BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GỐC ÔN LUYỆN VÀO 10

    Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai

    Ông Già Và Biển Cả - Ernest Hemingway

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trịnh Thị Giang
    Ngày gửi: 20h:43' 26-09-2024
    Dung lượng: 544.1 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chương 1

    Lão đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt lưu và
    đã tám mươi tư ngày qua lão không bắt được lấy một mống cá nào.
    Bốn mươi ngày đầu thằng bé đi với lão. Nhưng sau bốn mươi ngày
    không câu được cá, cha mẹ thằng bé bảo nó rằng rốt cuộc bây giờ
    ông lão đã hoàn toàn salao, cách diễn đạt tệ nhất của vận rủi, rồi
    buộc nó đi theo thuyền khác và ngay trong tuần lễ đầu tiên chiếc
    thuyền ấy đã câu được ba con cá lớn. Điều đó khiến thằng bé buồn
    khi hằng ngày thấy ông lão trở về với chiếc thuyền không, nó luôn
    xuống giúp lão mang khi thì cuộn dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái
    sào hay tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm được vá bằng bao
    bột, cuộn lại trông như một lá cờ bại trận triền miên. ông lão gầy gò,
    giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt nám vô hại
    trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi trên
    mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay
    lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những con cá lớn. Nhưng chẳng
    có vết nào trong số sẹo ấy còn mới cả. Chúng cũ kỹ như mấy vệt
    xói mòn trên sa mạc không cá. Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên
    vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và
    không hề thất bại.
    “ông Santiago, thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi con
    thuyền được kéo lên.
    “Cháu có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.

    ông lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
    “Đừng”, lão nói.
    “Cháu đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ”.
    “Nhưng ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta không
    bắt được cá nhưng sau đó trong ba tuần lễ ngày nào ta cũng vớ
    được cá lớn”.
    “ông nhớ”, ông lão nói.
    “ông biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu lòng tin”.
    “Tại cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải nghe lời
    cha”.
    “ông hiểu”, ông lão nói.
    “Đấy là chuyện thường”.
    “Cha cháu chẳng tin đâu”.
    “Phải”, ông lão nói.
    “Nhưng chúng ta tin, đúng không... ”
    “Vâng”, thằng bé đáp.
    “Cháu có thể mời ông một lá bia ở khách sạn Terrace trước khi
    chúng ta mang mấy thứ này về nhà chứ... ”
    “Tại sao lại không... ”, ông lão nói.
    “Dân chài với nhau cả mà”. Họ ngồi ở Terrace và rất nhiều người
    đánh cá trêu ông lão nhưng lão không giận. Một số khác, những ngư

    dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy buồn. Nhưng họ không để lộ
    ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ sâu buông câu, về thời tiết tốt,
    ổn định và về những thứ họ đã nhìn thấy. Mấy tay đánh cá thành
    công của ngày ấy đã trở về, xả thịt con cá kiếm của họ, sắp đầy lên
    hai tấm ván, mỗi người khiêng một đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi
    chiếc xe tải ướp lạnh đưa đến chợ Havana. Những người bắt được
    cá mập thì đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng
    được móc treo lên bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột và
    thịt thì được xẻ thành súc đưa ướp muối. Khi gió Đông thổi, mùi
    tanh nồng từ xưởng cá mập bên kia cảng phả đến. Nhưng hôm nay,
    mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi chếch sang hướng Bắc rồi lặng
    hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ chịu.
    “ông Santiago”, thằng bé gọi.
    “ừ”, ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều năm
    trước.
    “Cháu đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai nhé... ”
    “Đừng. Đi chơi bóng chày đi. ông vẫn có thể chèo và Rogelio sẽ
    quăng lưới”. ”Cháu thích đi.
    Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn giúp ông
    việc gì đó”.
    “Cháu đã mua bia cho ông”, ông lão nói.
    “Cháu thực sự là đàn ông rồi”.
    “Lần đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy... ”

    “Lên năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá lớn
    lên thuyền, nó gần như quật tan con thuyền ra nhiều mảnh. Cháu có
    còn nhớ không... ”
    “Cháu vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền bị gãy
    và tiếng nện của cái chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra đằng mũi
    thuyền, nơi lùng nhùng những sợi dây ướt rồi cháu cảm thấy toàn
    bộ con thuyền chao đảo và tiếng ông quật con cá nghe như thể
    đang đốn cây, máu nóng hổi bắn cả lên người cháu”.
    “Có phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể... ”
    “Cháu nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi cùng
    nhau”. ông lão nhìn thằng bé bằng ánh mắt chan chứa tình thương,
    tin cậy, ấm áp của mình.
    “Nếu cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một phen”, lão
    nói.
    “Nhưng cháu là con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên con
    thuyền may mắn”.
    “Cháu có thể đi kiếm cá mòi chứ... Cháu còn biết nơi cháu có thể
    kiếm được bốn con mồi”.
    “Hôm nay ông vẫn còn mấy con. ông đã muối chúng trong
    thùng”.
    “Để cháu đi kiếm bốn con tươi”.
    “Một thôi”, ông lão nói. Niềm hy vọng và lòng tin của ông lão
    chưa bao giờ nguội lạnh. Còn bây giờ thì chúng đang cuộn lên như
    khi gió đang nổi.

    “Hai”, thằng bé nói.
    “Hai”, ông lão đồng ý.
    “Cháu không ăn cắp đấy chứ... ”
    “Cháu không”, thằng bé đáp.
    “Cháu mua”.
    “Cảm ơn cháu”, ông lão nói. Lão quá giản dị để không tự hỏi tính
    nhún nhường của mình có tự bao giờ. Nhưng lão biết lão đã có nó
    và lão biết nó chẳng có gì xấu hổ và cũng chẳng mảy may phương
    hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
    “Với con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành”, lão nói.
    “ông sẽ đến đâu”, thằng bé hỏi.
    “Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về. ông muốn đến đấy trước
    khi trời sáng”.
    “Cháu sẽ tìm cách để ông ấy ra câu xa”, thằng bé nói.
    “Rồi khi ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ có thể
    đến giúp”.
    “ông ấy không thích ra khơi xa đâu”.
    “Vâng”, thằng bé nói.
    “Nhưng cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi chẳng hạn,
    mà ông ấy không thể thấy rồi giục ông ta bám theo bầy cá dorado”.
    “Mắt ông ấy kém đến thế ư... ”.

    “ông ấy gần như mù”.
    “Lạ thật”, ông lão nói.
    “ông ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do làm mắt kém thị
    lực”.
    “Nhưng ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Moạquito Coaạt mà
    mắt ông vẫn còn tốt”.
    “Ta là một lão già kỳ lạ”.
    “Nhưng giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật lớn
    không... ”
    “ông chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa”.
    “Chúng ta hãy mang dụng cụ về nhà”, thằng bé nói.
    “Rồi cháu có thể mang lưới - quăng đi bắt cá mòi”. Họ tháo vật
    dụng khỏi thuyền. ông lão vác cột buồm, thằng bé mang thùng gỗ
    đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được bện thật chắc, cái móc,
    ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở đuôi thuyền, bên
    cạnh cái chày được dùng để quật những con cá lớn khi bị kéo lên
    khoang.
    Chẳng ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ đưa
    cánh buồm, cuộn dây nặng vào nhà bởi sương có thể làm chúng
    hỏng và dẫu cho lão có hoàn toàn tin chắc là chẳng có người địa
    phương nào ăn cắp của lão thì lão vẫn nghĩ cái móc và ngọn lao hẳn
    có sức cám dỗ khi để trên thuyền. Họ cùng đi bộ trên con đường
    đến lều ông lão rồi bước vào qua cánh cửa để ngỏ. ông lão dựng
    cột buồm với lá buồm quấn quanh vào vách, thằng bé đặt cái thùng

    gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột buồm cao gần bằng chiều cao
    của căn lều một buồng. Vách lều được ghép bằng thân loài cọ xù xì
    có tên gọi là guano; trong lều có một cái giường, một cái bàn, một
    cái ghế và một cái bếp trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức
    tường màu nâu của những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá
    cứng queo của chúng chồng lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức
    Chúa Jesus và Đức Mẹ Đồng Trinh xứ Cobre. Đấy là di vật của vợ
    lão. Có dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng được treo trên tường
    nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn hơn khi
    nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi sạch của
    lão.
    “ông có gì ăn không... ”, thằng bé hỏi.
    “Một niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn không... ”.
    “Thưa không. Cháu sẽ ăn ở nhà. ông có cần cháu nhóm lửa
    không... ”.
    “Không. Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm nguội”.
    “Cháu có thể mang cái lưới - quăng đi chứ... ”.
    “Dĩ nhiên”. Không có cái lưới - quăng nào cả, thằng bé nhớ rõ
    cái lúc họ bán nó. Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ tưởng
    tượng như thế. Và thằng bé cũng biết chẳng có niêu cơm gạo vàng
    và cá nào cả.
    “Tám mươi lăm là con số may mắn”, ông lão nói.
    “Cháu có thích ông mang về con cá nặng gần nửa tấn không... ”.

    “Cháu sẽ lấy cái lưới - quăng đi bắt cá mòi. ông ngồi sưởi nắng
    trên ngưỡng cửa chứ... ”.
    “ừ. ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày”. Thằng
    bé không chắc liệu cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản phẩm của
    trí tưởng tượng nữa không. Nhưng ông lão đã lôi tờ báo từ dưới
    giường ra.
    “Perico cho ông ở bodega”, lão giải thích.
    “Cháu sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ ướp đá
    mấy con của ông cùng của cháu rồi sáng mai chúng ta chia nhau.
    Khi cháu quay lại, ông nhớ kể cho cháu nghe chuyện đội bóng đấy”.
    “Đội Yankee không thể thua”.
    “Nhưng cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland”.
    “Hãy tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di Maggio vĩ
    đại”.
    “Cháu sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland”.
    “Hãy coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ Cincinnati và
    đội White Sox của Chicago”.
    “ông đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại”.
    “Cháu có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám mươi
    lăm không... Mai là ngày thứ tám mươi lăm”.
    “Chúng ta có thể mua”, thằng bé nói.
    “Nhưng thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi bảy”.

    “Không thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có thể
    tìm được tờ vé số tám mươi lăm ấy chứ... ”
    “Cháu có thể mua một chiếc”.
    “Một chiếc. Hai đô la rưỡi đấy. Ai có thể cho chúng ta vay món
    tiền ấy... ”
    “Dễ thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi”.
    “ông nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố không
    vay mượn. Thoạt tiên thì vay mượn. Rồi sau đó là ăn mày”.
    “Hãy giữ ấm ông ạ”, thằng bé nói.
    “Chúng ta đã qua tháng chín”.
    “Tháng này là mùa cá lớn”, ông lão nói.
    “Vào tháng năm thì ai cũng có thể trở thành người đánh cá”.
    “Bây giờ cháu đi kiếm cá mòi đây”, thằng bé nói. Khi thằng bé trở
    lại ông lão đã ngủ trên ghế, mặt trời đã lặn. Thằng bé mang cái mền
    lính cũ trong giường ra trải lên phía sau ghế, đắp qua vai ông lão.
    Đôi vai thật kỳ lạ, vẫn chắc nịch dẫu đã rất già, cả cái cổ vẫn còn
    khỏe, những nếp nhăn mờ đi khi ông lão ngủ gục đầu về phía trước.
    Chiếc sơ mi của ông được vá nhiều lần đến nỗi trông nó cũng hệt
    như tấm buồm; mặt trời làm mấy miếng vá ấy phai nhạt theo nhiều
    màu khác nhau. Dẫu sao thì cái đầu ông lão cũng đã rất già và khi
    đôi mắt nhắm lại thì khuôn mặt lão không còn sinh khí. Tờ báo nằm
    vắt qua đầu gối lão, độ nặng của cánh tay giữ nó ở lại đó trong làn
    gió nhẹ buổi tối. Lão đi chân trần. Thằng bé để lão ở đó và khi nó
    quay lại ông lão vẫn còn ngủ.

    “ông ơi, dậy đi”, thằng bé gọi và đặt tay lên đầu gối lão. ông lão
    mở mắt, ngơ ngác một lúc rồi mới tỉnh hẳn. Rồi lão mỉm cười.
    “Cháu có cái gì đấy”, lão hỏi.
    “Đồ ăn tối”, thằng bé nói.
    “Chúng ta sẽ ăn tối”.
    “ông không đói lắm đâu”.
    “Thì cứ ăn vậy. ông không thể không ăn mà bắt cá được”.
    “Vẫn cứ câu được”, ông lão nói lúc đứng dậy cầm tờ báo gấp lại.
    Rồi lão chuẩn bị xếp mền.
    “ông cứ quấn mền quanh người”, thằng bé nói.
    “Trong lúc cháu còn sống thì ông không phải nhịn đói mà đi câu
    cá”.
    “Vậy thì hãy sống cho thật lâu và quan tâm đến bản thân mình”,
    ông lão nói.
    “Ta ăn gì vậy... ”.
    “Đậu đen, cơm, chuối chiên và ít thịt hầm”. Thằng bé đựng mấy
    món ấy trong chiếc cặp lồng hai ngăn, mang về từ Terrace. Hai bộ
    dao nĩa, thìa được quấn bằng giấy ăn đút trong túi nó.
    “Ai cho cháu mấy món này... ”
    “Bác Martin. Chủ quán”.
    “ông phải cảm ơn bác ấy”.

    “Cháu đã cảm ơn rồi”, thằng bé nói.
    “ông không phải cảm ơn bác ấy nữa”.
    “ông sẽ biếu bác ấy miếng thịt bụng của con cá lớn”, ông lão nói.
    “Bác ấy đã nhiều lần cho chúng ta như thế này phải không... ”
    “Cháu nghĩ thế”.
    “Vậy thì ông phải biếu bác ấy cái gì quí hơn miếng thịt bụng. Bác
    ấy rất tử tế với chúng ta”.
    “Bác ấy gửi biếu hai chai bia”.
    “ông thích bia lon nhất”.
    “Cháu biết. Nhưng đây là bia Hatuey đóng chai, cháu sẽ mang
    trả chai”.
    “Cháu chu đáo quá”, ông lão nói.
    “Ta ăn chứ... ”
    “Thì cháu đã mời ông mãi, ” thằng bé dịu dàng nói.
    “Cháu chưa muốn mở cặp lồng trước khi ông đã sẵn sàng”.
    “ông sẽ sẵn sàng ngay”, ông lão nói.
    “ông chỉ rửa sơ qua một tí”. ông rửa ở đâu nhỉ, thằng bé nghĩ.
    Nguồn nước của làng cách đây hai con đường. Mình phải lấy nước
    về cho ông, thằng bé nghĩ, xà phòng và cả khăn tắm tươm tất nữa.
    Sao mình lại vô tâm đến thế... Mình phải kiếm cho ông chiếc sơ mi
    khác, một chiếc jacket mặc mùa đông, đôi giày và một cái mền nữa.

    “Món thịt hầm của cháu tuyệt lắm”, ông lão nói.
    “Kể cho cháu nghe về trận bóng đi”, thằng bé giục lão.
    “Như ông đã nói, trong Liên đoàn Mỹ, đấy là đội Yankee”, ông
    lão hạnh phúc nói.
    “Hôm nay họ thua rồi”, thằng bé nói với lão.
    “Điều đó chẳng hề gì. Di Maggio vĩ đại vẫn cứ là Di Maggio”.
    “Họ có những cầu thủ khác trong đội”.
    “Rõ rồi. Nhưng anh ta thì khác hẳn. Trong liên đoàn khác, nếu
    giữa Brooklán và Philadelphia thì chắc ông chọn Brooklán. ông còn
    nhớ đến cả Dick Sisler và những cú vụt bóng lừng danh trên sân
    đấu trước đây nữa”.
    “Không có ai sánh bằng đâu. Trong đời cháu mới chỉ thấy anh ấy
    là người vụt bóng đi xa nhất”.
    “Cháu có còn nhớ thuở anh ấy thường đến Terrace không... ông
    muốn mời anh ấy đi câu cùng nhưng lại quá nhút nhát để đưa ra lời
    đề nghị. Khi ông bảo cháu mời anh ấy thì cháu lại cũng nhát gan”.
    “Cháu biết. Đấy là một lỗi lầm tai hại. Chắc anh ấy sẽ đi cùng
    chúng ta. Rồi chúng ta sẽ giữ kỷ niệm ấy trong suốt cả cuộc đời”.
    “ông cũng muốn đưa Di Maggio vĩ đại đi câu”, ông lão nói.
    “Người ta bảo cha anh ấy là ngư dân. Có lẽ anh ấy cũng nghèo
    như ta và sẽ thông cảm”.

    “Cha của Siạler lừng danh thì chẳng nghèo tí nào, ông ta, lúc
    vào độ tuổi của cháu, đã chơi cho Liên đoàn Big”.
    “Khi bằng tuổi cháu, ông đã đứng trước cánh buồm, trên con tàu
    được trang bị chu đáo đến châu Phi và ông đã nhìn thấy sư tử trên
    bờ biển vào lúc chiều tối”.
    “Cháu biết. ông đã kể cho cháu nghe rồi”.
    “Ta nên nói chuyện về châu Phi hay về bóng chày... ”
    “Cháu nghĩ là bóng chày”, thằng bé đáp.
    “Kể cho cháu nghe về danh thủ John J. McGraw”. Nó nói Jota
    thay vì chỉ phát âm chữ J.

    Chương 2

    “Thỉnh thoảng vào những ngày xa xưa ấy, anh ta thường đến
    Terrace. Nhưng khi đã rượu vào thì anh ta nóng nảy, nói năng nhát
    gừng và khó đăm đăm. Đầu óc anh ta dồn hết cả vào ngựa và bóng
    chày. Lúc nào anh ta cũng giữ danh sách ngựa trong túi áo rồi cứ
    xướng tên qua điện thoại”.
    “ông ta là tay quản lý ra trò”, thằng bé nói.
    “Cha cháu nghĩ ông ta là người vĩ đại nhất”.
    “Bởi vì lúc nào anh ta cũng đến đây”, ông lão nói.
    “Nếu hằng năm Durocher cứ đến đây thì chắc cha cháu sẽ nghĩ
    anh ta là tay quản lý cừ khôi nhất”.
    “Thật ra ai là ông bầu vĩ đại nhất, Luque hay Mike Gonzalez... ”
    “ông nghĩ hai người ngang nhau”.
    “Còn người đánh cá tài ba nhất là ông”.
    “Không. ông biết nhiều người giỏi hơn”.
    “Que va”, thằng bé thốt lên.
    “Có nhiều người đánh cá giỏi và vài người vĩ đại. Nhưng ông là
    người duy nhất”.
    “Cám ơn. Cháu làm ông hạnh phúc. ông hy vọng sẽ không có
    con cá nào cùng vĩ đại như thế để chứng minh rằng ông cháu ta

    sai”.
    “Sẽ chẳng có con cá nào như thế nếu ông vẫn còn khỏe như ông
    nói”.
    “Có lẽ ông không được khỏe như ông nghĩ đâu”, ông lão nói.
    “Nhưng ông biết nhiều mẹo và có cách xử lý”.
    “Giờ thì ông nên ngủ đi để sáng mai khỏe khoắn. Cháu mang
    mấy thứ trả Terrace”.
    “Vậy thì tạm biệt. Sáng mai ông sẽ đến đánh thức cháu”.
    “ông là cái đồng hồ của cháu”, thằng bé nói.
    “Tuổi tác là đồng hồ của ông”, ông lão nói.
    “Tại sao người già lại thức giấc quá sớm... Phải chăng là muốn
    có một ngày dài hơn... ”
    “Cháu không biết”, thằng bé nói.
    “Những gì cháu biết là người trẻ thì ngủ dậy muộn và khó”.
    “ông nhớ”, ông lão nói.
    “ông sẽ đánh thức cháu đúng giờ”.
    “Cháu không thích ông ta đánh thức cháu. Việc đó như thể cháu
    là kẻ bề dưới”.
    “ông hiểu”.
    “Chúc ông ngủ ngon”. Thằng bé đi ra. Họ ăn mò, không có đèn
    trên bàn; ông lão cởi quần dài, đi ngủ trong bóng tối. Lão quấn chiếc

    quần quanh tờ báo làm gối. Lão cuộn người trong chăn, nằm lên
    những tờ báo cũ trải trên giát giường. Lão ngủ ngay và mơ về châu
    Phi, khi lão hãy còn là một chú nhóc, với những bờ biển cát vàng,
    cát trắng trải dài, trắng đến nỗi làm mắt đau nhức, những mũi đất
    cao nhô ra biển, những ngọn núi xám đồ sộ. Bây giờ hằng đêm lão
    về lại bờ biển ấy và trong mơ lão nghe tiếng sóng gầm, lão thấy
    đoàn thuyền của người bản địa đang trườn qua những con sóng.
    Khi ngủ, lão ngửi thấy mùi nhựa đường, mùi gỗ sồi lát boong tàu; rồi
    lão ngửi thấy hương vị châu Phi theo làn gió đất phả tới vào buổi
    sáng. Thông thường khi ngửi thấy làn gió nội địa, lão thức dậy, mặc
    đồ, đến đánh thức thằng bé. Nhưng đêm nay, gió nội địa đến rất
    sớm và trong mơ lão biết hãy còn quá sớm nên lão tiếp tục mơ để
    thấy những mỏm trắng xóa của những hòn đảo nhô trên biển, lát
    sau lão mơ về những hải cảng khác, những vũng tàu đậu khác của
    quần đảo Canará. Lão không còn mơ về bão, không còn mơ về đàn
    bà, về những sự kiện trọng đại, những con cá lớn, những trận đánh,
    những cuộc đấu sức hay vợ lão. Bây giờ lão chỉ mơ về các vùng
    đất, về những con sư tử trên bờ biển. Chúng nô đùa như những chú
    mèo con trong hoàng hôn; lão yêu chúng như yêu thằng bé. Lão
    không bao giờ mơ về thằng bé. Lão chợt thức giấc, nhìn ánh trăng
    bên ngoài cánh cửa để ngỏ rồi giũ quần mặc vào. Lão tiểu bên lều
    rồi đi lên đường đánh thức thằng bé. Lão rùng mình trong bầu không
    khí lạnh ban mai. Nhưng lão biết lão sẽ còn run mãi cho đến lúc tay
    chèo làm lão ấm lên. Cánh cửa ngôi nhà thằng bé sống không khóa,
    lão mở rồi khẽ đưa đôi chân trần bước vào. Thằng bé ngủ trên chiếc
    giường nhỏ ở phòng đầu tiên; và ông lão, trong ánh trăng sắp lặn,
    có thể nhìn rõ nó. Lão nhẹ nhàng nắm lấy một bàn chân, giữ cho
    đến khi thằng bé thức giấc, quay lại nhìn lão. ông lão gật đầu, thằng

    bé lấy chiếc quần dài vắt trên ghế cạnh giường, mặc vào khi còn
    ngồi trên giường. ông lão ra cửa, thằng bé đi theo. Nó đang ngái
    ngủ, lão quàng tay qua vai nó và nói,
    “ông xin lỗi”.
    “Queva”, thằng bé nói.
    “Đấy là việc mà một người đàn ông phải làm”. Họ xuống đường
    đến lều ông lão và suốt dọc đường, trong bóng tối, nhiều người đi
    chân trần, vác buồm ra thuyền. Khi hai người đến lều ông lão, thằng
    bé xách cái xô đựng cuộn dây, cây lao, cây sào móc; còn ông lão
    vác cột buồm với lá buồm đã quấn lại.
    “ông có muốn uống cà phê không... ”, thằng bé hỏi.
    “Chúng ta để dụng cụ xuống thuyền rồi đi uống”. Họ uống cà phê
    trong hộp đựng sữa đặc tại điểm phục vụ những người đánh cá vào
    sáng sớm.
    “ông ngủ có ngon không... ”, thằng bé hỏi. Giờ thì nó dần tỉnh táo
    hơn như thể giấc ngủ hẵng cứ bám riết lấy nó.
    “Rất ngon, Manolin à”, ông lão đáp.
    “Hôm nay ông cảm thấy tự tin”.
    “Cháu cũng thế”, thằng bé nói.
    “Bây giờ cháu phải đi lấy cá mòi của ông cháu ta và số mồi tươi
    của ông. Tự ông ấy mang dụng cụ. ông ấy chẳng hề muốn bất kỳ ai
    mang bất cứ thứ gì”.
    “Chúng ta thì khác”, ông lão nói.

    “ông để cháu mang đồ nghề kể từ lúc cháu lên năm”.
    “Cháu biết điều đó”, thằng bé nói.
    “Cháu sẽ về ngay. ông cứ uống thêm tí nữa. Chúng ta có thể
    uống chịu ở đây”. Nó đi chân không trên lớp san hô đến nhà ướp
    lạnh nơi mồi được giữ ở đấy. ông lão chậm rãi uống cà phê. Đấy là
    tất cả thực phẩm lão có cho một ngày và lão biết lão nên uống. Đã
    từ lâu, ăn uống đối với lão trở nên chán ngắt và lão không bao giờ
    mang theo bữa trưa. Lão có một chai nước đằng mũi thuyền và đấy
    là tất cả lão cần trong một ngày. Lúc này thằng bé đã quay lại, mấy
    con cá mòi và hai miếng mồi câu được bọc trong tờ báo, hai người
    men theo lối mòn đến thuyền, chân giẫm lên lớp cát pha sỏi, nâng
    con thuyền đẩy xuống nước.
    “Chúc ông may mắn”.
    “Chúc cháu may mắn”, ông lão nói. Lão tra quai chèo vào cọc,
    nghiêng người tới trước khua mạnh mái chèo xuống nước; trong
    bóng tối, lão chèo ra khỏi bến. Có nhiều chiếc thuyền từ các bãi
    khác ra khơi; ông lão nghe tiếng mái chèo khua nước mặc dù lão
    không thể nhìn thấy họ bởi bây giờ mặt trăng đã khuất sau rặng đồi.
    Thỉnh thoảng, có tiếng ai đó nói trên thuyền. Nhưng hầu hết các
    thuyền đều im lặng trừ tiếng mái chèo khua nước. Họ tỏa rộng sau
    khi ra khỏi cửa biển; mỗi người đi đến phần đại dương nơi họ hy
    vọng tìm thấy cá. ông lão biết mình sẽ đi thật xa, để lại mùi đất sau
    lưng, chèo vào vùng hương tinh khôi của đại dương ban mai. Lão
    thấy ánh lân quang của đám rong vùng Nhiệt lưu trong nước khi lão
    chèo qua vùng biển mà ngư dân gọi là vùng Giếng lớn, bởi vì độ sâu
    ở đấy bất thình lình tụt xuống đến bảy trăm sải nước; họ hàng nhà

    cá đều dồn tất tại đó do xoYy nước dội thẳng vào bờ vách dốc của
    đáy đại dương. ở đấy tập trung tôm, cá mòi và thỉnh thoảng hàng
    đàn cá mực, sống trong những hố sâu nhất ngoi lên gần mặt nước
    vào ban đêm để làm mồi cho những con cá lang thang.
    Trong bóng tối, ông lão có thể cảm nhận bình minh đang đến và
    lúc chèo, lão nghe thấy những âm thanh run rẩy khi đàn cá chuồn
    rời mặt nước và cả tiếng lao xao phát ra từ bộ cánh cứng khi chúng
    lao xao trong bóng tối. Lão rất quý loài cá chuồn bởi chúng là bạn
    gần gũi của lão trên đại dương. Lão thương cho lũ chim, đặc biệt là
    loài nhạn đen nhỏ, mỏng manh cứ bay và tìm kiếm mãi nhưng hầu
    như chẳng tìm thấy gì; lão nghĩ loài chim sống khổ hơn ta trừ mấy
    cái giống chim kẻ cướp và những loài to xác, kềnh càng. Tại sao tạo
    hóa lại sinh ra cái giống chim quá xinh xẻo mỏng manh như loài
    nhạn biển này trong khi đại dương lại có thể quá ư nghiệt ngã...
    Đại dương tử tế và rất đẹp. Nhưng nó có thể rất độc ác và tráo
    trở bất thình lình; còn loài chim kia thì phải bay, nhao xuống săn mồi;
    và tiếng kêu thảng thốt, khẽ khàng của chúng lại quá yếu ớt giữa
    trùng khơi. Lão luôn nghĩ về biển như lamar, đấy là cách người ta
    gọi biển bằng tiếng Tây Ban Nha khi họ yêu biển. Thỉnh thoảng
    những người yêu biển cũng buông lời nguyền rủa biển nhưng họ
    luôn nói như thể biển là phụ nữ. Vài tay đánh cá trẻ, sử dụng phao
    nhựa làm phao câu và đi thuyền máy, sắm được khi gan cá mập
    được giá, gọi biển là el mar, tức giống đực. Chúng nói về biển như
    một đối thủ, một địa điểm hay thậm chí là một kẻ thù. Nhưng ông lão
    thì luôn nghĩ về biển như về một phụ nữ, như cái gì đó có thể ban
    phát hay chối giữ ơn huệ, và nếu biển làm điều ác độc hay tàn bạo
    thì bởi lẽ lúc ấy biển không thể nào kìm giữ nổi. Mặt trăng tỏa chiếu

    trên biển như thể tỏa chiếu trên cơ thể của người đàn bà, lão nghĩ.
    Lão buông chèo nhịp nhàng, không phải mất nhiều sức bởi lão làm
    chủ tốc độ của mình và bởi đại dương bình lặng trừ đôi chỗ có dòng
    xoYy. Lão đang để dòng chảy đỡ đi một phần ba công việc và khi
    trời vừa hửng sáng lão thấy mình đã đi xa hơn quãng đường lão
    nghĩ vào thời điểm ấy. Mình đã câu ở vùng Giếng lớn suốt cả tuần
    nay mà chẳng bắt được mống nào hết, lão nghĩ. Hôm nay mình sẽ
    ra tận nơi các đàn cá bonito và albacore kiếm ăn và có thể con cá
    lớn sẽ quanh quẩn đâu đấy. Trước khi trời sáng rõ, lão buông mồi và
    thả thuyền trôi theo dòng chảy. Một con mồi ở độ sâu bốn mươi sải.
    Mồi thứ hai sâu tới bảy mươi lăm sải; mồi thứ ba và thứ tư chìm sâu
    hút trong làn nước xanh đến độ sâu một trăm và một trăm hai mươi
    lăm sải. Mỗi con mồi được móc ngược đầu xuống, lưỡi câu giấu
    trong thân Tiếng Tây Ban Nha chỉ một loài sứa. cá, buộc chặt, khâu
    kỹ và những phần thòi ra của lưỡi câu, đoạn cong và mũi nhọn, thì
    được che bằng những con cá mòi tươi rói. Chúng bị móc xuyên qua
    hai mắt tạo thành nửa vòng hoa trên cuống thép. Không còn phần
    nào của lưỡi câu để con cá lớn có thể nhận ra ngoại trừ hương vị
    thơm lừng quyến rũ. Thằng bé cho ông lão hai con cá thu nhỏ tươi,
    thuộc loài albacore; lão móc chúng vào hai lưỡi câu sâu nhất, chúng
    nặng như thể mấy hòn chì; còn ở hai lưỡi kia, lão móc một con nục
    sòng lớn, màu xanh và một con ngừ bạc đã được sử dụng hôm
    trước; nhưng chúng vẫn còn tốt và xâu cá mòi thơm phức giúp
    chúng tỏa hương hấp dẫn. Mỗi dây câu, lớn bằng cây bút chì cỡ lớn,
    được buộc vào một cái phao bằng que gỗ màu xanh lục để bất kỳ
    một cú kéo, một cú đớp nào vào miếng mồi cũng khiến phao gỗ
    chìm xuống; mỗi dây câu còn có hai cuộn dây dài bốn mươi sải dự
    phòng sẵn sàng nối với các cuộn khác để khi cần thiết, con cá có

    thể có hơn ba trăm sải dây. Bây giờ lão quan sát mũi của ba chiếc
    phao gỗ bên mạn thuyền, chèo nhẹ để giữ cho mấy sợi dây thẳng
    đứng đến độ sâu cần thiết của chúng. Trời đã sáng hẳn và chẳng
    mấy nữa mặt trời sẽ mọc lên. Mặt trời nhô lên mặt biển, ông lão có
    thể nhìn thấy những thuyền khác, chìm thấp trong nước, dàn rộng
    qua dòng chảy, phía gần bờ. Khi mặt trời rực rỡ hơn, ánh nắng
    chiếu xuống mặt nước và lát sau, lúc nó cao hẳn lên, mặt biển
    phẳng lặng phản chiếu ánh nắng dội vào mắt lão làm đau nhức; lão
    chèo mà không nhìn vào nó nữa. Lão nhìn xuống nước, theo dõi
    mấy sợi dây được thả thẳng đứng xuống vùng đen của đại dương.
    Lão giữ chúng thẳng hơn bất kỳ một ai khác, để ở mỗi độ sâu trong
    vùng nước đen kia sẽ có một con mồi đợi đúng ngay ở đấy, nơi lão
    muốn dành cho bất cứ con cá nào bơi qua. Các tay câu khác thì để
    chúng trôi theo dòng chảy và đôi khi chúng chỉ ở độ sâu sáu mươi
    thay vì một trăm sải như họ m u ố n. Nhưng, lão nghĩ, mình giữ
    chúng chính xác. Duy chỉ mình không còn may mắn nữa thôi. Nhưng
    biết đâu được...
    Có thể hôm nay. Mỗi ngày là một ngày mới. Gặp may thì tốt hơn.
    Nhưng mình ưa sự chính xác. Để khi vận may đến thì mình đã sẵn
    sàng. Bây giờ mặt trời đã mọc cao được hai tiếng đồng hồ, nó
    không làm mắt lão đau nhiều khi nhìn về hướng Đông nữa. Giờ đây,
    trong tầm mắt, chỉ còn lại ba bóng thuyền, mạn lún sâu xuống nước
    và ở mãi tít phía trong bờ. Suốt cả đời, bình minh làm buốt mắt ta,
    lão nghĩ. Nhưng chúng vẫn còn tinh anh. Vào lúc chiều tối, ta có thể
    nhìn thẳng vào nó mà không bị những đốm đen trong mắt. Buổi
    chiều, ánh nắng mạnh hơn. Nhưng buổi sáng nó làm ta nhức nhối.
    Ngay khi đó lão thấy một con hải bằng tung đôi cánh đen dài lượn

    trên bầu trời trên đầu lão. Nó sà xuống nhanh, nghiêng cánh chao
    người rồi bay vòng trở lại.
    “Nó tóm được con gì rồi”, ông lão nói lớn.
    “Nó không chỉ nhìn đâu”. Lão chèo chậm rãi, đều đặn tiến về
    phía con chim đang lượn vòng. Lão không vội, lão cần giữ cho
    những sợi dây thẳng đứng xuống. Nhưng lão hơi nhanh hơn dòng
    nước một chút trong chừng mực lão vẫn câu đúng, nếu lão không cố
    bám theo con chim thì lão sẽ không chèo nhanh hơn cách lão
    thường câu. Con chim bay cao hơn, lại lượn vòng, đôi cánh bất
    động. Rồi thình lình nó lao xuống, lão thấy đàn cá chuồn tung mình
    lên khỏi mặt nước, tuyệt vọng bay trên mặt biển.
    “Dorado”, ông lão nói lớn.
    “Cá dorado lớn”.

    Chương 3

    Lão dừng chèo, lôi ra sợi dây câu nhỏ đằng mũi thuyền. Dây câu
    này có đáy thép và lưỡi câu cỡ trung bình, lão móc mồi bằng một
    con mòi. Lão buông câu qua mạn thuyền rồi buộc nó vào cái khoen
    đằng sau lái. Lão tiếp tục móc mồi lưỡi câu khác rồi vẫn để nó cuộn
    như thế trong bóng mát mũi thuyền. Lão quay lại chèo và trông
    chừng con chim có sải cánh đen rộng bây giờ đang sà thấp xuống
    kiếm mồi trên mặt nước. Khi lão quan sát, con chim lại nhào xuống,
    nghiêng cánh liệng rồi đập loạn xạ, bất lực khi bám theo đàn cá
    chuồn. ông lão có thể nhìn thấy mặt nước khẽ cuộn lên chỗ đàn cá
    dorado lớn nhao người đuổi theo bầy cá chuồn đang lẩn trốn. Đám
    cá dorado đang cắt xuyên vùng nước bên dưới đường bay của đàn
    cá, lao hết tốc lực đợi đàn cá rơi xuống. Đàn cá dorado lớn, lão
    nghĩ. Chúng dàn rộng ra, lũ cá chuồn có ít cơ hội trốn thoát. Con
    chim cũng không có cơ hội. Đàn cá chuồn quá lớn so với nó, vả lại
    chúng lao đi rất nhanh. Lão nhìn theo đàn cá chuồn cứ phóng lên
    lặn xuống và những cú chao mình vô ích của con chim. Đàn cá ấy
    đã rời xa ta, lão nghĩ. Chúng di chuyển nhanh quá và xa quá.
    Nhưng chắc chắn ta sẽ tóm được một chú đi lạc và có lẽ con cá lớn
    của ta hẳn quanh quẩn bên chúng. Con cá lớn của ta hẳn đang ở
    đâu đó. Bây giờ những đám mây trên đất liền đùn lên tựa những
    quả núi và bờ biển chỉ còn là một vệt xanh dài với rặng đồi xanh
    thẫm đằng sau nó. Giờ đây, mặt nước xanh thẫm, thẫm đến nỗi như
    ngả sang màu tím. Khi nhìn xuống, lão thấy những vệt rêu đỏ trong

    làn nước tối sẫm và bây giờ mặt trời lấp lánh những tia sáng kỳ lạ.
    Lão dõi theo mấy sợi dây câu để thấy chúng chạy thẳng xuống ngút
    khỏi tầm mắt trong đáy nước và lão hạnh phúc khi thấy nhiều rêu
    biển, bởi đấy là dấu hiệu có cá. ánh sáng kỳ lạ của mặt trời chiếu
    vào làn nước cho thấy giờ đây mặt trời Prev Page 19 Next đã lên
    cao hơn, có nghĩa thời tiết thuận; cả hình thù của những đám mây
    trên đất liền kia cũng báo hiệu điều đó. Nhưng giờ thì con chim đã
    gần như khuất khỏi tầm mắt, trên mặt nước chẳng còn gì nữa,
    ngoại trừ những vệt rong Sargasạo vàng ệch, bạc màu dưới nắng
    trời và cái cơ thể nung núc, đỏ tía, nhão nhớt, sặc sỡ đủ màu của
    một con sứa đang lềnh bềnh bên mạn thuyền. Nó nghiêng mình rồi
    trở người lại ngay ngắn. Nó háo hức trôi đi tựa cái bong bóng xà
    phòng, kéo theo những sợi tua dài gần một mét màu đỏ tía chết
    chóc ngầm trong nước.
    “Agua mala”, lão nói.
    “Đồ điếm”. Từ nơi khẽ đưa mái chèo, lão nhìn xuống nước và
    thấy những con cá nhỏ có cùng màu với đám sợi tua đang bơi giữa
    chúng và cả dưới cái bóng nhỏ mà con sứa kia tạo ra khi trôi đi. Lũ
    cá ấy có khả năng đề kháng với nọc độc sứa. Nhưng con người thì
    không và có dạo mấy sợi tua ấy vướng vào dây câu, bám ở đó, đỏ
    tía, nhờn nhợt rồi trong lúc xoay xở với con cá ông lão đã chạm phải
    làm cả cánh tay lẫn bàn tay nhức nhối như thể khi chạm phải một
    dây trường xuân độc hay loài sồi độc. Chỉ khác là chất độc từ sứa
    agua mala khuếch tán nhanh hơn, tựa nhát roi quất vụt xuống. Cái
    giống sứa lấp lánh ngũ sắc trông thật đẹp. Nhưng chúng là loài man
    trá nhất đại dương, ông lão thích nhìn những con rùa biển lớn xơi
    thịt chúng. Loài rùa nhìn thấy, tiếp cận chúng trực diện, rồi nhắm

    nghiền mắt để che chắn toàn thân đoạn xông tới chén sạch cả mớ
    tua lẫn người ngợm của chúng. ông lão ưa nhìn loài rùa chén thịt
    chúng và lão thích giẫm nát khi chúng bị bão đánh giạt vào bờ để
    nghe tiếng lốp bốp khi bị giẫm lên và những mảnh sứa lựt sựt nát ra
    dưới bàn chân. Lão yêu giống rùa xanh, lưng khòm, duyên dáng,
    nhanh nhẹn và giá trị lớn của chúng; lão có tình cảm suồng sã theo
    kiểu bè bạn với cái giống to đầu, nặng nề, đần đần, da vàng phía
    trong mai, giao cấu theo kiểu kỳ quặc và hồ hởi chén thịt sứa với đôi
    mắt nhắm tịt ấy.
    Lão chẳng còn lạ gì về giống rùa ấy nữa bởi đã nhiều năm làm
    nghề săn rùa. Lão xót thương cho cả họ hàng nhà chúng, thậm chí
    cả với loài lưng hộp khổng lồ, dài bằng chiếc thuyền và cân nặng cả
    tấn. Hầu hết mọi người đều ác độc với rùa bởi trái tim rùa vẫn đập
    trong nhiều giờ sau khi đã bị xẻ thịt phanh thây. Nhưng lão nghĩ, trái
    tim ta cũng như vậy, kể cả đôi chân và đôi tay cũng giống của
    chúng. Lão ăn những quả trứng rùa trắng để tăng thêm sức lực. Lão
    ăn suốt cả tháng năm để đến tháng chín, tháng mười khỏe lên đợi
    con cá lớn thật sự. Hằng ngày lão cũng uống một lá dầu gan cá mập
    ở cái t...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không cần phải có thời gian và địa điểm. Khi tâm trạng muốn đọc ta có thể đọc bất cứ nơi đâu.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC THỊNH - YÊN THUỶ - HOÀ BÌNH !