Thư viện trường THTHCS giới thiệu truyện Sự tích hoa đào, hoa mai
Tại sao Mác đúng

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:13' 05-05-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trịnh Thị Giang
Ngày gửi: 10h:13' 05-05-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
Điều đó không phải để nói rằng Các Mác không bao giờ sai lầm. Tôi
không phải thuộc tuýp người cánh tả thường tuyên bố một cách cuồng tín
rằng mọi việc đều cần được phê phán, để rồi khi được yêu cầu đưa ra ba phê
bình quan trọng về Các Mác thì lại ậm ừ nín lặng. Việc bản thân tôi nghi ngờ
một vài tư tưởng của ông sẽ được thấy rõ qua cuốn sách này. Nhưng Các
Mác đã đúng thời đó về những vấn đề quan trọng khiến cho việc tự gọi mình
là một người mác xít trở nên hợp lý. Không người nào theo học thuyết Freud
hình dung rằng Freud không bao giờ sai lầm, cũng như không có người hâm
mộ Alfred Hitchcock nào lại không bảo vệ mọi lời thoại trong kịch bản của
vị đạo diễn bậc thầy đó. Tôi đang cố gắng diễn tả những tư tưởng của Các
Mác không phải là hoàn hảo nhưng đáng tin cậy. Để chứng minh điều này,
tôi nêu ra trong cuốn sách 10 phê phán phổ biến nhất về Các Mác, không sắp
xếp theo thứ tự tầm quan trọng mà tôi chỉ cố gắng phản bác từng ý kiến phê
phán một. Theo cách này tôi cũng mong muốn giới thiệu một cách rõ ràng và
dễ tiếp cận tư tưởng của ông cho những ai chưa biết tác phẩm của ông. Cuốn
sách này có căn nguyên từ một tư tưởng duy nhất và nổi bật: Sẽ ra sao nếu
hầu hết những phản bác quen thuộc về tác phẩm của Các Mác là sai? Hay ít
ra nếu không phải là hoàn toàn cố chấp thì cũng gần như là vậy?
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã được mô tả là “không nghi ngờ gì, đó
là tác phẩm duy nhất có ảnh hưởng nhất được viết ra trong thế kỷ XIX”[1].
Hầu như không một nhà tư tưởng nào, không một nhà chính trị, khoa học,
quân sự, truyền giáo… nào lại làm thay đổi được tiến trình lịch sử một cách
rõ ràng như tác giả của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Không một chính
phủ nào theo chủ thuyết Đề các, không có thủ lĩnh du kích nào theo chủ
nghĩa Platon hay không công đoàn nào theo luận thuyết của Hê-ghen, thậm
chí không một nhà phê bình Các Mác quyết liệt nhất nào lại phủ nhận rằng
ông đã làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về lịch sử loài người. Nhà tư
tưởng chống chủ nghĩa xã hội Ludwig von Mises đã mô tả chủ nghĩa xã hội
là “phong trào cải cách mạnh mẽ nhất mà lịch sử đã từng chứng kiến,
khuynh hướng tư tưởng đầu tiên không chỉ bó hẹp trong một bộ phận nhân
loại mà được ủng hộ bởi người dân đủ mọi sắc tộc, quốc gia, tín ngưỡng và
nền văn minh”[2]. Thế nhưng có một quan niệm lạ kỳ được lưu truyền rộng
rãi cho rằng Các Mác và lý thuyết của ông giờ đây đã được yên nghỉ - và
điều này lại xuất hiện trước một trong những khủng hoảng mang tính hủy
diệt nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay
vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất
về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa, thì giờ đây bằng lòng trở
về dĩ vãng.
Cuộc khủng hoảng đó ít ra cũng có nghĩa rằng cụm từ chủ nghĩa tư bản
thường được ngụy trang dưới những mĩ từ như “kỷ nguyên hiện đại”, “chủ
nghĩa công nghiệp” hay “phương Tây”, lại một lần nữa trở nên thịnh hành.
Bạn có thể nói hệ thống còn là điều tự nhiên như không khí chúng ta hít thở,
mà thay vào đó có thể được coi là một hiện tượng khá mới về mặt lịch sử.
Hơn nữa, bất cứ những gì được sinh ra cũng luôn có thể chết đi, đó là lý do
tại sao các hệ thống xã hội luôn muốn thể hiện mình tồn tại bất diệt. Cũng
giống như cơn sốt xuất huyết khiến bạn có được nhận biết mới về cơ thể của
mình, thì một dạng thức của đời sống xã hội có thể được nhận biết nó như
thế nào khi nó bắt đầu đổ vỡ. Các Mác là người đầu tiên nhận biết được đối
tượng lịch sử được biết đến là chủ nghĩa tư bản – chứng minh nó xuất hiện
như thế nào, hoạt động theo quy luật nào và có thể đi đến chỗ kết thúc ra sao.
Cũng giống như Newton đã phát hiện ra những sức mạnh vô hình được biết
đến là luật vạn vật hấp dẫn, hay Freud đã chỉ ra hoạt động của một hiện
tượng vô hình được gọi là vô thức, Các Mác đã khám phá cuộc sống hàng
ngày của chúng ta để phát hiện một thực thể chưa từng được nhận biết gọi
là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong cuốn sách này, tôi không nói về chủ nghĩa Mác với tư cách là sự
phê phán văn hóa hay đạo đức. Bởi vì nói chung điều đó không đặt ra sự
phản bác đối với chủ nghĩa Mác và do đó nó cũng không phù hợp với dự
định của tôi. Tuy nhiên, theo tôi, kho tàng những tác phẩm đồ sộ và phong
phú một cách phi thường của Các Mác theo nghĩa này bản thân nó đã đủ là
lý do để gắn bó với di sản của Các Mác. Sự xa lánh, “hàng hóa hóa” đời
sống xã hội, một văn hóa tham lam, xâm lược, chủ nghĩa khoái lạc vô tâm và
thuyết hư vô ngày càng phát triển, sự chảy máu không ngừng về ý nghĩa và
giá trị từ sự tồn tại của con người: rất khó có thể tìm thấy sự thảo luận thông
minh về những vấn đề này mà không mang ơn sâu sắc truyền thống mác xít.
Trong buổi đầu của chủ nghĩa nam nữ bình quyền, một số người trở nên
vụng về nếu những tác giả nam giới có thiện chí trước đây thường viết: “Khi
tôi nói “đàn ông” (men) dĩ nhiên tôi muốn nói “đàn ông và đàn bà” (men and
women). Vậy tôi cũng muốn nói một cách tương tự là khi tôi nói Các Mác,
tôi cũng thường muốn nói tới Các Mác và Ph.Ăng-ghen. Nhưng mối quan hệ
giữa hai ông là một câu chuyện khác.
Tôi rất biết ơn Alex Callinicos, Philip Carpenter và Ellen Meiksins
Wood, những người đã đọc bản thảo cuốn sách này và đã có những phê bình
và gợi ý vô giá.
Đinh Xuân Hà và Phương Sơn dịch
1] Peter Osborne, in Leo Panich and Colin Leys (eds.): The Communist
Manifesto Now: Socialist Register, New York, 1998, p.190.
[2] Robin Blackburn: “Fin de Siècle: Socialism after the Crash”, New
Left Review, no.185 (January/February 1991), p.7.
CHƯƠNG 1
CHỦ NGHĨA MÁC ĐÃ LỖI THỜI?
PHẢN BÁC:
Chủ nghĩa Mác đã kết thúc. Từng có thời chủ nghĩa Mác được coi là
phù hợp với một thế giới của những nhà máy, những cuộc bạo loạn vì đói
kém, những người công nhân mỏ, thợ nạo ống khói, sự khốn cùng tràn
lan và đông đảo giai cấp lao động. Và tất nhiên nó chẳng ăn nhập gì với
xã hội phương Tây hậu hiện đại ngày càng không còn giai cấp và dễ dàng
biến đổi về mặt xã hội như ngày nay. Chủ nghĩa Mác chỉ là một thứ giáo
điều của những kẻ cố chấp, sợ hãi hoặc bị lừa dối, không dám thừa nhận
rằng thế giới ngày nay đã và đang thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn, cả về
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
BIỆN GIẢI:
Chủ nghĩa Mác đã kết thúc có vẻ như là một âm thanh dễ chịu đối với
những người Mác-xít bất cứ nơi đâu. Họ có thể thôi tuần hành và bãi công,
quay trở về với sự che chở, đùm bọc của gia đình vẫn đầy ưu tư phiền muộn,
an nhàn tận hưởng mỗi buổi tối ở nhà thay vì phải tham gia những buổi hội
họp tẻ nhạt. Người Mác-xít giờ đây chẳng mong gì hơn là không còn Mácxít nữa. Trở thành một người Mác-xít thật chẳng khác nào một Phật tử hay là
một tỷ phú vậy. Không những thế, một người Mác-xít còn như một thầy
thuốc chuyên làm phúc. Nghĩa là người đó phải là người thật kiên trì, bền
chí, thật chuyên tâm vào công việc cứu chữa người bệnh để rồi sau khi bệnh
khỏi thì chẳng còn ai cần đến họ nữa. Cũng giống như vậy, sứ mệnh của các
chính trị gia giáo điều là đi đến cái đích mà ở đó vai trò của họ không còn
cần thiết nữa do nhiệm vụ đã hoàn tất. Khi đó, họ có thể thoải mái rút lui, đốt
bỏ đi những tấm hình Che Guevara, cầm lại chiếc đàn vi-ô-lông-xen bị lãng
quên bao ngày tháng, cùng nhau đàm đạo về điều gì đó thú vị hơn là các
phương thức sản xuất Á châu. Giả sử trong 20 năm tới vẫn tồn tại đâu đó
những người Mác-xít hay những người theo thuyết nam nữ bình quyền thì đó
quả là một viễn cảnh đáng buồn. Chủ nghĩa Mác bao hàm một sứ mệnh chỉ
mang tính tạm thời mà giải thích tại sao bất kỳ ai từng cống hiến hết mình
cho nó cuối cùng cũng không hiểu được. Có một cuộc sống sau chủ nghĩa
Mác là toàn bộ giá trị của chủ nghĩa Mác.
Viễn cảnh làm say mê lòng người khác thường này có một vấn đề duy
nhất. Chủ nghĩa Mác là sự phê phán chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phê phán sâu
sắc, toàn diện và khắt khe nhất từ trước đến nay. Không những thế, chủ
nghĩa Mác còn là sự phê phán duy nhất làm thay đổi bộ phận lớn của thế
giới. Điều đó muốn nói rằng, chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại, thì chủ
nghĩa Mác cũng sẽ tồn tại. Đào thải đối thủ của mình là tự đào thải chính
mình. Trước khi biến mất, chủ nghĩa tư bản vẫn sẽ mạnh mẽ như xưa.
Hầu hết những phê phán của chủ nghĩa Mác ngày nay đều không tranh
luận về điểm này. Thay vào đó, họ tuyên bố rằng, hệ thống tư bản chủ nghĩa
đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của
Các Mác, và do đó những tư tưởng của Các Mác không còn phù hợp nữa.
Trước khi xem xét nhận định này một cách chi tiết, cần lưu ý rằng bản thân
Các Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống
mà ông phản bác. Chính nhờ có chủ nghĩa Mác mà chúng ta có được những
khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau của tư bản: tư bản thương mại,
nông nghiệp, công nghiệp, độc quyền, tài chính, đế quốc… Vậy thì tại sao
việc chủ nghĩa tư bản thay đổi bộ mặt của nó trong những thập niên gần đây
lại làm mất niềm tin vào một học thuyết vốn coi sự thay đổi là thuộc tính của
chủ nghĩa tư bản? Không những thế, Các Mác còn tiên đoán trước sự thu hẹp
lại của giai cấp công nhân và tự tăng lên mạnh mẽ của lao động cổ cồn.
Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở phần sau. Các Mác thậm chí còn nhìn thấy
trước được cái mà chúng ta gọi ngày nay là “toàn cầu hóa”. Đây quả thực là
một điều kỳ lạ đối với một người có tư tưởng bị coi là cổ xưa. Song có lẽ
chính phẩm chất “cổ xưa” của Các Mác đã khiến cho Các Mác vẫn còn giá
trị đến ngày nay. Các Mác bị lên án là lạc hậu bởi chính những người cổ xúy
cho một chủ nghĩa tư bản đang nhanh chóng quay trở lại mức độ bất bình
đẳng như dưới thời Victoria. Vào năm 1976, rất nhiều người ở phương Tây
đã nghĩ rằng chủ nghĩa Mác có cơ sở hợp lý. Nhưng đến năm 1986 nhiều
người trong số họ đã không còn nói như vậy nữa. Vậy thì chính xác điều gì
đã xảy ra? Phải chăng những con người này đã bị chết trên giàn thiêu của
những đứa trẻ chập chững biết đi? Phải chăng chủ nghĩa Mác giờ đây đã bị
phát hiện là nhảm nhí bởi một nghiên cứu mới nào đó gây chấn động thế
giới? Liệu chúng ta có tình cờ phát hiện ra một bản thảo của Các Mác bị thất
lạc từ bao lâu nay thú nhận rằng tất cả chỉ là trò đùa? Không phải chúng ta
giật mình khám phá ra rằng Các Mác làm thuê cho chủ nghĩa tư bản. Điều
này thì chúng ta ai cũng biết. Nếu chẳng có cái nhà máy dệt Ermen & Engels
ở Salford do cha của Ph.Ăng ghen làm chủ thì chắc hẳn Các Mác đã không
thể cho ra đời những bút chiến chống lại những chủ sản xuất bông vải.
Quả là có điều gì đó đã xảy ra trong giai đoạn này. Kể từ giữa những
năm 1970 trở lại đây, hệ thống phương Tây đã trải qua những thay đổi quan
trọng[1]. Đó là sự chuyển đổi từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang nền
văn hóa “hậu công nghiệp” trong đó bao gồm chủ nghĩa tiêu dùng, truyền
thông, công nghệ thông tin và ngành dịch vụ. Những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ, phi tập trung hóa, linh hoạt, và không buộc phải theo tôn ti thứ bậc
đang nổi lên. Các thị trường được dỡ bỏ các quy định điều tiết, và phong trào
giai cấp công nhân bị đè nén gay gắt cả về phương diện luật pháp lẫn
phương diện chính trị. Lòng trung thành giai cấp truyền thống bị suy yếu,
trong khi đó những bản sắc địa phương, giới tính và sắc tộc ngày càng nổi
lên mạnh mẽ. Chính trị ngày càng bị thâu tóm và lũng đoạn.
Công nghệ thông tin mới đóng vai trò chủ đạo trong việc đẩy nhanh quá
trình toàn cầu hóa của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhất là khi một nhóm công
ty xuyên quốc gia chi phối sản xuất và đầu tư trên khắp hành tinh nhằm tìm
kiếm lợi nhuận nhanh nhất. Nhiều cơ sở sản xuất được chuyển đến những
nơi có nguồn nhân công rẻ tại các quốc gia “kém phát triển”, khiến một số
người phương Tây đầu óc thiển cận vội vã kết luận rằng, giờ đây ngành công
nghiệp nặng đã biến mất khỏi hành tinh này. Tiếp sau sự lưu động mang tính
toàn cầu này là luồng lao động di cư xuyên quốc gia, kéo theo đó là sự trỗi
dậy của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa phát xít khi dòng người
nhập cư nghèo khổ đổ xô đến những nền kinh tế phát triển cao. Trong lúc
các quốc gia “ngoại vi” đang phải đối phó với điều kiện lao động cơ cực, các
tài liệu sản xuất bị tư hữu hóa, chế độ phúc lợi bị cắt giảm và gánh chịu
những điều kiện thương mại bất bình đẳng quái ác, thì các vị giám đốc điều
hành đến từ các nước giàu nới lỏng cà vạt, để phanh cổ áo, gặm nhấm sức
khỏe tinh thần của nhân viên.
Đã chẳng xảy ra điều gì khi hệ thống TB đang trong thời kỳ sung sức và
vô tư. Nhưng những biểu hiện hung hãn như gần đây, cũng giống như hầu
hết các hình thức gây hấn khác, có nguyên nhân từ sự lo lắng sâu xa bên
trong. Nếu như hệ thống tư bản chủ nghĩa trở nên buồn vui thất thường, thì
đó là vì sức khỏe của nó đang âm thầm suy nhược. Sự bùng nổ thời hậu
chiến đột ngột biến mất đã dẫn đến sự thay đổi tổ chức này. Cạnh tranh quốc
tế gia tăng khiến tỷ lệ lợi nhuận giảm sút, vắt kiệt các nguồn đầu tư và làm
chậm tỷ lệ tăng trưởng. Thậm chí nền dân chủ xã hội giờ đây cũng trở thành
một sự lựa chọn chính trị quá cực đoan và đắt đỏ. Do đó, vị trí sân khấu đã
phải nhường cho Reagan và Thatcher, những nhân vật góp phần dỡ bỏ các
nhà máy sản xuất truyền thống, kìm kẹp phong trào lao động, cho phép thị
trường nhả phanh chạy hết tốc lực, củng cố hơn nữa cánh tay trấn áp của nhà
nước và ủng hộ nhiệt thành một thứ triết lý xã hội mới được biết đến là thói
tham lam trơ tráo. Đầu tư cho sản xuất được thay bằng đầu tư vào ngành
dịch vụ, tài chính và truyền thông chính là cách phản ứng trước tình trạng
khủng hoảng kinh tế kéo dài, chứ không phải là một cú nhảy vọt từ một thế
giới cũ kỹ xấu xa sang một thế giới mới mát mẻ và dũng cảm.
Tuy nhiên, khó có thể tin rằng, hầu hết những người theo quan điểm cấp
tiến trong thời kỳ từ những năm 1970 đến những năm 1980 thay đổi suy nghĩ
của mình về hệ thống tư bản chủ nghĩa chỉ đơn giản vì các nhà máy dệt vải
ngày càng ít đi. Đó không phải là lý do khiến họ từ bỏ chủ nghĩa Mác mà
chính là niềm tin rằng không dễ gì phá dỡ được cái chính thể mà họ đang đối
mặt. Cái mang tính quyết định không phải là những ảo tưởng về chủ nghĩa tư
bản mới, mà chính là sự vỡ mộng về khả năng thay đổi chủ nghĩa tư bản.
Chắc chắn có nhiều người một thời đi theo chủ nghĩa xã hội từng biện hộ
cho nỗi u uất của mình bằng cách tuyên bố rằng, nếu như chủ nghĩa tư bản
không thay đổi được, thì việc gì phải làm điều đó. Tuy nhiên, lý do vẫn là ở
chỗ thiếu niềm tin vào một sự thay đổi có khả năng thuyết phục. Do phong
trào giai cấp công nhân bị bóp méo và thấm đẫm máu, phe chính trị cánh tả
thoái lui mạnh mẽ, tương lai dường như đã biến mất không còn dấu vết. Đối
với một số người cánh tả, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 đã khiến họ thực sự tỉnh ngộ.
Không phải tự nhiên mà trào lưu cấp tiến thành công nhất kỷ nguyên hiện
đại (chủ nghĩa dân tộc cách mạng) vào thời điểm này cũng hoàn toàn suy
kiệt. Cái đã sản sinh ra văn hóa hậu hiện đại và sự phủ nhận của nó đối với
cái gọi là đại luận thuyết (grand narratives) và lời tuyên bố hào hùng về “Sự
kết thúc của Lịch sử” chính là sự tin chắc rằng giờ đây tương lai là nhiều thứ
hơn hiện tại. Hoặc, như một nhà hậu hiện đại cởi mở từng nói: “Hiện tại
cộng với nhiều sự lựa chọn hơn”.
Vậy thì, nguyên nhân gây mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác trên hết là sự
cảm nhận dần dần về căn bệnh bất lực chính trị. Khó mà giữ được niềm tin
vào sự thay đổi khi sự thay đổi không nằm trong chương trình hành động,
thậm chí là càng khó khi người ta cần phải duy trì niềm tin bằng mọi giá.
Cuối cùng, nếu như không tránh được sự tất yếu hiển nhiên thì chúng ta sẽ
không bao giờ biết được cái tất yếu sẽ tất yếu như thế nào. Nếu những kẻ
nhát gan cố bám víu vào các luận điểm trước đây của họ trong hai thập niên
nữa, họ có lẽ sẽ chứng kiến một chủ nghĩa tư bản thật hả hê, đắc chí và vững
chắc đến nỗi mà vào năm 2008, nó chỉ việc tiếp tục cho những máy rút tiền
tự động hoạt động trên các đại lộ xa hoa. Những kẻ nhát gan ấy còn được
chứng kiến cả một châu lục phía nam Kênh đào Panama chuyển hẳn sang
phía chính trị cánh tả. Giờ đây “Sự kết thúc của Lịch sử” đang ở điểm kết
thúc. Dù thế nào đi nữa thì người Mác-xít cũng cần phải làm quen với thất
bại. Thực ra họ đã từng chứng kiến những kết cục còn thê thảm hơn thế
nhiều. Lợi thế chính trị luôn ở về phía chế độ cầm quyền, nếu chỉ vì họ có
nhiều xe tăng hơn là ta có. Tuy nhiên những viễn tưởng nóng vội và hy vọng
sục sôi những năm cuối thập kỷ 1960 đã khiến cho sự suy sụp này trở thành
một liều thuốc đắng khó nuốt đối với những người từng kinh qua thời kỳ đó.
Do đó, điều khiến cho chủ nghĩa Mác có vẻ không còn hợp lý không phải
là ở chỗ chủ nghĩa tư bản đã thay hình đổi dạng. Vấn đề ở đây hoàn toàn
ngược lại. Thực tế là hệ thống tư bản chủ nghĩa vẫn đang hoạt động bình
thường, thậm chí là còn tốt hơn bình thường. Điều nực cười là chính những
cái tưởng như giúp đả phá chủ nghĩa Mác lại cũng làm tăng thêm niềm tin
vào những khẳng định của chủ nghĩa Mác. Nó được đẩy đến cực điểm bởi vì
trật tự xã hội mà chủ nghĩa Mác đương đầu, thay vì trở nên nhân từ và ôn
hòa hơn, thì lại trở thành tàn nhẫn và cực đoan hơn bao giờ hết. Và chính
điều này làm cho sự phê phán của Các Mác đối với toàn bộ hệ thống tư bản
chủ nghĩa thành đúng đắn hơn. Xét trên quy mô toàn cầu, tư bản đã trở nên
bị tập trung nhiều hơn vào tay một số ít người và ngày càng mang tính chất
cướp bóc, còn giai cấp công nhân không ngừng tăng lên về số lượng. Hoàn
toàn có thể hình dung một tương lai mà ở đó những kẻ siêu giàu sống trong
những khu biệt thự kín cổng cao tường và được canh gác cẩn mật, trong khi
đó khoảng một tỷ người phải sống trong các khu nhà ổ chuột tồi tàn dơ dáy
với trạm gác và tường rào thép gai bao quanh. Trong tình cảnh đó, tuyên bố
rằng chủ nghĩa Mác đã kết thúc chẳng khác gì lời tuyên bố rằng công việc
cứu hỏa là hết thời bởi vì những kẻ phóng hỏa đã trở nên cực kỳ khôn ngoan
và xảo quyệt.
Như Các Mác tiên đoán, bất bình đẳng thu nhập trong thời đại của chúng
ta đã tăng lên mạnh mẽ. Thu nhập của một tỷ phú người Mexico ngày nay
tương đương với số tiền kiếm được của 17 triệu đồng bào nghèo khổ nhất
của ông ta. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự thịnh vượng hơn bao giờ hết mà
lịch sử nhân loại từng chứng kiến, nhưng cái giá phải trả là vô cùng lớn, nhất
là khi nói đến cảnh bĩ cực của hàng tỷ con người. Theo Ngân hàng Thế giới,
trong năm 2001 đến 2,74 tỷ người sống dựa vào mức thu nhập dưới 2 đôla
mỗi ngày. Chúng ta đang đối diện với một tương lai gần như là chắc chắn mà
ở đó các quốc gia có vũ khí hạt nhân gây chiến để giành giật những nguồn
tài nguyên ngày một khan hiếm. Mà sự khan hiếm tài nguyên ấy lại chính là
hệ quả của chủ nghĩa tư bản. Và lần đầu tiên trong lịch sử, dạng thức sống
đang phổ biến của chúng ta có sức mạnh không chỉ sản sinh ra chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, làm lan rộng tình trạng ngu si văn hóa, đẩy chúng ta vào
các cuộc chiến tranh hay xua chúng ta vào các trại tập trung, mà còn quét
sạch chúng ta ra khỏi hành tinh này. Chủ nghĩa tư bản sẽ sẵn sàng chống lại
xã hội nếu như điều đó mang lại lợi nhuận, và điều đó giờ đây có nghĩa là sự
hủy diệt nhân loại trên một quy mô khôn lường. Cái điều từng bị coi là ý
tưởng khải huyền không có thực thì ngày nay lại đơn giản là một chủ nghĩa
hiện thực nghiêm túc. Khẩu hiệu truyền thống của phe cánh tả “chủ nghĩa xã
hội hay là sự man rợ” chưa bao giờ tỏ ra thích hợp xác đáng hon cũng chưa
bao giờ thiếu đi sự khoa trương khoe mẽ. Trong những điều kiện khốn cùng
này, như Fredric James đã viết: “Chủ nghĩa Mác dứt khoác lại phải
đúng”[2]. Bất bình đẳng một cách lạ kỳ về của cải và quyền lực, chiến tranh
ngang ngược, sự bóc lột thậm tệ, và một nhà nước hà khắc, thô bạo: nếu như
tất cả những đặc điểm này mô tả thế giới ngày nay, thì đó cũng chính là
những vấn đề mà chủ nghĩa Mác đã từng đề cập và lên án trong gần hai thế
kỷ. Vậy thì có thể cho rằng vẫn còn một vài bài học để giáo dục hiện tại. Bản
thân Các Mác từng ấn tượng mạnh mẽ với diễn biến bạo lực kinh hoàng khi
tầng lớp lao động thành thị bị cưỡng ép, bị nhổ bật gốc rễ nông dân tại nước
Anh nơi ông sinh sống - một quá trình mà Brazil, Trung Quốc, Nga và Ấn
Độ hiện đang phải trải qua. Tristram Hunt viết rằng tác phẩm Hành tinh ổ
chuột của Mike Davis, một cuốn sách kể về “những núi phân hôi thối” quá
quen thuộc với những khu ổ chuột ngày nay ở Lagos hay Dhaka, có thể xem
như một phiên bản mới cho tác phẩmTình cảnh giai cấp công nhân Anh (The
Condition of the Working Class) của Ph.Ăng-ghen. Khi Trung Quốc biến
thành công xưởng của thế giới, thì như Hunt bình luận: “những đặc khu kinh
tế ở Quảng Đông và Thượng Hải lại gợi nhớ đến Manchester và Glasgow
của thời những năm 1840”[3].
Vậy điều gì xảy ra nếu như không phải chủ nghĩa Mác lỗi thời mà chính
chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời? Quay trở lại nước Anh thời Victoria, Các Mác
đã nhìn thấy sự suy tàn của chế độ. Sau khi thúc đẩy sự xã hội phát triển ở
thời hoàng kim của mình, chủ nghĩa tư bản ngày nay trở nên lề mề, chậm
chạp đi theo sau sự phát triển xã hội. Các Mác coi xã hội tư bản đầy những
thứ hão huyền, hoang đường và sùng bái, cho dù nó tự hào nhiều về tính hiện
đại của mình. Chính sự khai sáng của chủ nghĩa tư bản – niềm tin đầy tự
mãn vào tính hợp lý vượt trội của nó – cũng chỉ là một thứ mê tín. Nếu chủ
nghĩa tư bản có thể có những tiến bộ đáng kinh ngạc nào đó, thì sẽ có một
cảm nhận khác rằng chẳng qua nó buộc phải cố hết sức chỉ để tồn tại, Các
Mác đã từng nhận xét rằng, giới hạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản chính là
tư bản, và quá trình tái sản xuất không ngừng của tư bản là ranh giới mà chủ
nghĩa tư bản không thể vượt qua. Bởi vậy, vẫn có cái gì đó tĩnh lặng và lặp
đi lặp lại một cách đáng ngờ về chính cái hệ thống năng động nhất trong mọi
hình thái xã hội tồn tại trong lịch sử. Cái thực tế rằng cơ sở logic chống đỡ
cho chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi chính là lý do vì sao sự phê phán
của Các Mác đối với chủ nghĩa tư bản vẫn có giá trị đến tận ngày nay. Chỉ
khi nào chủ nghĩa tư bản thực sự có khả năng phá vỡ những giới hạn của
chính nó, đồng thời mở đường cho những gì thật sự mới mẻ, thì sự từ bỏ học
thuyết Mác mới trở thành hiện thực. Thế nhưng chủ nghĩa tư bản không thể
tạo dựng được một tương lai mà không tái sản sinh hiện tại của nó theo đúng
trình tự. Và rõ ràng, sẽ còn nhiều lựa chọn khác nữa.
Chủ nghĩa tư bản đã đem lại những thành tựu vật chất khổng lồ. Mặc dù
cách tổ chức sắp xếp đời sống này đã có thời gian dài để chứng tỏ khả năng
thỏa mãn mọi nhu cầu của con người, thì nay dường như nó không còn làm
được điều đó nữa. Vậy chúng ta phải chờ đợi bao lâu nữa để chủ nghĩa tư
bản thực hiện cam kết của mình? Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục thỏa mãn với
câu chuyện hoang đường rằng sự giàu có thần kỳ được tạo ra bởi phương
thức sản xuất này sẽ đến với tất cả mọi người vào thời điểm thích hợp? Liệu
thế giới có đối xử với những tuyên bố tương tự của những người cực tả bằng
sự độ lượng ôn hòa theo kiểu chúng ta hãy chờ xem sao? Những người cánh
hữu từng thừa nhận rằng sẽ luôn có những bất công lớn tồn tại ngay trong
lòng hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhưng muốn có những thay đổi thì rất khó
và biết đâu lại trở nên tồi tệ hơn. Chí ít những người theo quan niệm này vẫn
còn trung thực hơn là những kẻ chỉ biết xưng tụng rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt
đẹp. Nếu ngẫu nhiên đã có cả người giàu và người nghèo, cũng như ngẫu
nhiên có cả người da đen và người da trắng, thì những lợi thế của sự giàu
sang sẽ có thể lan truyền kịp thời tới nơi khốn khó. Thế nhưng nếu nói rằng
có những người nghèo túng và có cả những người giàu có thì thật chẳng
khác nào nói rằng thế giới này có cả cảnh sát lẫn tội phạm. Mà thực tế là như
vậy, nhưng việc đó che đậy một sự thật rằng, có cảnh sát là bởi vì có những
tên tội phạm.
[1] Mặc dù một số nhà Marxist vẫn nghi ngờ tầm quan trọng về những
thay đổi này. Chẳng hạn như Alex Callinicos trong tác phẩm Against
Postmodernism, Cambridge, 1989, Chương 5.
[2] Fredric Jameson: Hệ tư tưởng của học thuyết (The Ideologies of
Theory), London, 2008, p.514."
[3] Tristram Hunt: “War of the Words”, Guardian, 9 May 2009.
CHƯƠNG 2
CHỦ NGHĨA MÁC LÀ ĐỘC TÀI, BẠO LỰC?
PHẢN BÁC:
Chủ nghĩa Mác có thể rất đúng đắn về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, khi đi
vào thực tiễn thì kết quả lại là khủng bố, độc tài và giết người hàng loạt
trên quy mô chưa từng có. Chủ nghĩa Mác có thể là một tư tưởng tốt đẹp
đối với những học giả phương Tây giàu có – những người coi tự do và
dân chủ là một lẽ đương nhiên. Nhưng đối với hàng triệu người bình
thường, nó lại có nghĩa là đói nghèo, khổ sở, hành hạ, lao động cưỡng
bức, một nền kinh tế đổ vỡ và một nhà nước áp bức nặng nề. Những
người bất chấp tất cả vẫn tiếp tục ủng hộ học thuyết này là những người
ngu dốt, đáng khinh hoặc tự lừa dối mình. Chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa
với thiếu tự do, nó còn đồng nghĩa với thiếu hàng hóa vật chất, bởi vì đây
chắc chắn là hậu quả của việc xóa bỏ thị trường.
BIỆN GIẢI:
Rất nhiều người phương Tây ủng hộ nhiệt tình cho những tổ chức vô
danh. Những người theo đạo Thiên Chúa chẳng hạn. Không có gì lạ khi
những người tử tế giàu lòng trắc ẩn ủng hộ toàn bộ sự khai hóa văn minh
ngập chìm trong máu. Những người tự do, những người bảo thủ cùng với rất
nhiều người khác nữa cũng vậy. Những nước tư bản hiện đại là kết quả của
một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách đáng ghê tởm –
hơn cả Trung Quốc thời kỳ của Mao hay Liên Xô thời kỳ của Stalin. Chủ
nghĩa tư bản cũng được tôi luyện trong máu và nước mắt; chỉ có điều nó đã
tồn tại đủ lâu để quên đi nỗi khủng khiếp ấy, thế nhưng chủ nghĩa Stalin và
chủ nghĩa Mao lại không được như vậy. Nếu Các Mác được tha thứ cho sự
lãng quên này, một phần là do ông đã sống ở thời những chế độ đó vẫn chưa
được hình thành.
Mike Davis viết trong cuốn Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời
Victoria (Late Victorian Holocausts) về hàng chục triệu người Ấn Độ, châu
Phi, Trung Quốc, Brazil, Triều Tiên, Nga và rất nhiều nước khác chết do nạn
đói, hạn hán và dịch bệnh mà hoàn toàn có thể tránh được cuối thế kỷ XIX.
Phần nhiều những thảm họa này là kết quả của tín điều thị trường tự do, ví
dụ như giá ngũ cốc tăng vọt làm cho lương thực vượt ra ngoài khả năng của
những người bình thường. Nhưng tất cả những điều cổ quái đó không phải
cổ xưa như dưới thời Nữ hoàng Victoria. Trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ
XX, số người trên thế giới sống dưới 2 đôla một ngày đã tăng lên đến gần
một trăm triệu[1]. Ngày nay, cứ ba trẻ em ở Anh thì có một trẻ em sống dưới
mức đủ ăn, trong khi những người quản lý ngân hàng lại ngúng nguẩy khi
mức thưởng hàng năm của họ giảm xuống còn một triệu bảng.
Nói đúng ra thì chủ nghĩa tư bản cũng mang lại cho chúng ta những hàng
hóa quý giá bên cạnh những thứ ghê tởm. Không kể tầng lớp trung lưu mà
Các Mác ca ngợi hết lời, chúng ta có lẽ sẽ thiếu đi một di sản về tự do, dân
chủ, quyền công dân, chủ nghĩa nam nữ bình quyền, nền cộng hòa, tiến bộ
khoa học và nhiều thứ khác nữa, cũng như thiếu một lịch sử về đình trệ kinh
tế, bóc lột sức lao động, chủ nghĩa phát xít, chiến tranh đế quốc và tài tử điện
ảnh Mel Gibson. Nhưng cái được gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa cũng có
những thành tựu của nó. Trung Quốc và Liên Xô đã đưa những công dân của
mình ra khỏi lạc hậu kinh tế để đến với thế giới công nghiệp hiện đại, nhưng
lại bằng cái giá khủng khiếp về con người; và cái giá lớn như vậy một phần
là do thái độ thù địch của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Thái độ thù địch đó
cũng đã buộc Liên Xô phải chạy đua vũ trang, làm cho nền kinh tế ốm yếu
của nước này lụn bại hơn, và cuối cùng sụp đổ.
Nhưng trong khi đó, cùng với các nước vệ tinh của mình, Liên Xô đã cố
gắng đạt được nhà ở, nhiên liệu, giao thông và văn hóa giá rẻ, việc làm đầy
đủ và những dịch vụ xã hội ấn tượng cho một nửa dân số châu Âu, cũng như
một mức độ công bằng và đầy đủ về vật chất mà không một quốc gia nào
trong số đó trước đây có thể sánh được. Nước Đông Đức cộng sản có thể
kiêu hãnh về một trong những hệ thống chăm sóc trẻ em tốt nhất thế giới.
Liên Xô giữ một vai trò quan trọng trong việc chống lại chủ nghĩa phát xít
tàn bạo, đồng thời làm lung lay các cường quốc thực dân. Nó cũng tăng
cường sự đoàn kết giữa các công dân của mình mà các quốc gia phương Tây
dường như chỉ có thể giành được khi họ giết chóc người bản xứ ở những
mảnh đất khác. Nói đúng ra thì tất cả những cái đó không thay thế được tự
do, dân chủ và rau tươi trong cửa hàng, nhưng không thể bỏ qua những giá
trị đó. Khi mà tự do và dân chủ cuối cùng là cứu cánh cho khối Xô viết, thì
họ đã làm điều này dưới hình thức một liệu pháp sốc kinh tế, một dạng cướp
ngày được gọi một cách mĩ miều là tư nhân hóa, khiến hàng chục triệu người
thất nghiệp, nghèo đói và bất bình đẳng tăng nhanh một cách lạ lùng, dịch vụ
chăm sóc trẻ em miễn phí biến mất, phụ nữ bị mất quyền bình đẳng, mạng
lưới phúc lợi xã hội sụp đổ, những thứ mà trước đây đã phục vụ rất tốt cho
những đất nước này.
Mặc dù vậy, thành tựu của chủ nghĩa cộng sản không thể bù đắp được
những mất mát. Có thể, một hình thức nhà nước độc tài nào đó là không thể
tránh khỏi trong tình trạng t...
Điều đó không phải để nói rằng Các Mác không bao giờ sai lầm. Tôi
không phải thuộc tuýp người cánh tả thường tuyên bố một cách cuồng tín
rằng mọi việc đều cần được phê phán, để rồi khi được yêu cầu đưa ra ba phê
bình quan trọng về Các Mác thì lại ậm ừ nín lặng. Việc bản thân tôi nghi ngờ
một vài tư tưởng của ông sẽ được thấy rõ qua cuốn sách này. Nhưng Các
Mác đã đúng thời đó về những vấn đề quan trọng khiến cho việc tự gọi mình
là một người mác xít trở nên hợp lý. Không người nào theo học thuyết Freud
hình dung rằng Freud không bao giờ sai lầm, cũng như không có người hâm
mộ Alfred Hitchcock nào lại không bảo vệ mọi lời thoại trong kịch bản của
vị đạo diễn bậc thầy đó. Tôi đang cố gắng diễn tả những tư tưởng của Các
Mác không phải là hoàn hảo nhưng đáng tin cậy. Để chứng minh điều này,
tôi nêu ra trong cuốn sách 10 phê phán phổ biến nhất về Các Mác, không sắp
xếp theo thứ tự tầm quan trọng mà tôi chỉ cố gắng phản bác từng ý kiến phê
phán một. Theo cách này tôi cũng mong muốn giới thiệu một cách rõ ràng và
dễ tiếp cận tư tưởng của ông cho những ai chưa biết tác phẩm của ông. Cuốn
sách này có căn nguyên từ một tư tưởng duy nhất và nổi bật: Sẽ ra sao nếu
hầu hết những phản bác quen thuộc về tác phẩm của Các Mác là sai? Hay ít
ra nếu không phải là hoàn toàn cố chấp thì cũng gần như là vậy?
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã được mô tả là “không nghi ngờ gì, đó
là tác phẩm duy nhất có ảnh hưởng nhất được viết ra trong thế kỷ XIX”[1].
Hầu như không một nhà tư tưởng nào, không một nhà chính trị, khoa học,
quân sự, truyền giáo… nào lại làm thay đổi được tiến trình lịch sử một cách
rõ ràng như tác giả của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Không một chính
phủ nào theo chủ thuyết Đề các, không có thủ lĩnh du kích nào theo chủ
nghĩa Platon hay không công đoàn nào theo luận thuyết của Hê-ghen, thậm
chí không một nhà phê bình Các Mác quyết liệt nhất nào lại phủ nhận rằng
ông đã làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về lịch sử loài người. Nhà tư
tưởng chống chủ nghĩa xã hội Ludwig von Mises đã mô tả chủ nghĩa xã hội
là “phong trào cải cách mạnh mẽ nhất mà lịch sử đã từng chứng kiến,
khuynh hướng tư tưởng đầu tiên không chỉ bó hẹp trong một bộ phận nhân
loại mà được ủng hộ bởi người dân đủ mọi sắc tộc, quốc gia, tín ngưỡng và
nền văn minh”[2]. Thế nhưng có một quan niệm lạ kỳ được lưu truyền rộng
rãi cho rằng Các Mác và lý thuyết của ông giờ đây đã được yên nghỉ - và
điều này lại xuất hiện trước một trong những khủng hoảng mang tính hủy
diệt nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay
vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất
về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa, thì giờ đây bằng lòng trở
về dĩ vãng.
Cuộc khủng hoảng đó ít ra cũng có nghĩa rằng cụm từ chủ nghĩa tư bản
thường được ngụy trang dưới những mĩ từ như “kỷ nguyên hiện đại”, “chủ
nghĩa công nghiệp” hay “phương Tây”, lại một lần nữa trở nên thịnh hành.
Bạn có thể nói hệ thống còn là điều tự nhiên như không khí chúng ta hít thở,
mà thay vào đó có thể được coi là một hiện tượng khá mới về mặt lịch sử.
Hơn nữa, bất cứ những gì được sinh ra cũng luôn có thể chết đi, đó là lý do
tại sao các hệ thống xã hội luôn muốn thể hiện mình tồn tại bất diệt. Cũng
giống như cơn sốt xuất huyết khiến bạn có được nhận biết mới về cơ thể của
mình, thì một dạng thức của đời sống xã hội có thể được nhận biết nó như
thế nào khi nó bắt đầu đổ vỡ. Các Mác là người đầu tiên nhận biết được đối
tượng lịch sử được biết đến là chủ nghĩa tư bản – chứng minh nó xuất hiện
như thế nào, hoạt động theo quy luật nào và có thể đi đến chỗ kết thúc ra sao.
Cũng giống như Newton đã phát hiện ra những sức mạnh vô hình được biết
đến là luật vạn vật hấp dẫn, hay Freud đã chỉ ra hoạt động của một hiện
tượng vô hình được gọi là vô thức, Các Mác đã khám phá cuộc sống hàng
ngày của chúng ta để phát hiện một thực thể chưa từng được nhận biết gọi
là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong cuốn sách này, tôi không nói về chủ nghĩa Mác với tư cách là sự
phê phán văn hóa hay đạo đức. Bởi vì nói chung điều đó không đặt ra sự
phản bác đối với chủ nghĩa Mác và do đó nó cũng không phù hợp với dự
định của tôi. Tuy nhiên, theo tôi, kho tàng những tác phẩm đồ sộ và phong
phú một cách phi thường của Các Mác theo nghĩa này bản thân nó đã đủ là
lý do để gắn bó với di sản của Các Mác. Sự xa lánh, “hàng hóa hóa” đời
sống xã hội, một văn hóa tham lam, xâm lược, chủ nghĩa khoái lạc vô tâm và
thuyết hư vô ngày càng phát triển, sự chảy máu không ngừng về ý nghĩa và
giá trị từ sự tồn tại của con người: rất khó có thể tìm thấy sự thảo luận thông
minh về những vấn đề này mà không mang ơn sâu sắc truyền thống mác xít.
Trong buổi đầu của chủ nghĩa nam nữ bình quyền, một số người trở nên
vụng về nếu những tác giả nam giới có thiện chí trước đây thường viết: “Khi
tôi nói “đàn ông” (men) dĩ nhiên tôi muốn nói “đàn ông và đàn bà” (men and
women). Vậy tôi cũng muốn nói một cách tương tự là khi tôi nói Các Mác,
tôi cũng thường muốn nói tới Các Mác và Ph.Ăng-ghen. Nhưng mối quan hệ
giữa hai ông là một câu chuyện khác.
Tôi rất biết ơn Alex Callinicos, Philip Carpenter và Ellen Meiksins
Wood, những người đã đọc bản thảo cuốn sách này và đã có những phê bình
và gợi ý vô giá.
Đinh Xuân Hà và Phương Sơn dịch
1] Peter Osborne, in Leo Panich and Colin Leys (eds.): The Communist
Manifesto Now: Socialist Register, New York, 1998, p.190.
[2] Robin Blackburn: “Fin de Siècle: Socialism after the Crash”, New
Left Review, no.185 (January/February 1991), p.7.
CHƯƠNG 1
CHỦ NGHĨA MÁC ĐÃ LỖI THỜI?
PHẢN BÁC:
Chủ nghĩa Mác đã kết thúc. Từng có thời chủ nghĩa Mác được coi là
phù hợp với một thế giới của những nhà máy, những cuộc bạo loạn vì đói
kém, những người công nhân mỏ, thợ nạo ống khói, sự khốn cùng tràn
lan và đông đảo giai cấp lao động. Và tất nhiên nó chẳng ăn nhập gì với
xã hội phương Tây hậu hiện đại ngày càng không còn giai cấp và dễ dàng
biến đổi về mặt xã hội như ngày nay. Chủ nghĩa Mác chỉ là một thứ giáo
điều của những kẻ cố chấp, sợ hãi hoặc bị lừa dối, không dám thừa nhận
rằng thế giới ngày nay đã và đang thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn, cả về
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
BIỆN GIẢI:
Chủ nghĩa Mác đã kết thúc có vẻ như là một âm thanh dễ chịu đối với
những người Mác-xít bất cứ nơi đâu. Họ có thể thôi tuần hành và bãi công,
quay trở về với sự che chở, đùm bọc của gia đình vẫn đầy ưu tư phiền muộn,
an nhàn tận hưởng mỗi buổi tối ở nhà thay vì phải tham gia những buổi hội
họp tẻ nhạt. Người Mác-xít giờ đây chẳng mong gì hơn là không còn Mácxít nữa. Trở thành một người Mác-xít thật chẳng khác nào một Phật tử hay là
một tỷ phú vậy. Không những thế, một người Mác-xít còn như một thầy
thuốc chuyên làm phúc. Nghĩa là người đó phải là người thật kiên trì, bền
chí, thật chuyên tâm vào công việc cứu chữa người bệnh để rồi sau khi bệnh
khỏi thì chẳng còn ai cần đến họ nữa. Cũng giống như vậy, sứ mệnh của các
chính trị gia giáo điều là đi đến cái đích mà ở đó vai trò của họ không còn
cần thiết nữa do nhiệm vụ đã hoàn tất. Khi đó, họ có thể thoải mái rút lui, đốt
bỏ đi những tấm hình Che Guevara, cầm lại chiếc đàn vi-ô-lông-xen bị lãng
quên bao ngày tháng, cùng nhau đàm đạo về điều gì đó thú vị hơn là các
phương thức sản xuất Á châu. Giả sử trong 20 năm tới vẫn tồn tại đâu đó
những người Mác-xít hay những người theo thuyết nam nữ bình quyền thì đó
quả là một viễn cảnh đáng buồn. Chủ nghĩa Mác bao hàm một sứ mệnh chỉ
mang tính tạm thời mà giải thích tại sao bất kỳ ai từng cống hiến hết mình
cho nó cuối cùng cũng không hiểu được. Có một cuộc sống sau chủ nghĩa
Mác là toàn bộ giá trị của chủ nghĩa Mác.
Viễn cảnh làm say mê lòng người khác thường này có một vấn đề duy
nhất. Chủ nghĩa Mác là sự phê phán chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phê phán sâu
sắc, toàn diện và khắt khe nhất từ trước đến nay. Không những thế, chủ
nghĩa Mác còn là sự phê phán duy nhất làm thay đổi bộ phận lớn của thế
giới. Điều đó muốn nói rằng, chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại, thì chủ
nghĩa Mác cũng sẽ tồn tại. Đào thải đối thủ của mình là tự đào thải chính
mình. Trước khi biến mất, chủ nghĩa tư bản vẫn sẽ mạnh mẽ như xưa.
Hầu hết những phê phán của chủ nghĩa Mác ngày nay đều không tranh
luận về điểm này. Thay vào đó, họ tuyên bố rằng, hệ thống tư bản chủ nghĩa
đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của
Các Mác, và do đó những tư tưởng của Các Mác không còn phù hợp nữa.
Trước khi xem xét nhận định này một cách chi tiết, cần lưu ý rằng bản thân
Các Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống
mà ông phản bác. Chính nhờ có chủ nghĩa Mác mà chúng ta có được những
khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau của tư bản: tư bản thương mại,
nông nghiệp, công nghiệp, độc quyền, tài chính, đế quốc… Vậy thì tại sao
việc chủ nghĩa tư bản thay đổi bộ mặt của nó trong những thập niên gần đây
lại làm mất niềm tin vào một học thuyết vốn coi sự thay đổi là thuộc tính của
chủ nghĩa tư bản? Không những thế, Các Mác còn tiên đoán trước sự thu hẹp
lại của giai cấp công nhân và tự tăng lên mạnh mẽ của lao động cổ cồn.
Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở phần sau. Các Mác thậm chí còn nhìn thấy
trước được cái mà chúng ta gọi ngày nay là “toàn cầu hóa”. Đây quả thực là
một điều kỳ lạ đối với một người có tư tưởng bị coi là cổ xưa. Song có lẽ
chính phẩm chất “cổ xưa” của Các Mác đã khiến cho Các Mác vẫn còn giá
trị đến ngày nay. Các Mác bị lên án là lạc hậu bởi chính những người cổ xúy
cho một chủ nghĩa tư bản đang nhanh chóng quay trở lại mức độ bất bình
đẳng như dưới thời Victoria. Vào năm 1976, rất nhiều người ở phương Tây
đã nghĩ rằng chủ nghĩa Mác có cơ sở hợp lý. Nhưng đến năm 1986 nhiều
người trong số họ đã không còn nói như vậy nữa. Vậy thì chính xác điều gì
đã xảy ra? Phải chăng những con người này đã bị chết trên giàn thiêu của
những đứa trẻ chập chững biết đi? Phải chăng chủ nghĩa Mác giờ đây đã bị
phát hiện là nhảm nhí bởi một nghiên cứu mới nào đó gây chấn động thế
giới? Liệu chúng ta có tình cờ phát hiện ra một bản thảo của Các Mác bị thất
lạc từ bao lâu nay thú nhận rằng tất cả chỉ là trò đùa? Không phải chúng ta
giật mình khám phá ra rằng Các Mác làm thuê cho chủ nghĩa tư bản. Điều
này thì chúng ta ai cũng biết. Nếu chẳng có cái nhà máy dệt Ermen & Engels
ở Salford do cha của Ph.Ăng ghen làm chủ thì chắc hẳn Các Mác đã không
thể cho ra đời những bút chiến chống lại những chủ sản xuất bông vải.
Quả là có điều gì đó đã xảy ra trong giai đoạn này. Kể từ giữa những
năm 1970 trở lại đây, hệ thống phương Tây đã trải qua những thay đổi quan
trọng[1]. Đó là sự chuyển đổi từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang nền
văn hóa “hậu công nghiệp” trong đó bao gồm chủ nghĩa tiêu dùng, truyền
thông, công nghệ thông tin và ngành dịch vụ. Những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ, phi tập trung hóa, linh hoạt, và không buộc phải theo tôn ti thứ bậc
đang nổi lên. Các thị trường được dỡ bỏ các quy định điều tiết, và phong trào
giai cấp công nhân bị đè nén gay gắt cả về phương diện luật pháp lẫn
phương diện chính trị. Lòng trung thành giai cấp truyền thống bị suy yếu,
trong khi đó những bản sắc địa phương, giới tính và sắc tộc ngày càng nổi
lên mạnh mẽ. Chính trị ngày càng bị thâu tóm và lũng đoạn.
Công nghệ thông tin mới đóng vai trò chủ đạo trong việc đẩy nhanh quá
trình toàn cầu hóa của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhất là khi một nhóm công
ty xuyên quốc gia chi phối sản xuất và đầu tư trên khắp hành tinh nhằm tìm
kiếm lợi nhuận nhanh nhất. Nhiều cơ sở sản xuất được chuyển đến những
nơi có nguồn nhân công rẻ tại các quốc gia “kém phát triển”, khiến một số
người phương Tây đầu óc thiển cận vội vã kết luận rằng, giờ đây ngành công
nghiệp nặng đã biến mất khỏi hành tinh này. Tiếp sau sự lưu động mang tính
toàn cầu này là luồng lao động di cư xuyên quốc gia, kéo theo đó là sự trỗi
dậy của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa phát xít khi dòng người
nhập cư nghèo khổ đổ xô đến những nền kinh tế phát triển cao. Trong lúc
các quốc gia “ngoại vi” đang phải đối phó với điều kiện lao động cơ cực, các
tài liệu sản xuất bị tư hữu hóa, chế độ phúc lợi bị cắt giảm và gánh chịu
những điều kiện thương mại bất bình đẳng quái ác, thì các vị giám đốc điều
hành đến từ các nước giàu nới lỏng cà vạt, để phanh cổ áo, gặm nhấm sức
khỏe tinh thần của nhân viên.
Đã chẳng xảy ra điều gì khi hệ thống TB đang trong thời kỳ sung sức và
vô tư. Nhưng những biểu hiện hung hãn như gần đây, cũng giống như hầu
hết các hình thức gây hấn khác, có nguyên nhân từ sự lo lắng sâu xa bên
trong. Nếu như hệ thống tư bản chủ nghĩa trở nên buồn vui thất thường, thì
đó là vì sức khỏe của nó đang âm thầm suy nhược. Sự bùng nổ thời hậu
chiến đột ngột biến mất đã dẫn đến sự thay đổi tổ chức này. Cạnh tranh quốc
tế gia tăng khiến tỷ lệ lợi nhuận giảm sút, vắt kiệt các nguồn đầu tư và làm
chậm tỷ lệ tăng trưởng. Thậm chí nền dân chủ xã hội giờ đây cũng trở thành
một sự lựa chọn chính trị quá cực đoan và đắt đỏ. Do đó, vị trí sân khấu đã
phải nhường cho Reagan và Thatcher, những nhân vật góp phần dỡ bỏ các
nhà máy sản xuất truyền thống, kìm kẹp phong trào lao động, cho phép thị
trường nhả phanh chạy hết tốc lực, củng cố hơn nữa cánh tay trấn áp của nhà
nước và ủng hộ nhiệt thành một thứ triết lý xã hội mới được biết đến là thói
tham lam trơ tráo. Đầu tư cho sản xuất được thay bằng đầu tư vào ngành
dịch vụ, tài chính và truyền thông chính là cách phản ứng trước tình trạng
khủng hoảng kinh tế kéo dài, chứ không phải là một cú nhảy vọt từ một thế
giới cũ kỹ xấu xa sang một thế giới mới mát mẻ và dũng cảm.
Tuy nhiên, khó có thể tin rằng, hầu hết những người theo quan điểm cấp
tiến trong thời kỳ từ những năm 1970 đến những năm 1980 thay đổi suy nghĩ
của mình về hệ thống tư bản chủ nghĩa chỉ đơn giản vì các nhà máy dệt vải
ngày càng ít đi. Đó không phải là lý do khiến họ từ bỏ chủ nghĩa Mác mà
chính là niềm tin rằng không dễ gì phá dỡ được cái chính thể mà họ đang đối
mặt. Cái mang tính quyết định không phải là những ảo tưởng về chủ nghĩa tư
bản mới, mà chính là sự vỡ mộng về khả năng thay đổi chủ nghĩa tư bản.
Chắc chắn có nhiều người một thời đi theo chủ nghĩa xã hội từng biện hộ
cho nỗi u uất của mình bằng cách tuyên bố rằng, nếu như chủ nghĩa tư bản
không thay đổi được, thì việc gì phải làm điều đó. Tuy nhiên, lý do vẫn là ở
chỗ thiếu niềm tin vào một sự thay đổi có khả năng thuyết phục. Do phong
trào giai cấp công nhân bị bóp méo và thấm đẫm máu, phe chính trị cánh tả
thoái lui mạnh mẽ, tương lai dường như đã biến mất không còn dấu vết. Đối
với một số người cánh tả, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 đã khiến họ thực sự tỉnh ngộ.
Không phải tự nhiên mà trào lưu cấp tiến thành công nhất kỷ nguyên hiện
đại (chủ nghĩa dân tộc cách mạng) vào thời điểm này cũng hoàn toàn suy
kiệt. Cái đã sản sinh ra văn hóa hậu hiện đại và sự phủ nhận của nó đối với
cái gọi là đại luận thuyết (grand narratives) và lời tuyên bố hào hùng về “Sự
kết thúc của Lịch sử” chính là sự tin chắc rằng giờ đây tương lai là nhiều thứ
hơn hiện tại. Hoặc, như một nhà hậu hiện đại cởi mở từng nói: “Hiện tại
cộng với nhiều sự lựa chọn hơn”.
Vậy thì, nguyên nhân gây mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác trên hết là sự
cảm nhận dần dần về căn bệnh bất lực chính trị. Khó mà giữ được niềm tin
vào sự thay đổi khi sự thay đổi không nằm trong chương trình hành động,
thậm chí là càng khó khi người ta cần phải duy trì niềm tin bằng mọi giá.
Cuối cùng, nếu như không tránh được sự tất yếu hiển nhiên thì chúng ta sẽ
không bao giờ biết được cái tất yếu sẽ tất yếu như thế nào. Nếu những kẻ
nhát gan cố bám víu vào các luận điểm trước đây của họ trong hai thập niên
nữa, họ có lẽ sẽ chứng kiến một chủ nghĩa tư bản thật hả hê, đắc chí và vững
chắc đến nỗi mà vào năm 2008, nó chỉ việc tiếp tục cho những máy rút tiền
tự động hoạt động trên các đại lộ xa hoa. Những kẻ nhát gan ấy còn được
chứng kiến cả một châu lục phía nam Kênh đào Panama chuyển hẳn sang
phía chính trị cánh tả. Giờ đây “Sự kết thúc của Lịch sử” đang ở điểm kết
thúc. Dù thế nào đi nữa thì người Mác-xít cũng cần phải làm quen với thất
bại. Thực ra họ đã từng chứng kiến những kết cục còn thê thảm hơn thế
nhiều. Lợi thế chính trị luôn ở về phía chế độ cầm quyền, nếu chỉ vì họ có
nhiều xe tăng hơn là ta có. Tuy nhiên những viễn tưởng nóng vội và hy vọng
sục sôi những năm cuối thập kỷ 1960 đã khiến cho sự suy sụp này trở thành
một liều thuốc đắng khó nuốt đối với những người từng kinh qua thời kỳ đó.
Do đó, điều khiến cho chủ nghĩa Mác có vẻ không còn hợp lý không phải
là ở chỗ chủ nghĩa tư bản đã thay hình đổi dạng. Vấn đề ở đây hoàn toàn
ngược lại. Thực tế là hệ thống tư bản chủ nghĩa vẫn đang hoạt động bình
thường, thậm chí là còn tốt hơn bình thường. Điều nực cười là chính những
cái tưởng như giúp đả phá chủ nghĩa Mác lại cũng làm tăng thêm niềm tin
vào những khẳng định của chủ nghĩa Mác. Nó được đẩy đến cực điểm bởi vì
trật tự xã hội mà chủ nghĩa Mác đương đầu, thay vì trở nên nhân từ và ôn
hòa hơn, thì lại trở thành tàn nhẫn và cực đoan hơn bao giờ hết. Và chính
điều này làm cho sự phê phán của Các Mác đối với toàn bộ hệ thống tư bản
chủ nghĩa thành đúng đắn hơn. Xét trên quy mô toàn cầu, tư bản đã trở nên
bị tập trung nhiều hơn vào tay một số ít người và ngày càng mang tính chất
cướp bóc, còn giai cấp công nhân không ngừng tăng lên về số lượng. Hoàn
toàn có thể hình dung một tương lai mà ở đó những kẻ siêu giàu sống trong
những khu biệt thự kín cổng cao tường và được canh gác cẩn mật, trong khi
đó khoảng một tỷ người phải sống trong các khu nhà ổ chuột tồi tàn dơ dáy
với trạm gác và tường rào thép gai bao quanh. Trong tình cảnh đó, tuyên bố
rằng chủ nghĩa Mác đã kết thúc chẳng khác gì lời tuyên bố rằng công việc
cứu hỏa là hết thời bởi vì những kẻ phóng hỏa đã trở nên cực kỳ khôn ngoan
và xảo quyệt.
Như Các Mác tiên đoán, bất bình đẳng thu nhập trong thời đại của chúng
ta đã tăng lên mạnh mẽ. Thu nhập của một tỷ phú người Mexico ngày nay
tương đương với số tiền kiếm được của 17 triệu đồng bào nghèo khổ nhất
của ông ta. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự thịnh vượng hơn bao giờ hết mà
lịch sử nhân loại từng chứng kiến, nhưng cái giá phải trả là vô cùng lớn, nhất
là khi nói đến cảnh bĩ cực của hàng tỷ con người. Theo Ngân hàng Thế giới,
trong năm 2001 đến 2,74 tỷ người sống dựa vào mức thu nhập dưới 2 đôla
mỗi ngày. Chúng ta đang đối diện với một tương lai gần như là chắc chắn mà
ở đó các quốc gia có vũ khí hạt nhân gây chiến để giành giật những nguồn
tài nguyên ngày một khan hiếm. Mà sự khan hiếm tài nguyên ấy lại chính là
hệ quả của chủ nghĩa tư bản. Và lần đầu tiên trong lịch sử, dạng thức sống
đang phổ biến của chúng ta có sức mạnh không chỉ sản sinh ra chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, làm lan rộng tình trạng ngu si văn hóa, đẩy chúng ta vào
các cuộc chiến tranh hay xua chúng ta vào các trại tập trung, mà còn quét
sạch chúng ta ra khỏi hành tinh này. Chủ nghĩa tư bản sẽ sẵn sàng chống lại
xã hội nếu như điều đó mang lại lợi nhuận, và điều đó giờ đây có nghĩa là sự
hủy diệt nhân loại trên một quy mô khôn lường. Cái điều từng bị coi là ý
tưởng khải huyền không có thực thì ngày nay lại đơn giản là một chủ nghĩa
hiện thực nghiêm túc. Khẩu hiệu truyền thống của phe cánh tả “chủ nghĩa xã
hội hay là sự man rợ” chưa bao giờ tỏ ra thích hợp xác đáng hon cũng chưa
bao giờ thiếu đi sự khoa trương khoe mẽ. Trong những điều kiện khốn cùng
này, như Fredric James đã viết: “Chủ nghĩa Mác dứt khoác lại phải
đúng”[2]. Bất bình đẳng một cách lạ kỳ về của cải và quyền lực, chiến tranh
ngang ngược, sự bóc lột thậm tệ, và một nhà nước hà khắc, thô bạo: nếu như
tất cả những đặc điểm này mô tả thế giới ngày nay, thì đó cũng chính là
những vấn đề mà chủ nghĩa Mác đã từng đề cập và lên án trong gần hai thế
kỷ. Vậy thì có thể cho rằng vẫn còn một vài bài học để giáo dục hiện tại. Bản
thân Các Mác từng ấn tượng mạnh mẽ với diễn biến bạo lực kinh hoàng khi
tầng lớp lao động thành thị bị cưỡng ép, bị nhổ bật gốc rễ nông dân tại nước
Anh nơi ông sinh sống - một quá trình mà Brazil, Trung Quốc, Nga và Ấn
Độ hiện đang phải trải qua. Tristram Hunt viết rằng tác phẩm Hành tinh ổ
chuột của Mike Davis, một cuốn sách kể về “những núi phân hôi thối” quá
quen thuộc với những khu ổ chuột ngày nay ở Lagos hay Dhaka, có thể xem
như một phiên bản mới cho tác phẩmTình cảnh giai cấp công nhân Anh (The
Condition of the Working Class) của Ph.Ăng-ghen. Khi Trung Quốc biến
thành công xưởng của thế giới, thì như Hunt bình luận: “những đặc khu kinh
tế ở Quảng Đông và Thượng Hải lại gợi nhớ đến Manchester và Glasgow
của thời những năm 1840”[3].
Vậy điều gì xảy ra nếu như không phải chủ nghĩa Mác lỗi thời mà chính
chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời? Quay trở lại nước Anh thời Victoria, Các Mác
đã nhìn thấy sự suy tàn của chế độ. Sau khi thúc đẩy sự xã hội phát triển ở
thời hoàng kim của mình, chủ nghĩa tư bản ngày nay trở nên lề mề, chậm
chạp đi theo sau sự phát triển xã hội. Các Mác coi xã hội tư bản đầy những
thứ hão huyền, hoang đường và sùng bái, cho dù nó tự hào nhiều về tính hiện
đại của mình. Chính sự khai sáng của chủ nghĩa tư bản – niềm tin đầy tự
mãn vào tính hợp lý vượt trội của nó – cũng chỉ là một thứ mê tín. Nếu chủ
nghĩa tư bản có thể có những tiến bộ đáng kinh ngạc nào đó, thì sẽ có một
cảm nhận khác rằng chẳng qua nó buộc phải cố hết sức chỉ để tồn tại, Các
Mác đã từng nhận xét rằng, giới hạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản chính là
tư bản, và quá trình tái sản xuất không ngừng của tư bản là ranh giới mà chủ
nghĩa tư bản không thể vượt qua. Bởi vậy, vẫn có cái gì đó tĩnh lặng và lặp
đi lặp lại một cách đáng ngờ về chính cái hệ thống năng động nhất trong mọi
hình thái xã hội tồn tại trong lịch sử. Cái thực tế rằng cơ sở logic chống đỡ
cho chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi chính là lý do vì sao sự phê phán
của Các Mác đối với chủ nghĩa tư bản vẫn có giá trị đến tận ngày nay. Chỉ
khi nào chủ nghĩa tư bản thực sự có khả năng phá vỡ những giới hạn của
chính nó, đồng thời mở đường cho những gì thật sự mới mẻ, thì sự từ bỏ học
thuyết Mác mới trở thành hiện thực. Thế nhưng chủ nghĩa tư bản không thể
tạo dựng được một tương lai mà không tái sản sinh hiện tại của nó theo đúng
trình tự. Và rõ ràng, sẽ còn nhiều lựa chọn khác nữa.
Chủ nghĩa tư bản đã đem lại những thành tựu vật chất khổng lồ. Mặc dù
cách tổ chức sắp xếp đời sống này đã có thời gian dài để chứng tỏ khả năng
thỏa mãn mọi nhu cầu của con người, thì nay dường như nó không còn làm
được điều đó nữa. Vậy chúng ta phải chờ đợi bao lâu nữa để chủ nghĩa tư
bản thực hiện cam kết của mình? Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục thỏa mãn với
câu chuyện hoang đường rằng sự giàu có thần kỳ được tạo ra bởi phương
thức sản xuất này sẽ đến với tất cả mọi người vào thời điểm thích hợp? Liệu
thế giới có đối xử với những tuyên bố tương tự của những người cực tả bằng
sự độ lượng ôn hòa theo kiểu chúng ta hãy chờ xem sao? Những người cánh
hữu từng thừa nhận rằng sẽ luôn có những bất công lớn tồn tại ngay trong
lòng hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhưng muốn có những thay đổi thì rất khó
và biết đâu lại trở nên tồi tệ hơn. Chí ít những người theo quan niệm này vẫn
còn trung thực hơn là những kẻ chỉ biết xưng tụng rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt
đẹp. Nếu ngẫu nhiên đã có cả người giàu và người nghèo, cũng như ngẫu
nhiên có cả người da đen và người da trắng, thì những lợi thế của sự giàu
sang sẽ có thể lan truyền kịp thời tới nơi khốn khó. Thế nhưng nếu nói rằng
có những người nghèo túng và có cả những người giàu có thì thật chẳng
khác nào nói rằng thế giới này có cả cảnh sát lẫn tội phạm. Mà thực tế là như
vậy, nhưng việc đó che đậy một sự thật rằng, có cảnh sát là bởi vì có những
tên tội phạm.
[1] Mặc dù một số nhà Marxist vẫn nghi ngờ tầm quan trọng về những
thay đổi này. Chẳng hạn như Alex Callinicos trong tác phẩm Against
Postmodernism, Cambridge, 1989, Chương 5.
[2] Fredric Jameson: Hệ tư tưởng của học thuyết (The Ideologies of
Theory), London, 2008, p.514."
[3] Tristram Hunt: “War of the Words”, Guardian, 9 May 2009.
CHƯƠNG 2
CHỦ NGHĨA MÁC LÀ ĐỘC TÀI, BẠO LỰC?
PHẢN BÁC:
Chủ nghĩa Mác có thể rất đúng đắn về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, khi đi
vào thực tiễn thì kết quả lại là khủng bố, độc tài và giết người hàng loạt
trên quy mô chưa từng có. Chủ nghĩa Mác có thể là một tư tưởng tốt đẹp
đối với những học giả phương Tây giàu có – những người coi tự do và
dân chủ là một lẽ đương nhiên. Nhưng đối với hàng triệu người bình
thường, nó lại có nghĩa là đói nghèo, khổ sở, hành hạ, lao động cưỡng
bức, một nền kinh tế đổ vỡ và một nhà nước áp bức nặng nề. Những
người bất chấp tất cả vẫn tiếp tục ủng hộ học thuyết này là những người
ngu dốt, đáng khinh hoặc tự lừa dối mình. Chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa
với thiếu tự do, nó còn đồng nghĩa với thiếu hàng hóa vật chất, bởi vì đây
chắc chắn là hậu quả của việc xóa bỏ thị trường.
BIỆN GIẢI:
Rất nhiều người phương Tây ủng hộ nhiệt tình cho những tổ chức vô
danh. Những người theo đạo Thiên Chúa chẳng hạn. Không có gì lạ khi
những người tử tế giàu lòng trắc ẩn ủng hộ toàn bộ sự khai hóa văn minh
ngập chìm trong máu. Những người tự do, những người bảo thủ cùng với rất
nhiều người khác nữa cũng vậy. Những nước tư bản hiện đại là kết quả của
một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách đáng ghê tởm –
hơn cả Trung Quốc thời kỳ của Mao hay Liên Xô thời kỳ của Stalin. Chủ
nghĩa tư bản cũng được tôi luyện trong máu và nước mắt; chỉ có điều nó đã
tồn tại đủ lâu để quên đi nỗi khủng khiếp ấy, thế nhưng chủ nghĩa Stalin và
chủ nghĩa Mao lại không được như vậy. Nếu Các Mác được tha thứ cho sự
lãng quên này, một phần là do ông đã sống ở thời những chế độ đó vẫn chưa
được hình thành.
Mike Davis viết trong cuốn Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời
Victoria (Late Victorian Holocausts) về hàng chục triệu người Ấn Độ, châu
Phi, Trung Quốc, Brazil, Triều Tiên, Nga và rất nhiều nước khác chết do nạn
đói, hạn hán và dịch bệnh mà hoàn toàn có thể tránh được cuối thế kỷ XIX.
Phần nhiều những thảm họa này là kết quả của tín điều thị trường tự do, ví
dụ như giá ngũ cốc tăng vọt làm cho lương thực vượt ra ngoài khả năng của
những người bình thường. Nhưng tất cả những điều cổ quái đó không phải
cổ xưa như dưới thời Nữ hoàng Victoria. Trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ
XX, số người trên thế giới sống dưới 2 đôla một ngày đã tăng lên đến gần
một trăm triệu[1]. Ngày nay, cứ ba trẻ em ở Anh thì có một trẻ em sống dưới
mức đủ ăn, trong khi những người quản lý ngân hàng lại ngúng nguẩy khi
mức thưởng hàng năm của họ giảm xuống còn một triệu bảng.
Nói đúng ra thì chủ nghĩa tư bản cũng mang lại cho chúng ta những hàng
hóa quý giá bên cạnh những thứ ghê tởm. Không kể tầng lớp trung lưu mà
Các Mác ca ngợi hết lời, chúng ta có lẽ sẽ thiếu đi một di sản về tự do, dân
chủ, quyền công dân, chủ nghĩa nam nữ bình quyền, nền cộng hòa, tiến bộ
khoa học và nhiều thứ khác nữa, cũng như thiếu một lịch sử về đình trệ kinh
tế, bóc lột sức lao động, chủ nghĩa phát xít, chiến tranh đế quốc và tài tử điện
ảnh Mel Gibson. Nhưng cái được gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa cũng có
những thành tựu của nó. Trung Quốc và Liên Xô đã đưa những công dân của
mình ra khỏi lạc hậu kinh tế để đến với thế giới công nghiệp hiện đại, nhưng
lại bằng cái giá khủng khiếp về con người; và cái giá lớn như vậy một phần
là do thái độ thù địch của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Thái độ thù địch đó
cũng đã buộc Liên Xô phải chạy đua vũ trang, làm cho nền kinh tế ốm yếu
của nước này lụn bại hơn, và cuối cùng sụp đổ.
Nhưng trong khi đó, cùng với các nước vệ tinh của mình, Liên Xô đã cố
gắng đạt được nhà ở, nhiên liệu, giao thông và văn hóa giá rẻ, việc làm đầy
đủ và những dịch vụ xã hội ấn tượng cho một nửa dân số châu Âu, cũng như
một mức độ công bằng và đầy đủ về vật chất mà không một quốc gia nào
trong số đó trước đây có thể sánh được. Nước Đông Đức cộng sản có thể
kiêu hãnh về một trong những hệ thống chăm sóc trẻ em tốt nhất thế giới.
Liên Xô giữ một vai trò quan trọng trong việc chống lại chủ nghĩa phát xít
tàn bạo, đồng thời làm lung lay các cường quốc thực dân. Nó cũng tăng
cường sự đoàn kết giữa các công dân của mình mà các quốc gia phương Tây
dường như chỉ có thể giành được khi họ giết chóc người bản xứ ở những
mảnh đất khác. Nói đúng ra thì tất cả những cái đó không thay thế được tự
do, dân chủ và rau tươi trong cửa hàng, nhưng không thể bỏ qua những giá
trị đó. Khi mà tự do và dân chủ cuối cùng là cứu cánh cho khối Xô viết, thì
họ đã làm điều này dưới hình thức một liệu pháp sốc kinh tế, một dạng cướp
ngày được gọi một cách mĩ miều là tư nhân hóa, khiến hàng chục triệu người
thất nghiệp, nghèo đói và bất bình đẳng tăng nhanh một cách lạ lùng, dịch vụ
chăm sóc trẻ em miễn phí biến mất, phụ nữ bị mất quyền bình đẳng, mạng
lưới phúc lợi xã hội sụp đổ, những thứ mà trước đây đã phục vụ rất tốt cho
những đất nước này.
Mặc dù vậy, thành tựu của chủ nghĩa cộng sản không thể bù đắp được
những mất mát. Có thể, một hình thức nhà nước độc tài nào đó là không thể
tránh khỏi trong tình trạng t...
 





