi
    chăng?”
    “Tất nhiên rồi!” Maria phấn khởi cao giọng. “Bởi vì khi đó có thể
    tôi sẽ nói thật với cha mẹ về những dấu gạch chéo lên các câu trả lời
    sai, cũng như nỗi xấu hổ vì cứ phải hết lần này tới lần khác bị nêu tên
    khiển trách trước lớp.”
    Ken vẫn chưa tin, “Nhưng ngay cả khi đã được cha mẹ giải tỏa
    cảm xúc rồi thì có đủ để giúp chị bớt lo lắng và làm tốt môn toán
    không?”
    Maria trầm giọng, “Chắc là được, tôi nghĩ vậy,” chị nói chậm rãi,
    “bởi vì nếu cha mẹ chịu lắng nghe những nỗi lo âu của tôi và để cho
    tôi nói rõ về chúng, thì ngày hôm sau tôi sẽ yên tâm đi học hơn, sẽ
    mong muốn đạt điểm tốt hơn.”
    Vài ngày sau cuộc trò chuyện ấy, gặp lại Maria, tôi thấy chị mỉm
    cười rạng rỡ và lôi từ trong ví ra một tờ giấy nhỏ gấp đôi, hào hứng
    nói, “Tôi muốn kể cho mọi người nghe mấy câu mà các con tôi đã nói
    trong tuần này. Sau khi tôi kể xong, mọi người hãy đoán xem tôi đã
    không nói gì với chúng. Bắt đầu là câu nói của con gái tôi, cháu tên
    Ana Ruth.” Maria mở tờ giấy ra và đọc, “Mẹ, cô dạy thể dục bắt một
    mình con phải chạy nhiều vòng quanh sân, bởi vì con không thay đồ
    nhanh bằng các bạn, thế là con bị bắt chạy cho cả lớp coi đó mẹ.”
    Ken trả lời ngay lập tức, “Chị đã không nói ' Vậy chứ con muốn cô

    giáo làm gì? Vỗ tay khen con chắc? Hay thưởng cho con huy chương người
    chậm nhất?'”
    Mọi người bật cười. Maria tiếp, “Giờ đến câu của con trai tôi,
    cháu Marco, 'Mẹ, đừng bực mình nhé. Con làm mất găng tay rồi.'”
    “Để tôi trả lời câu này,” Jane đáp. “Con nói gì hả? Đây là đôi găng
    tay thứ hai con làm mất trong tháng này rồi đấy. Con nghĩ ba mẹ in ra tiền
    à? Mai mốt, khi tháo găng tay ra, con nhớ nhét nó vào túi quần luôn nghe
    chưa. Rồi trước khi xuống xe buýt, hãy kiểm tra chỗ ngồi và dưới sàn xe để
    xem nó có rơi ra không.”
    “Khoan. Nói câu đó thì có gì sai?” Ken hỏi. “Chị đang dạy thằng bé
    về tinh thần trách nhiệm mà.”
    “Nhưng thời điểm nói thì sai,” Jane nói.
    “Tại sao?”
    “Bởi vì khi người ta đang chìm thì không phải là lúc để bạn dạy họ
    tập bơi.”
    “Hừm. Tôi phải nghĩ kỹ về điều này mới được...” Ken nói, rồi chỉ
    vào tôi, “Nào, giờ đến lượt cô, Liz à.” Maria nhìn vào tờ giấy và nói,
    “Còn đây cũng là câu nói của Ana Ruth, 'Con chẳng biết là mình có
    còn muốn ở trong dàn nhạc giao hưởng nữa hay không.'”
    Tôi đốp liền, “ Mẹ đã tốn cả đống tiền cho con học đàn violin, mà giờ
    con nói đến chuyện bỏ học hả! Ba con mà nghe được thì sẽ điên lên cho xem
    .”
    Maria nhìn chúng tôi kinh ngạc, “Sao mọi người biết rõ những gì
    tôi đã suýt nói ra thế?”

    “Quá dễ,” Jane bảo. “Đó là những gì cha mẹ chúng ta đã nói với
    chúng ta, và cho đến giờ đấy vẫn là những gì tôi thường nói với con
    cái mình.”
    “Maria,” Ken nói, “đừng thử thách chúng tôi nữa. Chị đã nói gì
    với các con thế?”
    “Thế này nhé,” Maria tự hào trả lời,...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !